1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận - Luật Kinh Tế - Đề Tài : Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

17 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Tiểu Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 41,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Trong một vài năm trở lại đây, Nhà nước đã thực hiện đường lối đổi mới cơ chế kinh tế với sự thừa nhận đa hình thức sở hữu, đa hình thức kinh doanh Quá trình đổi mới kinh tế ở nướ ta hiện n[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU Trong một vài năm trở lại đây, Nhà nước đã thực hiện đường lối đổi mới cơ chế kinh tế với sự thừa nhận đa hình thức sở hữu, đa hình thức kinh doanh.Quá trình đổi mới kinh tế ở nướ ta hiện nay đã đạt được những thành tựu nổi bật Nhưng quá trình đó càng đi vào chiều sâu và chiều rộng thì càng lộ rõ những vấn đề mới cần phải giải quyết Tự do, năng động, sang tạo, nhạy bén là thuộc tính khách quan và là yêu cầu của kinh tế thị trường… Hơn thế nữa, trong giai đoạn này nước ta đac thực sự hội nhập vào nền kinh tế quốc tế thì càng cần thiết đòi hỏi Nhà nước phải có một khung pháp lý Thương mại hoàn chỉnh để điều chỉnh các hoạt động đó đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Trang 2

1 KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng thương mại.

Luật thương mại được Quốc hội thong qua ngày 14/6/2005 không

có định nghĩa riêng về hợp đồng thương mại, nhưng đề cập đến các loại hợp đồng cụ thể trong hoạt động thương mại

Hợp đồng thương mại được hiểu là thỏa thuận giữa các thương nhân( hoặc một bên là thương nhân) về việc thực hiện một hay nhiều hành vi của hoạt động thương mại nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận

Hợp đồng thương mại có các đặc điểm của các hợp đồng trong hoạt động kinh doanh nói chung và có những đặc điểm riêng của các hoạt động thương mại

Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng thương mại là thương

nhân( hoặc một bên là thương nhân)

Thứ hai, hình thức của hợp đồng thương mại có thể bằng lời nói,

bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Thông điệp dữ liệu cũng được coi là hình thức văn bản

Thứ ba, mục đích của hợp đồng thương mại là lợi nhuận, mục

đích lợi nhuận luôn được thể hiện hàng đầu trong các hợp đồng thương mại

Thứ tư, nội dung của hợp đồng thương mại là xác định quyền và

nghiac vụ của các bên trong quan hệ cụ thể khi tiến hành hoạt động thương mại Khái niệm hoạt động thương mại theo Luật thương mại

2005 đã có sự mở rộng là hầu hết các lĩnh vực

1.2 Các loại hợp đồng thương mại

Theo LTM hiện hành, hợp đồng thương mại bao gồm 2 nhóm là hợp đồngmua bán và hợp đồng cung ứng dịch vụ

Trong mỗi nhóm hoạt động thương mại, chế độ pháp lý về hợp đồng có những quy chế cụ thể cho từng loại hợp đồng như mua hàng hóa không có yếu tố quốc tế, mua hang hóa quốc tế, mua bán hang hóa qua

Sở giao dịch hàng hóa, các hợp đồng trong hoạt động xúc tiến thương mại( khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại), hợp đồng trong hoạt động trung gian thương mại (đại diện cho thương mại, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa đại lý thương mại) và các hợp đồng trong các hoạt động cụ thể khác (gia công, đấu giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch

vụ, dịch vụ logistics, giám định, cho thuê hàng hóa, nhượng quyền thương mại)

2 KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Trang 3

Đặt trước yêu cầu hội nhập của đất nước, ngày 14/11/2005 Quốc hội đã ban hành Luật thương mại số 36/2005- QH 11 quy định về hoạt động thương mại (chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thay thế Luật thương mại năm 1997) nhằm tạo ra hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho các thương nhân trong hoạt động thương mại

Cũng giống như Luật thương mại năm 1997, Luật thương mại năm 2005 cũng quy định khá đầy đủ và chi tiết về mua bán hàng hóa cũng như hợp đồng mua bán hàng hóa

2.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

1 Khái niệm, đặc điểm

Mua bán hàng hóa: là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận (Điều 3- Luật Thương Mại năm 2005)

Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức là Hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa

có bản chất pháp lý chung là hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vự trong mua bán Dù Luật Thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về Hợp đồng mua bán hàng hóa, song có thể xác định bản chất của pháp lý của Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại dựa trên cơ sở của hợp đồng dân sự về hợp đồng mua bán tài sản Nên có thể khẳng định Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản Do đó chúng ta có thể hiểu Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng giao kết giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với bên khác không phải là thương nhân trong việc mua bán tất cả các động sản, kể cả động sản được hình thành tương lai và những vật gắn liền với đất đai

Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, Hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định xuất phát từ bản chất thương mại của hàng vì mua bán hàng hóa sau đây:

Thứ nhất: Hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu được thiết lập

giữa các thương nhân Theo khoản 1- Điều 6- Luật thương mại năm

2005 “thương nhan bao gồm tổi chức kinh tế được thành lập hợp pháp,

cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Thương nhân có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài Ngoài ra các tổ chức, cá nhân không phải

là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể Hợp đồng mua bán hàng

Trang 4

hóa và khi chủ thể lựa chọn Luật thương mại để áp dụng thì hoạt động của các bên chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật thương mại

Thứ hai: về hình thức Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được

thiết lập theo hình thức mà hai bên thể hiện sự thỏa thuân mua bán hàng hóa giữa các bên Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức bằng lời nói hoặc bằng văn bản hoặc bằng một hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong trường hợp nhất định pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập Hợp đồng mua bán hàng hóa bằng hình thức văn bản

Thư ba: về đối tượng: Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng

là hàng hóa Theo Luật thương mại năm 2005, thì hàng hóa bao gồm “tất

cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai (Khoản 2- Điều 3- Luật thương mại năm 2005)” Với cách hiểu về hàng hóa như vậy, hàng hóa là đối tượng mua bán có thể là hàng hóa sẽ có trong tương lai, hàng hóa có thể là động sản hoặc bất đống sản được phép lưu thông trong thương mại

Thứ tư: về nội dung: Hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện quyền

và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ mua bán, theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán Hành vi của các bên trong quan hệ Hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất thương mại Mục đích thông thường của các bên là lợi nhuận

2 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa.

Căn cứ vào phạm vi của hợp đồng có thể chia làm hai loại đó là:

 Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước: loại hợp đồng này đương nhiên sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật thương mại năm 2005 và các luật chuyên ngành khác

 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: các bên có thể thỏa thuận áp dụng, có thể là Luật của Việt Nam hay luật của phía đối tác hay cũng có thể là luật của một nước thứ ba Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng có thể chia ra hai loại:

 Hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa

 Hợp đồng mua bán hàng hóa không qua sở giao dịch hàng hóa

Cần lưu ý đối với loại hợp đồng mua bán qua cơ sở Giao dịch hàng hóa:

Trang 5

Thứ nhất: hàng hóa giao dịch tai cơ sở giao dịch phải thuộc danh

mục hàng hóa giao dịch tại cơ sở giao dịch hàng hóa do Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định

Thứ hai: theo Điều 69 của Luật thương mại năm 2005, thương

nhân môi giới qua sở giao dịch về hàng hóa chỉ được phép hoạt động tại

sở giao dịch hàng hóa khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, thương nhân mua bán qua sở giao dịch hàng hóa và chỉ được phép thực hện các hoạt động môi giới mua bán qua sở giao dịch hàng hóa và không được phép là một bên của Hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa

Thứ ba: theo Điều 70 của Luật thương mại năm 2005, hành vi bị

cấm đối với thương nhân môi giới hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa: lôi kéo khách hàng ký kết hợp đồng bằng cách hứa bồi thường toàn bộ hoặc một phần thiệt hại phát sinh hoặc đảm báo lợi nhuận cho khách hàng Chao hàng hoặc môi giới mà không có hợp đồng với khách hàng

Sử dụng giá giả tạo hoặc các biện pháp gian lận khác khi môi giới cho khách hàng Từ chối hoặc tiến hành chậm trễ một cách bất hợp lý việc môi giới các hợp đồng theo các nội dung đã thỏa thuận với khách hàng

3 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa.

Nội dung của hợp đồng là tất cả những gì mà các bên thỏa thuận

và pháp luật quy định đối với một hợp đồng Một Hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ có giá trị pháp lực khi thỏa mãn tối thiểu những điều kiện về nội dung mà pháp luật quy định Khi thiếu một trong những nội dung đó thì hợp đồng không thể phát sinh hiệu lực Trong thực tế, hậu quả xấu đã xảy ra xuất phát từ điểm các bên trong hợp đồng không quy định rõ ràng hoặc đầy đủ những nội dung của hợp đồng dẫn tới có sự tranh chấp xảy

ra, các bên sẽ không có chứng cứ hoặc chứng cứ không rõ ràng và những thiệt hại không đáng có có thể xảy ra đối với tất cả các bên và không thể lường trước được

Luật thương mại năm 2005 đã không quy định về nội dung Hợp đồng mua bán hàng hóa Trên cơ sở việc xác lập mối quan hệ với Bộ luật Dân sự, khi xem xét vấn đề nội dung của Hợp đồng mua bán hàng hóa, chúng ta có thể dựa trên các quy định của Bộ luật Dân sự, theo đó, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây:

Đối tượng của hợp đồng: trong mua bán hàng hóa, đối tượng của

hợp đồng là một hàng hóa, nhất định đấy là điều khoản cơ bản của một Hợp đồng mua bán hàng hóa, mà khi thiếu nó, Hợp đồng mua bán hàng hóa không thể hình thành được do người ta không thể hình dung được

Trang 6

các bên tham gia hợp đồng nhằm mục đích gì, trao đổi cái gì Đối tượng của Hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định thông qua tên thương mại để tránh có sự hiểu sai lệch về đối tượng hợp đồng

Số lượng hàng hóa: Điều khoản về số lượng hàng hóa xác định

về mặt lượng đối với đối tượng của hợp đồng Các bên có thể thỏa thuận

và ghi trong hợp đồng về một số lượng hàng hóa cụ thể hoặc số lượng hàng hóa được xác định bằng đơn vị đo lường theo tập quán thương mại như chiếc, bộ, tá, mét, mét vuông, mét khối hay bằng một đơn vị nào đó tùy theo tính chất của hàng hóa

Chất lượng hàng hóa: chất lượng hàng hóa giúp xác định chính

xác đối tượng của hợp đồng, cái mà người mua biết tường tận với những yêu cầu được tính năng, tác dụng, quy cách, kích thước, công suất, hiệu quả xác định cụ thể chất lượng của sản phẩm thường cũng là cơ sở để xác định giá cả một cách tốt nhất Trách nhiệm của các bên thường khác nhau tương ứng với mỗi phương pháp xác định chất lượng được thỏa thuận Thong thường có các biện pháp xác định chất lượng như dựa vào mẫu hàng, dựa vào các tiêu chuẩn, dựa vào mô tả tỉ mỉ, dựa vào nhãn hiệu hàng hóa hoặc điều kiện kỹ thuật

Giá cả hàng hóa: các bên có quyền thỏa thuận giá cả và phải

được ghi cụ thể trong hợp đồng hoặc nếu không được ghi cụ thể thì phải xác định rõ phương hướng xác định giá, vì đây là điều khoản quan trọng trong các cuộc thương lượng để đi đến ký hợp đồng Để mang lại lợi ích cho cả hai bên, các bên cũng có thể thỏa thuận với nhau lựa chọn hình thức giảm giá phù hợp với hợp đồng

Phương thức thanh toán: phương thức thanh toán là các cách

thức mà bên mua và bên bán thỏa thuận, theo đó bên mua phải thanh toán cho bên bán tiền hàng đã mua theo một phương thức nhất định Có thể có nhiều phương thức thanh toán nhưng việc lựa chọn phương thức nào cũng xuất phát từ nhu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đầy đủ

và yêu cầu của người mua là nhận được hàng đúng số lượng, chất lượng, thời hạn như đã thỏa thuận cũng như không có rủi ro trong thanh toán Việc chọn phương thức thanh toán trong hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên

Thời gian và địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng: thời

gian thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian mà bên bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo đúng đối tượng, đúng địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng đúng thời gian, địa điểm và trả tiền cho bên bán Các bên có thể thỏa thuận với nhau sao cho hợp lý căn cứ vào tình hình thực tiễn, khả năng thực hiện

Trang 7

của mỗi bên Địa điểm giao hàng có thể do hai bên thỏa thuận, phù hợp với điều kiện thực tế, thuận tiện và có lợi cho cả hai bên Trong mua bán hàng hóa, việc giao nhận hàng hóa có thể thực hiện trực tiếp đối với người mua hoặc thông qua người thứ ba Vì vậy các bên phải thỏa thuận

rõ thời hạn và địa điểm, từ đó xác định quyền và nghĩa vụ mỗi bên cũng như xác định rủi ro mà mỗi bên phải gánh chịu

I Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa

Về mặt lí thuyết một hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được hình thành theo nhiều cách thức khác nhau, theo đó chứng tỏ giữa các bên đã được thỏa thuận Thời điểm giao kết hàng hóa là thời điểm mà các bên

đã đạt được sự thỏa thuận Trong quá trình xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa các vấn đề pháp lí cần được làm rõ là: đề nghị giao tiếp hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao tiếp hợp đồng, thời điểm giao tiếp hợp đồng Trong thương mại hợp đồng được giao kết theo các nguyên tắc quy định cho hợp đồng dân sự nói chung

1) Chủ thể giao tiếp hợp đồng mua bán hàng hóa

a) Chủ thể là tư nhân:

Để xác định một thỏa thuận có phải là hợp đồng mua bán hàng hóa hay không thì việc trước tiên là phải xác định một bên trong quan hệ hợp đồng đó có phải là tư nhân hay không, sau đó mới xét đến đối tượng của hợp đồng Thương nhân thường là các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập và có đăng kí kinh doanh

Luật thương mại 2005 cũng thừa nhận thương nhân thông qua việc không đặt điều kiện đăng kí kinh doanh là một trong các điều kiện bắt buộc để được công nhận nhưng đối với trường hợp chưa đăng kí kinh doanh thương nhân vẫn phải chịu về mọi hoạt động của mình Quy định này đã được giải quyết nhưng vấn đề đặt ra trong thực tế là người không dằn kí kinh doanh nhưng có hành vi kinh doanh thì có được coi là thương nhân hay không? Những quy định này có phần không rõ ràng vì

nó không giới hạn trách nhiệm của htuowng nhân trong phạm vi hoạt động thương mại Vì vậy một tổ chức các nhân trước khi đăng kí kinh doanh tiến hành các hành vi không dằm mục đích sinh lợi vẫn có thể phải chịu trách nhiệm như thương nhân

Thương nhân sẽ không bao gồm hộ gia đình, tổ chức hợp tác vì khi được thừa nhận là chủ thể của luật dân sự, có quyền kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh, ca thể trong hộ gia đình, tổ chức hợp tác không

Trang 8

phải tổ chức kinh tế, cũng không phải cá nhân Thương nhân thường có thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài có thể là cá nhân, pháp nhân, hoặc chủ thể khác việc xác định thương nhân nước ngoài phải căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó mang quốc tịch thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập hoặc đăng

kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận (khoản 1 điều 16-LTM2005)

 Thương nhân là cá nhân

Để được công nhận là thương nhân thì một cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên như một nghề nghiệp Cá nhân cũng có thể trở thành tư nhân ngay cả khi hoạt đọng thương mại một cách độc lập thường xuyên như mmotj nghề nghiệp mà chưa đăng kí kinh doanh

Thương nhân là cá nhân sẽ bao gồm: cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh

Trong hợp đòng thương mại do thương nhân phải chịu trách nhiệm đầy đủ vvef hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau đây

sẽ không được công nhận là thương nhân: người không có năng luacj hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế hành vi dân sự, người đang bị truy cứu trách nhiệm hành vi dan sự, người đang phài chấp nhận chịu hình phạt tù, người đang trong thời gian

bị tòa án tước quyền nghề vì các tội, buôn bán hàng cấm, kinh doanh trái phép và các tội khác theo quy định của pháp luật

 Thương nhân là tổ chức

Trong thực tiễn hoạt động thương mại, thương nhân là tổ chức chủ yếu của hoạt động mua bán hàng hóa, tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp nhằm mục đích hoạt động thương mại một cahs độc lập thương xuyên và có điều kiện kinh doanh sẽ được coi là thương nhân Một tổ chức được công nhận là các pháp nhân khi có đủ các đièu kiện quy định tại điều luật 84-BLDS2005 Không phải tất cả các tổ chức được coi là pháp nhân đều có thể trở thành thương nhân mà chỉ có pháp nhân nào là tổ chức kinh doanh được thành lập để hoạt động thương mại mói được coi là thương nhân Pháp nhân là tổ chức kinh tế gồm: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty TNHH

b) Chủ thể không phải thương nhân:

Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức cá nhân, không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể chủa

Trang 9

hợp đồng thương nhân Nghĩa là một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại độc lập và thường xuyên còn bên kia là chủ thể không cần điều kiện nói trên khác với bên là thương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực hành vi để tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật Đó có thể là cá nhân hay tổ chức, cơ quan có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, cũng có thể là hộ gia đình, ttor hợp tác và không hoạt động thương mại độc lập và thường xuyên như một nghề

2) Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa

Đối tượng của HĐMBHH là hàng hóa Hàng hóa là những sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhắm mục đích trao đổi để thỏa mãn nhu cầu của con ngườ Hàng hóa có thể là vật, là sức lao động của con người, là các quyền tài sản Khoản 2-điều 3 LTM2005 đã mở rộng hàng hóa hơn Theo đó hnangf hóa gồm các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và các vật gắn liền với đất đai Tuy nhiên khái niệm về hàng hóa vẫn còn nhiều hạn chế, chúng ta dễ dàng nhận thấy trong quy định này hàng hóa chỉ bao gồm các tài sản hữu hình Như vậy các loại tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ không phải hàng hóa

Những loại hàng hóa cấm lưu thông, dịch vụ thương mại cấm hoạt động như: vũ khí đạn dược, quân trang quân dụng và phương tiện kĩ thuật chuyên dùng của các lực lượng vũ trang, ma túy, một số hóa chất

có tính độc hại mạnh, các hiện vật thuộc di tích lịch sử, văn hóa bảo tàng, các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tới nhân cách, thuốc lá điếu sản xuất tại nước ngoài, các loại pháo, các loại thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người và gia súc , thuốc bảo

vệ thực vật và trang thiết bị, dụng cụ y tế chưa được phép sử dụng tại Việt Nam, những hàng hóa dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh: hang hóa có chất phóng xạ thuốc bảo vệ thực vật thuộc danh mục hạn chế sử dụng tại Việt Nam

Những hành hóa, dịch vụ thương mại kinh doanh có điều kiện gồm các loại như; hóa chất độc hại và các sản phẩm có hóa chất độc hại như: tuốc phòng bệnh, thuốc chữa bệnh, các loại vacxin, sinh phẩm, trang thiêt bị, dụng cụ y tế

Để biết thêm chi tiết về hàng hóa và dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện chúng ta tìm hiểu Nghị định số 59/2006/NĐ- CP ngày 12/06/2006 quy định chi tiết luật thương mại về

Trang 10

hàng hóa dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện

3) Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hình thức HĐMBHH là các hình thức thể hiện ý chí thỏa thuận giữ các bên tham gia quan hệ hợp đồng Nó có thể đuoực thực hiện bằng lời nói, băng văn bản hoặc được xác đinh bằng hành vi cụ thể Đối với các loại HĐMBHH mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó Hình thức văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác

Những quy định của LTM Việt Nam phù hợp với pháp luật quốc tế

về mua bán hàng hóa đã tạo điều kiện cho sự hội nhập khi các chủ thể có quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế, có thể nói hình thức của HĐMBHH trong LTM 2005 là phù hợp với công ước viên 1980

4) Thủ tục giao kết mua bán hàng hóa

a) Đề nghị giao kết hợp đồng

Trong HĐMBHH đề nghị giao kết hàng hóa chính là chào hàng

Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng đã được quy định rõ tại khoản 1- điều 390 BLDS Đơn chào hàng về mặt bản chất là một đề nghị giao kết hợp đồng, là một việc bên này tỏ ý chí của mình muốn giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với một người cụ thể và chịu sự ràng buộc về đề nghị này vói một bên

đã được xác định cụ thể đó Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ

b) Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận đề ghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị chuyển cho bên đề nghị về việc chấp thuận toàn bộ các nội dung đã nêu trong đề nghị giao kết hợp đồng Về vấn đề này Điều 19 công ước viên cũng quy định rõ:" Tuyên bố, hành động nào đó của người được chào hàng thể hiện sự đồng ý với đơn chào hàng được gọi là việc chấp nhận Thái độ im lặng hoặc không hành động không phải khác là việc chấp nhận đơn chào hàng" Như vậy chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có giá trị khi đó là hành vi, hành động mang tính tích cực của đối tác trong giao dịch mua bán hàng hoá Không thể coi là bên được đề nghị giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời đề nghị trong khi nghi giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời đề nghị trong khi họ không có biểu hiện nào bên ngoài để cho người đề nghị biết là mình đồng ý với toàn bộ đề nghị

Ngày đăng: 28/06/2023, 19:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w