Tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang, hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe được thực hiện qua bảng truyền thông giáo dục sức khỏe, qua họp Hội đồng NB cấp khoa, qua hoạt động tư vấn và tham vấn trực tiếp của bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên với người bệnh hoặc thân nhân của người bệnh. Để từng bước nâng cao chất lượng KCB trong thời gian tới, nên tôi chọn chủ đề “Nâng cao hiệu quả hoạt động Truyền thông giáo dục sức khỏe cho người cao tuổi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang” làm chuyên đề báo cáo của mình.
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG - GIÁO DỤC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH KIÊN GIANG
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: THỊ MỸ HƯỜNG LỚP BỒI DƯỠNG CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP VIÊN CHỨC Y TẾ
ĐIỀU DƯỠNG HẠNG III
Cần Thơ
Trang 2-MỤC LỤC
Danh mục viết tắt
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ
I Đặt vấn đề 1
II Mục đích 1
III Nội dung 2
3.1 Giới thiệu các luận điểm chính 2
3.2 Cơ sở thực tiễn 9
3.3 Bàn luận 11
IV Kết luận và khuyến nghị 12
4.1 Kết luận 12
4.2 Khuyến nghị 13
V Tài liệu tham khảo 14
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
Bệnh viện BV
Bộ Y tế BYTChăm sóc người bệnh CSNBChăm sóc người bệnh toàn diện
CSNBTD
Điều dưỡng ĐDĐiều dưỡng viên ĐDVNhân viên y tế NVYTNgười bệnh NBNgười nhà người bệnh NNNBThông tư TTGiáo dục sức khỏe GDSK
Trang 5I ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục sức khỏe cho người bệnh là một trong những nhiệm vụ thiết yếu củaĐiều dưỡng trong công tác chăm sóc người bệnh Giáo dục sức khỏe được định nghĩa làquá trình giúp nhân dân tự thay đổi những hành vi có hại cho sức khỏe để chấp nhận thựchiện những hành vi tăng cường sức khỏe Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe làhoạt động mang tính xã hội, được thực hiện thường xuyên, liên tục và lâu dài nhằm tácđộng đến kiến thức của đối tượng về vấn đề sức khỏe, thái độ của đối tượng đối với vấn
đề sức khỏe và thực hành hay hành vi ứng xử của đối tượng để giải quyết vấn đề sứckhỏe, bệnh tật Từ đó, giáo dục sức khỏe giúp mỗi cá nhân và cộng đồng lựa chọn đượccách giải quyết vấn đề sức khỏe thích hợp để người bệnh có thể tự phòng bệnh, theo dõichăm sóc, điều trị và phòng các biến chứng sức khỏe để nâng cao sức khỏe
Năm 2011, Bộ Y tế ban hành “Hướng dẫn công tác Điều dưỡng về chăm sócngười bệnh trong bệnh viện” Trong đó, việc tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe lànhiệm vụ đầu tiên trong 12 nhiệm vụ chăm sóc người bệnh Thông tư nêu rõ bệnh việncần có qui định rõ ràng và tổ chức các hình thức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏephù hợp; Người bệnh nằm viện phải được Điều dưỡng viên, hộ sinh viên tư vấn, giáo dụcsức khỏe, hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện và saukhi ra viện.Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế cũng có các tiểu mụcđánh giá việc hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe cho người bệnh
Tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang, hoạtđộng truyền thông giáo dục sức khỏe được thực hiện qua bảng truyền thông giáo dục sứckhỏe, qua họp Hội đồng NB cấp khoa, qua hoạt động tư vấn và tham vấn trực tiếp củabác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên với người bệnh hoặc thân nhân của người bệnh Để từng
bước nâng cao chất lượng KCB trong thời gian tới, nên tôi chọn chủ đề “Nâng cao hiệu
quả hoạt động Truyền thông - giáo dục sức khỏe cho người cao tuổi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang” làm chuyên đề báo cáo của mình.
II MỤC ĐÍCH
Đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông - giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân nộitrú tại khoa chấn thương chỉnh hình hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chấtlượng hoạt động giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân nội trú tại khoa chấn thương chỉnhhình thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang, góp phần nâng cao chất lượng bệnh viện,
Trang 6tăng sự hài lòng người bệnh, tăng uy tính và độ tin cậy của bệnh nhân đối với nhân viên ytế.
III NỘI DUNG
3.1 Giới thiệu các luận điểm chính
3.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Sức khỏe là một trạng thái thoảimái toàn diện về thể chất, tinh thần xã hội chứ không chỉ là không cóbệnh hay thương tật” Sức khỏe là vốn quí nhất của con người, là nhân
tố cơ bản trong toàn bộ sự phát triển của xã hội Có nhiều yếu tố tácđộng đến sức khỏe của mỗi người: yếu tố xã hội, văn hóa, kinh tế, môitrường và yếu tố sinh học như di truyền thể chất Muốn có sức khỏe tốtphải tạo ra môi trường sống lành mạnh và đòi hỏi có sự tham gia củamỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng cho các hoạt động bảo vệ và nângcao sức khỏe, đẩy mạnh công tác giáo dục sức khoẻ là biện pháp quantrọng giúp người dân có kiến thức, bảo vệ và nâng cao về sức khỏe
Truyền thông – Giáo dục sức khỏe đã được đề cập đến trong các tài liệucủa WHO Sự tập trung của TT- GDSK là vào lý trí, tình cảm và cáchành động nhằm thay đổi hành vi có hại, thực hiện hành vi có lợi manglại cuộc sống khỏe mạnh, hữu ích TT- GDSK cũng là phương tiện nhằmphát triển ý thức con người, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh tronggiải quyết vấn đề sức khỏe của cá nhân và cộng đồng TT- GDSK khôngphải chỉ là cung cấp thông tin hay nói với mọi người những gì họ cầnlàm cho sức khỏe của họ mà là quá trình cung cấp kiến thức, tạo điềukiện thuận lợi về môi trường để nâng cao nhận thức, chuyển đổi thái độ
về sức khỏe và thực hành hành vi sức khỏe lành mạnh
Truyền thông – Giáo dục sức khỏe là làm cho mọi người từ bỏ các hành
vi có hại và thực hành các hành vi có lợi cho sức khỏe, đây là một quátrình lâu dài, cần phải tiến hành theo kế hoạch, kết hợp nhiều phươngpháp khác nhau, với sự tham gia của ngành Y tế và các ngành khác.Trong TT- GDSK chúng ta quan tâm nhiều đến vấn đề là làm thế nào
để mọi người hiểu được các yếu tố có lợi và yếu tố có hại cho sức khỏe,
Trang 7từ đó khuyến khích, hỗ trợ nhân dân thực hành hành vi có lợi cho sứckhỏe và từ bỏ các hành vi có hại.
Truyền thông – Giáo dục sức khỏe giống như giáo dục chung, là quá trình tácđộng có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người, nhằm nâng caokiến thức, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sứckhỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng TT-GDSK là một quá trình cần được tiến hànhthường xuyên, liên tục, lâu dài, kết hợp nhiều phương pháp Hoạt động TT-GDSK khôngphải chỉ đơn thuần là phát đi các thông tin hay thông điệp về sức khỏe, hay cung cấp thậtnhiều thông tin về sức khỏe cho mọi người, mà là quá trình tác động có mục đích, có kếhoạch nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và cách thực hành của mỗi người nhằm nâng caosức khỏe cho họ và cho cả cộng đồng Hoạt động TT-GDSK thực chất là tạo ra môitrường hỗ trợ cho quá trình thay đổi hành vi sức khỏe của mỗi người, nhằm đạt được tìnhtrạng sức khỏe tốt nhất có thể được TTGDSK cũng là phương tiện hỗ trợ nhằm phát triển
ý thức con người, phát huy tính tự lực cánh sinh và chủ động phòng ngừa, giải quyết vấn
đề sức khỏe của cá nhân và cộng đồng Khả năng duy trì: về mạng lưới, nguồn lực vàthực hiện hoạt động TT-GDSK
3.1.2 Vai trò của truyền thông giáo - dục sức khỏe trong chăm sóc sức khỏe người bệnh
Công tác truyền thông, cung cấp thông tin y tế đóng vai trò hết sức quan trọngtrong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân TT-GDSK góp phầnđịnh hướng dư luận xã hội về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, phổbiến kiến thức giúp người dân có nhận thức và hành vi đúng trong việc phòng, chốngdịch, bệnh và nâng cao sức khỏe mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng
Ở nhiều nơi trên Thế giới, các bệnh nhiễm trùng vẫn tiếp tục đe dọa sức khoẻ củangười dân, đặc biệt là trẻ nhỏ, người già gây tổn hại sức khỏe, kinh tế và phát triển xãhội Sốt rét, tiêu chảy và những bệnh nhiễm trùng khác là những vấn đề sức khoẻ chủ yếu
đe dọa những người nghèo trên khắp thế giới Tình trạng đau đớn, tử vong sớm, chi phí y
tế có thể tránh được bằng cách thay đổi tích cực trong thực hành hành vi sức khỏe lànhmạnh ở nhiều cấp độ
Trong suốt hai mươi năm qua, đã có sự thay đổi lớn trong lĩnh vực y tế công cộng,các tổ chức, cá nhân quan tâm đến dự phòng bệnh tật và tử vong thông qua việc thay đổilối sống và tham gia vào các quá trình sàng lọc phát hiện sớm bệnh tật Những hoạt động
Trang 8dự phòng trong đó có TT-GDSK đã góp phần làm tăng tuổi thọ của người dân, ngay cảvới những người mắc bệnh như ung thư, đái tháo đường Trên thế giới những bệnh nhiễmtrùng và suy dinh dưỡng vẫn gia tăng, bên cạnh đó lại xuất hiện ngày càng nhiều nhữngbệnh thuộc nhóm không lây nhiễm
Những vấn đề này làm tăng nhu cầu mới trong hoạt động GDSK Nếu GDSK được thực hiện hiệu quả sẽ làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong
TT-ở các nước đang phát triển, nhiều chương trình y tế TT-ở nhiều nơi trên thế giới đã đề cậpđến vai trò của TT-GDSK Ngày 25/10/2017 Ban Chấp hành Trung ương đã đưa ra giảipháp nhằm đạt được các chỉ tiêu CSSK là không thể không có nâng cao nhận thức vàthay đổi hành vi sức khỏe, đây là hiệu quả của công tác TTGDSK
Muốn tăng cường sức khoẻ, phòng chống bệnh tật cần phải thay đổi một số lốisống và hành vi của con người Có nhiều yếu tố cấu thành hành vi, đó là kiến thức, thái
độ, niềm tin và cách thực hành của con người trong những điều kiện nhất định Lối sống
là tập hợp các hành vi liên quan đến sức khoẻ như thực hành vệ sinh cá nhân, thói quen
ăn uống, tập quán sinh hoạt trong cộng đồng, nếp sống sinh hoạt, kiểu nhà ở, giao lưu bạn
bè, xã hội Có những hành vi được thực hành qua nhiều thế hệ trở thành phong tục tậpquán, các hành vi này được nhiều người chia sẻ trong cộng đồng, được duy trì thực hiệntrong thi gian dài Nhiều phong tục tập quán trở thành niềm tin trong cộng đồng và là lốisống đặc trưng của từng cộng đồng
3.1.3 Mục đích của truyền thông-giáo dục sức khỏe
Là phương pháp truyền đạt và hướng dẫn cho các đối tượng tham dự có kiến thức
có thể: tự chăm sóc bản thân và gia đình, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của cộng đồngbằng những nỗ lực của chính bản thân mình Cụ thể là: Tự quyết định và có trách nhiệm
về những hoạt động và biện pháp bảo vệ sức khỏe của mình Tự giác chấp hành và duy trìcác lối sống lành mạnh, từ bỏ những thói quen, tập quán có hại cho sức khỏe Biết sửdụng dịch vụ y tế có thể có được để giải quyết các nhu cầu sức khỏe và vấn đề sức khỏecủa mình
3.1.4 Tác động của truyền thông giáo dục sức khỏe
Thay đổi hành vi sức khỏe, tạo lập hành vi có lợi cho sức khỏe là bản chất quyếtđịnh trong GDSK Nội dung chi tiết trình bày trong bài hành vi sức khỏe, quá trình thayđổi hành vi sức khỏe riêng
Trang 9Giáo dục sức khỏe là một quá trình truyền thông GDSK là một quá trình truyềnthông, bao gồm những tác động tương hỗ thông tin hai chiều giữa người GDSK và đốitượng được GDSK.
Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tác động vào 3 lĩnh vực của đối tượngđược TT-GDSK: Kiến thức của đối tượng về vấn đề sức khoẻ, thái độ của đối tượng vớivấn đề sức khỏe, thực hành hay cách ứng xử của đối tượng để giải quyết vấn đề sức khỏe,nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe
Trang 103.1.5 Các quy định tổ chức thực hiện truyền thông, giáo dục sức khỏe
Điều 4 Thông tư 07/2011/TT-BYT ban hành ngày 26/01/2011 hướng dẫn công tácđiều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện qui định về công tác Tư vấn, hướngdẫn giáo dục sức khỏe, để thực hiện được nhiệm vụ cần có những quy định cụ thể
Đối với Bệnh viện:
Có quy định và tổ chức các hình thức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe phùhợp
Người bệnh nằm viện được điều dưỡng viên, hộ sinh viên tư vấn, giáo dục sứckhỏe, hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện và sau khi
ra viện
Có bộ tài liệu GDSK đã được thông qua hội đồng khoa học của bệnh viện để sửdụng cho công tác TT- GDSK trong toàn bệnh viện
Có chương trình tập huấn cho ĐDV, hộ sinh về TT-GDSK
Cung cấp đầy đủ các phương tiện phục vụ cho công tác GDSK
Qui định thời gian thực hiện trong toàn bệnh viện
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác TT-GDSK
Có các hình thức khen thưởng đối với các tập thể và cá nhân thực hiện tốt
Đối với Khoa:
Thực hiện đầy đủ các qui định của bệnh viện
Có lịch phân công nhân viên thực hiện các buổi TT-GDSK
Cung cấp đầy đủ các phương tiện, tài liệu phục vụ cho công tác TT-GDSK
Tổ chức môi trường thực hiện TT-GDSK hiệu quả
Có bảng kiểm đánh giá nhận thức, kiến thức của người tham dự sau mỗi buổi thựchiện TT-GDSK
Tổng kết đánh giá hàng tháng và đề xuất các hình thức khen thưởng các cá nhânthực hiện tốt
3.1.6 Các phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe
Phương pháp TT-GDSK gián tiếp
Là phương pháp mà người làm giáo dục không tiếp xúc trực tiếp với đối tượnggiáo dục, các nội dung được chuyển tải tới đối tượng thông qua các phương tiện thông tinđại chúng Đây là phương pháp hiện nay vẫn được sử dụng khá rộng rãi trên thế giớicũng như ở nước ta
Trang 11Phương pháp này có tác dụng tốt khi chúng ta cung cấp, truyền bá các kiến thứcthông thường về bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân một cách có hệ thống Tuynhiên, phương pháp này đòi hỏi phải đầu tư ban đầu, người sử dụng có kỹ thuật cao đểvận hành, sử dụng các phương tiện Phải xây dựng kế hoạch khá chặt chẽ, kết hợp với cácban ngành đoàn thể có liên quan để đưa chương trình TT-GDSK vào thời gian hợp lý.
Phương pháp gián tiếp chủ yếu là quá trình thông tin một chiều, do đó thường tácđộng đến bước một là nhận ra vấn đề mới và bước hai là quan tâm đến hành vi mới trongquá trình thay đổi hành vi sức khoẻ Các phương tiện thông tin đại chúng thường được sửdụng trong phương pháp giáo dục sức khoẻ gián tiếp là:
Đài phát thanh
Vô tuyến truyền hình – Video
Tài liệu in ấn (Báo, tạp chí; Pano, áp phích; Tranh lật hay sách lật; Tờ rơi)
Bảng tin
Phương pháp TT-GDSK trực tiếp:
Cán bộ thực hiện giáo dục sức khoẻ trực tiếp tiếp xúc với đối tượng giáo dục sứckhoẻ Người giáo dục có thể nhanh chóng nhận được các thông tin phản hổi từ đối tượnggiáo dục nên tính điều chỉnh cao trong phương pháp này Thực hiện TT-GDSK trực tiếpluôn có hiệu quả tốt nhất trong việc giúp đỡ đối tượng học kỹ năng và thay đổi hành vi
Đối tượng cần được TT-GDSK là:
Mọi thành viên trong cộng đồng, trong xã hội;
Người bệnh và người chăm sóc người bệnh trong bệnh viện và cơ sở y tế
Để thực hiện tốt phương pháp này, người làm TT-GDSK cần phải có:
Kiến thức phù hợp với lĩnh vực mình giáo dục;
Phương pháp GDSK phù hợp với đối tượng cần giáo dục;
Lòng kiên trì;
Tính thuyết phục;
Phương pháp TT-GDSK trực tiếp có thể phối hợp với các phương tiện giáo dụcsức khoẻ gián tiếp để nâng cao hiệu quả của buổi TT-GDSK
3.1.7 Hướng dẫn tổ chức một buổi truyền thông – giáo dục sức khỏe
Chuẩn bị trước khi TT-GDSK:
Chuẩn bị địa điểm thực hiện:
Trang 12Lựa chọn địa điểm yên tĩnh, thoáng mát, dễ nhìn, dễ nghe, đủ chỗ ngồi cho các đốitượng Đảm bảo đủ các yếu tố vật lý như ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ trong phòng
Chuẩn bị về phía người nghe:
Số lượng người nghe: tuỳ theo chủ đề, nhưng không nên quá đông (15-20 người).Thông báo cho người nghe về mục đích và nội dung của buổi nói chuyện GDSK Khuyến khích mọi người tham gia đầy đủ
Chuẩn bị về phía cán bộ thực hiện TT-GDSK:
Xác định chủ đề: nên tìm hiểu trước đối tượng tham dự để lựa chọn chủ đề phùhợp
Lựa chọn các phương pháp trình bày phù hợp, nên sử dụng các tranh ảnh, các môhình minh hoạ
Sắp xếp thời gian hợp lý Thời gian của buổi nói chuyện giáo dục sức khoẻ tạikhoa/phòng nên kéo dài khoảng 15 – 20 phút
Chuẩn bị đầy đủ hình ảnh và dụng cụ minh hoạ Nên chuẩn bị một số ví dụ cụ thể
để minh chứng, làm rõ nội dung trình bày
Trang phục chỉnh tề, phù hợp
Chuẩn bị kỹ nội dung theo trình tự lôgic của vấn đề Phải có kiến thức sâu và đầy
đủ liên quan đến nội dung của buổi nói chuyện
Nên có mặt tại địa điểm tổ chức buổi nói chuyện giáo dục sức khoẻ trước 10 – 15phút để kiểm tra lại các trang thiết bị phục vụ cho buổi nói chuyện
Thực hiện TT-GDSK:
Cách bắt đầu nói chuyện:
Người thực hiện TT-GDSK Chào hỏi, làm quen với mọi người
Giới thiệu bản thân Có thể mời người nghe tự giới thiệu về mình để tạo không khíthân mật
Giới thiệu chủ đề của buổi nói chuyện Nêu lợi ích và tầm quan trọng của buổi nóichuyện để tạo sự chú ý theo dõi của người nghe
Nêu rõ mục tiêu mà người nghe cần đạt được sau buổi nói chuyện
Chỉ nên bắt đầu khi người nghe đã im lặng Nên bắt đầu bằng những vấn đề màngười nghe đã biết
Cán bộ thực hiện TT-GDSK:
Nói to, rõ ràng để mọi người tham dự nghe được