MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 CHƯƠNG 1 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 5 1 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 5 1 1 1 Quan hệ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc[.]
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 5
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 5
1.1.1 Quan hệ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, WTO 5
1.1.2 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa 7
1.2 CHẾ ĐỘ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 13
1.2.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 13
1.2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 15
1.2.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa 17
1.2.4 Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa 18
1.2.5 Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 20
1.3.THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 23
1.3.1 Nguyêh tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 23
1.3.2 Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 26
1.3.3 Chế độ sửa đổi, chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa 29
1.3.4 Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu và xử lý hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu 32
1.4 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 34
1.4.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 34
1.4.2 Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 35
1.5 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 39
1.5.1 Thương lượng giữa các bên 40
1.5.2 Hòa giải giữa các bên 40
1.5.3 Giải quyết tranh chấp theo thủ tục Trọng tài 41
1.5.4 Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án 44
Trang 2CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRẦN BÁ
BÁU 48
2.1 THỰC TIỄN KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRẦN BÁ BÁU 48
2.1.1 Căn cứ ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá 48
2.1.2 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá 49
2.1.3 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá 50
2.1.4 Hình thức, trình tự ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá 54
2.2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRẦN BÁ BÁU 59
2.2.1 Quá trình thực hiện hợp đồng 59
2.2.2 Thanh lý hợp đồng mua bán hàng hoá 62
2.2.3 Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá 63
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ 64
3.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRẦN BÁ BÁU 64
3.1.1 Những kết quả đạt được 64
3.1.2 Những khó khăn, tồn tại 67
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ 73
3.2.1 Kiến nghị về phía Nhà nước 73
3.2.2 Kiến nghị về phía Công ty 76
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống xã hội, hợp đồng là một hình thức thiết lập quan hệ Sựxuất hiện, tồn tại và phát triển của hợp đồng đã chứng minh đó là một hình thứcpháp lý thích hợp và hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá vàtiền tệ Khi nền kinh tế phát triển, xã hôi văn minh thì việc điều chỉnh bằng phápluật quan hệ hợp đồng ngày càng cần thiết, càng được coi trọng và hoàn thiện
Ở nước ta, việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng đã được ápdụng từ lâu, song nó chỉ được hoàn thiện hơn và phát triển mạnh khi nước tabước vào công cuộc đổi mới với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sựquản lý của Nhà nước Để đáp ứng đòi hỏi khách quan của nền kinh tế cần một
hệ thống pháp luật thống nhất để điều chỉnh quan hệ hợp đồng và để tạo điềukiện thuận lợi về mặt pháp luật khi đất nước hội nhập kinh tế quốc tế, WTO,ngày 14/6/2005 Quốc hội khoá XI đã ban hành Luật Thương mại có hiệu lực thihành kể từ ngày 1/01/2006 để điều chỉnh quan hệ hợp đồng Việc ban hành Bộluật Dân sự 2015 và Luật Thưoơg mại 2005 là cần thiết và quan trọng, đã tiếnmột bước dài trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hợpđồng
Khi đến thực tập tại doanh nghiệp tư nhân Trần Bá Báu, vấn đề ký kết vàthực hiện hợp đồng của Công ty đã thu hút sự quan tâm của em, trong đó hợpđồng mua bán hàng hoá chiếm tới 90% tổng số các loại hợp đồng tại Công ty.Hợp đồng mua bán hàng hoá có vai trò quan trọng đối với mỗi đơn vị sản xuấtkinh doanh Đối với doanh nghiệp tư nhân Trần Bá Báu, đặc thù là sản xuất, kinhdoanh vật liệu xây dựng và thi công công trình, nên phần lớn hợp đồng mua bánhàng hóa có đối tượng của hợp đồng là vật liệu xây dựng Đó là quan hệ trao đổihợp pháp mà tất cả các tổ chức sản xuất, kinh doanh đều phải thực hiện trong quá
trình tồn tại và phát triển của chúng Bởi vây, em đã chọn đề tài: "Chế độ ký kết
và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại doanh nghiệp tư nhân Trần Bá Báu" để làm chuyên đề này sẽ chỉ đề cập đến những
vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá trongnước
Bố cục của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được kếtcấu thành ba chương:
Chương 1: Chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hoá
Trang 4Chương 2: Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tạidoanh nghiệp tư nhân Trần Bá Báu
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng muabán vật liệu xây dựng
Chuyên đề được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình, khoa học củaThạc sĩ Hoàng Xuân Trường cũng như sự giúp đỡ tận tình của các cô chúCBCNV doanh nghiệp tư nhân Trần Bá Báu Em xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ quý báu đó
Do năng lực chuyên môn còn hạn chế nên chuyên đề không tránh khỏinhững thiếu sót nhất định về nội dung và hình thức, em rất mong nhận được sựđóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn có quan tâm đến vấn đề này để đề tàiđược hoàn thiện hơn
Trang 5CHƯƠNG 1 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1.1 Quan hệ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, WTO
1.1.1.1 Kinh tế thị trường và mối quan hệ trong nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, trong đócác yếu tố "đầu vào" và "đầu ra" của sản xuất đều thông qua thị trường Kinh tếhàng hóa là một kiểu tố chức kinh tế- xã hội, mà trong đó sản phẩm sản xuất ra
để trao đổi, để bán trên thị trường Mục đích của sản xuất trong kinh tế hàng hóakhông phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra sản phẩm mànhằm để bán, tức để thỏa mãn nhu cầu của người mua, đáp ứng nhu cầu của xãhội Kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường không đồng nhất với nhau, chúngkhác nhau về trình độ phát triển Vế cơ bản chúng có cùng nguồn gốc và cùngbản chất
Trong nền kinh tế thị trường nào thì các quy luật kinh tế của sản xuất vàlưu thông hàng hóa đều được phản ánh và tác động một cách khách quan thôngqua cơ chế thị trường Cơ chế thị trường chính là một tổ chức kinh tế , trong đóngười sản xuất và người tiêu dùng chịu sự tác động chi phối lẫn nhau qua thịtrường Thị trường là nơi gặp gỡ của người mua và người bán, của người sảnxuất và người tiêu dùng Trong nền kinh tế thị trường người sản xuất không chỉsản xuất cái gì mình có mà phải sản xuất cái gì thị trường cần Cơ chế thị trườnghoạt động theo các quy luật của nền kinh tế hàng hóa Đó là quy luật giá trị, quyluật cung cầu, quy luật cạnh tranh Thông qua các hoạt động trao đổi mua bán,thị trường có vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế Nó điều tiết sảnxuất, điều tiết tiêu dùng Chính "bàn tay vô hình" của thị trường làm cho cơ cấusản xuất, cơ cấu hàng hóa phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng về số lượng
và chất lượng Nó xác lập mối quan hệ giữa người bán và người mua trên nguyêntắc cùng có lợi Thị trường cung cấp thông tin cần thiết cho nhà kinh doanh vàtạo yếu tố cạnh tranh làm động lực cho sự phát triển sản xuất, giảm chi phí, hạgiá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm
Trang 6Một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường là tự do traođổi các sản phẩm hàng hóa giữa người mua và người bán Người bán bao giờcũng muốn bán với giá cao, còn người mua bao giờ cũng muốn mua với giá thấp,
do đó mà cần có sự thống nhất ý chí, có sự thỏa thuận giữa người bán và ngườimua thể hiện qua hợp đồng Như vậy, hợp đồng về bản chất là sự thỏa thuận, sựthống nhất ý chí giữa các bên tham gia ký kết theo nguyên tắc tự do, tự nguyện,bình đẳng không trái pháp luật
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế của hệ thống các quan hệ hợp đồng,nếu thiếu hợp đồng thì nền kinh tế không thể vận hành được
1.1.1.2 Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp trước đây, hợp đồng kinh
tế được coi là công cụ cơ bản đế quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Chỉ tiêu kếhoạch là cơ sở để các bên ký kết hợp đồng kinh tế, do đó mà khi chỉ tiêu kếhoạch thay đổi, các bên cũng phải thay đổi hợp đồng cho phù hợp Vi phạm hợpđồng là vi phạm kế hoạch Trong điều kiện đó hợp đồng kinh tế chỉ là phươngtiện để các đơn vị trao đổi sản phẩm cho nhau một cách hình thức, ghi nhận sựcấp phát vật tư của Nhà nước cho các đơn vị kinh tế và sự giao nộp sản phẩm củacác đơn vị kinh tế cho Nhà nước mà thôi Hợp đồng kinh tế "mất đi giá trị đíchthực của mình với tư cách là hình thức pháp lý chủ yếu của quan hệ kinh tế"
Trong nền kinh tế thị trường, hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận của cácchủ thể kinh doanh theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng Nhà nước chỉ cóthể sử dụng pháp luật để tác động vào các quan hệ hợp đồng để đảm bảo lợi íchchính đáng của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó và lợi ích chung củatoàn xã hội
Hợp đồng là công cụ, là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch củachính các chủ thể kinh doanh, làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh chỉ có thểthực hiện được nếu người sản xuất mua được nguyên vật liệu và ký được hợpđồng tiêu thụ sản phẩm của mình Đồng thời hợp đồng cũng cụ thể hóa, chi tiếthóa kế hoạch sản xuất mua bán, giá cả, thời gian giao hàng Như vậy nhu cầusản xuất kinh doanh là do người kinh doanh quyết định và thỏa thuận với kháchhàng nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh và thu lợi nhuận
Thông qua việc đàm phán ký kết hợp đồng, người sản xuất có thể nắm bắtđược nhu cầu thị trường về sản phẩm của mình và kiểm tra tính hiện thực của kếhoạch sản xuất kinh doanh có phù hợp với nhu cầu thị trường hay qua quá trình
Trang 7ký kết hợp đồng các doanh nghiệp chủ động cân nhắc tính toán chênh lệch giữachi phí và hiệu quả kinh tế của phương án kinh doanh.
Thông qua hợp đồng kinh tế mà Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết cácquan hệ kinh tế xã hội, hướng các quan hệ phát triển trong trật tự pháp luật
Khi hợp đồng được ký kết đúng pháp luật thì đó là căn cứ pháp lý để bảođảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia ký kết và làm cơ sở để cơquan tài phán giải quyết khi có tranh chấp
1.1.2 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.2.1 Pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam
1.1.2.1.2 Pháp luật về hợp đồng trong cơ chế kế hoạch hóa tập trungSau khi hòa bình lập lại năm 1954, công cuộc cải tạo Xã hội chủ nghĩa ởmiền Bắc với các thành phần kinh tế còn nhỏ, phát triển chậm, kinh tế nôngnghiệp là chủ yếu lại chịu hậu quả chiến tranh Năm 1956, Nhà nước đã ban hànhđiều lệ tạm thời số 735/TTg về chế độ hợp đồng đăng ký kinh doanh (đăng trêncông báo số 10 ngày 5/5/1956) Đây là một văn bản pháp luật hợp đồng có tên là
"hợp đồng kinh doanh" điều chỉnh quan hệ giữa hai hay nhiều chủ thể cam kết tựnguyện thực hiện kế hoạch của Nhà nước nhằm phục vụ cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc, củng cố hậu phương vững chắc làm ra nhiều sản phẩm cho xã hội
Cơ chế kinh tế thay đổi, kéo ntheo sự thay đổi của pháp luật Ngày4/1/1960 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 004/TTg về Điều lệ tạmthời về chế độ hợp đồng kinh tế giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhànước Điều lệ này quy định một kiểu hợp đồng mới, hợp đồng được ký kết trên
cơ sở kế hoạch Nhà nước và nhằm thực hiện kế hoạch Nhà nước đồng thời thựchiện các nguyên tắc của chế độ hạch toán kinh tế Như vậy, trong thời gian nàycác cơ quan Nhà nước, các xí nghiệp đã lập và thực hiện hợp đồng kinh tế khôngphải xuất phát từ lợi ích riêng của cơ quan, xí nghiệp mình mà nhằm thực hiện kếhoạch Nhà nước, vì lợi ích của Nhà nước Đây là đặc điểm quan trọng nhất củahợp đồng kinh tế theo Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế Đặc trưng cơ bảncủa sự phát triển kinh tế theo kế hoạch tập trung cao
Ngày 10/3/1975 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/ CPban hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế Đây là bản điều lệ chính thức đầutiên về chế độ hợp đồng của nước ta và nó có hiệu lực thi hành đến năm 1989 Đểthực hiện hai Nghị định trên Nhà nước đã ban hành hàng loạt văn bản hướng dẫn
Trang 8việc thực hiện hợp đồng kinh tế như: Quyết định số 113-TTg ngày 11/9/1965 vàchỉ thị 17-TTg ngày 20/01/1967 của Thủ tướng Chính phủ
Từ việc nghiên cứu pháp luật về hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạchhóa tập trung chúng ta thấy có nhận xét sau đây :
Một là, pháp luật hợp đồng khi đó là công cụ pháp lý của việc thực hiện
kế hoạch Nhà nước Do nhà nước được coi là pháp lệnh nên việc ký kết và thựchiện hợp đồng kinh tế là kỷ luật của Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế
Hai là, hợp đồng kinh tế là hình thức pháp lý của các quan hệ mang tínhchất tổ chức- kế hoạch, còn yếu tố tài sản chỉ là thứ yếu Vì những nội dung chủyếu mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế đều đã được xác định trong chỉtiêu kế hoạch nhà nước, ý chí của các bên chỉ là cụ thể hóa ý chí của nhà nước
Ba là,chủ thể của hợp đồng kinh tế chỉ là các đơn vị tổ chức được giao chỉtiêu kế hoạch của nhà nước
1.1.2.1.2 Pháp luật về hợp đồng trong nền kinh tế thị trường, hội nhập
kinh tế quốc tế, WTO
Xuất phát từ quan điểm đòi hỏi phải mở rộng quyền tự chủ kinh doanh củacác đơn vị kinh tế, Đại hội toàn quốc Thế mới coi nền kinh tế có cơ cấu nhiềuthành phần là một đặc trưng quan trọng, coi trọng việc sử dụng đúng đắn cácquan hệ hàng hóa- tiền tệ, bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệptrong việc tiếp cận với nhu cầu thị trường khai thác mọi tiềm năng để phát triểnsản xuất kinh doanh, nhằm thực hiện mục tiêu kế hoạch của doanh nghiệp Cơchế quản lý kinh tế mới đòi hỏi phải rà soát lại tất cả các chính sách, chế độ,trong đó có pháp luật về hợp đồng kinh tế Vì vậy ngày 25/9/1989 Hội đồng Nhànước đã thông qua Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và sau đó một loạt các văn bảnnhư Nghị định số 17/HĐBT , Quyết định số 18/HĐBT ngày 16/01/1990 và nhiềuvăn bản hướng dẫn khác Bộ luật Dân sự do Quốc hội thông qua ngày28/10/1995 có nhiều điều về hợp đồng dân sự; Luật Thương mại thông qua ngày10/5/1997 cũng có những quy định về hợp đồng trong một số hành vi thương mại, nhưng thực tế của các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh thương mại , Pháplệnh hợp đồng kinh tế vẫn là căn cứ áp dụng chủ yếu Nội dung cụ thể trong chế
độ pháp lý về hợp đồng quy định trong các văn bản pháp luật nêu trên có nhiềuđiểm không thống nhất
Trang 9Theo quy luật kinh tế khách quan khi cơ sở kinh tế thay đổi đối với thànhtựu to lớn của sự phát triển kinh tế của các thành phần kinh tế dẫn đến Pháp lệnhhợp đồng kinh tế đã được ban hành từ năm 1989 đến nay lộ rõ nhiều bất cập.Trong điều kiện đó việc hoàn thiện, đổi mới các quy định của pháp luật về vấn đềhợp đồng là vấn đề được đặt ra hết sức cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việctạo cơ sở pháp lý thúc đẩy hơn nữa giao lưu kinh tế cũng như trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế Do thực tiễn pháp luật hợp đồng không thống nhất , các quyđịnh còn nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, chồng chéo, loạitrừ nhau, tạo ra lỗ hổng pháp lý khiến cho người áp dụng và các cơ quan tài phángặp nhiều khó khăn, lúng túng khi áp dụng văn bản pháp luật về hợp đồng Vì thếngày 24/11/2015 Bộ luật Dân sự đã được Quốc hội khóa XIII thông qua, trong đó
có chế định về hợp đồng là nền tảng thống nhất và đồng bộ để điều chỉnh cácquan hệ hợp đồng nói chung, bên cạnh các văn bản pháp luật riêng để điều chỉnhcác quan hệ hợp đồng trong các lĩnh vực cụ thể
Trong lĩnh vực hợp đồng thương mại thì luật hiện hành điều chỉnh đó là
Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản pháp luật
có liên quan Những quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng dân sự có tínhnguyên tắc, là nội dung cơ bản điều chỉnh các quan hệ hợp đồng nói chung.Những văn bản luật chuyên ngành như: Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảohiểm, Luật Du lịch, Luật Cạnh tranh…là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợpđồng trong lĩnh vực cụ thể Nguyên tắc áp dụng luật là ưu tiên áp dụng các quyđịnh của luật chuyên ngành trước, những vấn đề không được quy định trong luậtchuyên ngành thì áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự Kể từ ngày1/1/2017 khi Bộ luật Dân sự 2015 và ngày 01/01/2006 Luật Thương mại 2005 cóhiệu lực thì Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 hết hiệu lực Việc ban hành
Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 cũng như chấm dứt vai trò củaPháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 là cần thiết bởi hiện nay xu thế toàn cầuhóa , hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là vấn đề nổi bật củanền kinh tế thế giới Từ đó đòi hỏi mỗi quốc gia hoàn thiện hệ thống pháp luậtcủa nước mình theo hướng đồng bộ và có sự tương thích với luật pháp quốc tế.Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau càng cao giữa cácquốc gia và khu vực Các định chế và tổ chức kinh tế- thương mại khu vực vàquốc tế đã được hình thành để phục vụ cho kinh tế quốc tế, tạo lập hành langpháp lý chung và để các nước cùng tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đềlớn của kinh tế thế giới mà không một quốc gia nào có thể thực hiện một cách
Trang 10đơn lẻ Trong xu thế đó đòi hỏi luật pháp Việt Nam cũng phải theo kịp đời sốngkinh tế đang diễn ra hết sức sôi động, linh hoạt Và một đặc điểm của luật pháptrong giai đoạn hiện nay đó là phải nội luật hóa các điều ước quốc tế làm cho hệthống pháp luật trong nước cũng tương thích với luật quốc tế bảo đảm cho hộinhập quốc tế Đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của Tổ chứcthương mại thế giới (WTO) vào ngày 7/11/2006 và việc hoàn thiện hệ thốngpháp luật theo yêu cầu của WTO cũng là một trong các điều kiện để nước ta cóđầy đủ điều kiện để trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại toàncầu này.
1.1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.2.2.1 Hợp đồng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Cũng như những chủng loại hợp đồng khác, hợp đồng thương mại là sựthỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụpháp lý trong những quan hệ kinh doanh cụ thể
- Trong hợp đồng, yếu tố cơ bản nhất là sự thể hiện ý chí, tức là sự ưngthuận giữa các bên với nhau Nguyên tắc này là nguyên tắc thỏa thuận và đượccoi là tiến bộ của kỹ thuật pháp lý hiện đại
Nguyên tắc thỏa thuận là hệ quả tất yếu của tự do hợp đồng, khi giao kếthợp đồng các bên được tự do quyết định nội dung của hợp đồng, tự do xây dựngphạm vi nghĩa vụ của các bên Đương nhiên tự do hợp đồng ở tất cả các nướctrên thế giới không phải là tự do tuyệt đối mà là tự do trong khuôn khổ pháp luật.Hợp đồng mua bán hàng hóa là giao dịch pháp lý hợp pháp, do vậy sự ưng thuận
ở đây là lẽ công bằng, hợp pháp Hợp đồng sẽ bị vô hiệu nếu là giao kết dưới tácđộng của sự lừa dối, cưỡng bức, đe dọa hay mua chuộc
Ý chí chỉ phát sinh nghĩa vụ khi người giao kết hợp đồng có đầy đủ nănglực hành vi để thành lập hợp đồng Các bên giao kết hợp đồng thông qua ngườiđại diện của mình (có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diệntheo ủy quyền) Người đại diện chỉ được giao kết hợp đồng trong phạm vi thẩmquyền của người đại diện Phạm vi thẩm quyền của người đại diện được quy địnhbởi pháp luật, điều lệ doanh nghiệp hay văn bản ủy quyền Hợp đồng được giaokết bởi người không có thẩm quyền đại diện thì không làm phát sinh quyền,nghĩa vụ đối với cá nhân, tổ chức được đại diện
- Mọi hợp đồng đều phải có đối tượng xác thực Đối tượng của hợp đồngphải được xác định rõ rệt, phải có thể thực hiện được và hợp pháp Nếu đối tượng
Trang 11của hợp đồng là bất hợp pháp thì hợp đồng vô hiệu Đó là một nguyên tắc cơ bảncủa luật hợp đồng được thừa nhận chung trên thế giới Sau khi hợp đồng đượcthành lập với đầy đủ các yếu tố thì hợp đồng có hiệu lực ràng buộc, các bên bắtbuộc phải thực hiện các cam kết trong hợp đồng, mọi sự vi phạm sẽ dẫn đếntranh chấp pháp lý mà bên vi phạm sẽ phải gánh chịu Hợp đồng được thành lậphợp pháp có hiệu lực ràng buộc đối với cơ quan tài phán được giao thẩm quyềngiải quyết tranh chấp kinh tế, xử lý các vi phạm của hợp đồng bằng tòa án haytrọng tài phải căn cứ vào các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợpđồng.
1.1.2.2.2 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng hiểu theo nghĩa rộng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên vềmột vấn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt cácquyền hay nghĩa vụ của các bên đó Bộ luật Dân sự 2015 đã đưa ra khái niệm vềhợp đồng dân sự một cách khái quát như sau: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuậngiữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dânsự"
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng cụ thể, mặt khác hợpđồng mua bán hàng hóa là hình thức pháp lý của hoạt động mua bán hàng hóa.Với "mua bán hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người bán có nghĩa vụgiao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua và nhận tiền; ngườimua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo thỏa thuận của haibên" (Khoản 8 điều 3 Luật Thương mại 2005)
Quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa muốn có hiệu lực được pháp luậtbảo vệ thì phải tuân theo những quy định của pháp luật về các điều khoản có hiệulực của hợp đồng
Thứ nhất, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp Thường thì các bên
giao kết phải có đầy đủ năng lực hành vi
Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện, tức là nó
xuất phát từ ý chí thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận củahợp đồng đó
Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Đối tượng hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thựchiện Bên cạnh đó nội dung của hợp đồng cần cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa vụ
Trang 12trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi Những nghĩa vụ trong hợp đồng
mà không thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là có hiệu lực pháp
lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
Thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhấtđịnh phù hợp với những quy định của pháp luật đối với loại hợp đồng mua bánhàng hóa
Quan điểm trên cho thấy trong điều kiện cơ chế kinh tế mới, Nhà nước cóquan niệm mới về hợp đồng mua bán hàng hóa, quan niệm chuyển từ thươngnhân chỉ được làm những gì nhà nước cho phép sang được làm những gì nhànước không cấm, từ đó rút ra những đặc điểm của hợp đồng mua bán hoạt độngthương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Cácthương nhân này có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại cácđịa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm.Ngoài ra, hợp đồng thương mại còn được ký kết giữa các tổ chức, cá nhân kháchoạt động có liên quan đến thương mại Các tổ chức kinh tế được thành lập hợppháp có thể bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ phần, công ty nhà nước, và các tổ chức kinh tế khác Thương nhân là
cá nhân bao gồm các hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinh doanh và tiến hànhhoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập
Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa Hàng hóa theo hợp đồng là hàng hóađược phép mua bán theo quy định của pháp luật Theo quy định hiện hành, đốivới hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điềukiện thì thương nhân phải thực hiện đầy đủ quy định hiện hành của pháp luật vềkinh doanh các hàng hóa đó
Nội dung của hợp đồng chứa đựng những nội dung cơ bản của một hợpđồng mua bán hàng hóa là: tên hàng, số lượng, quy cách chất lượng, giá cả,phương thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao hàng Ngoài ra hợp đồng cònphải thêm những điều kiện để đảm bảo quyền lợi cho các bên nếu có tranh chấpxảy ra như nơi giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết tranh chấp Do loạihợp đồng này có đặc điểm là các bên đều nhằm đến mục tiêu lợi nhuận nên đòihỏi nội dung của hợp đồng phải đầy đủ, rõ ràng, tránh những hiểu lầm dẫn đếntranh chấp Vì vậy các bên cần chú ý thận trọng soạn thảo nội dung của hợpđồng Chẳng hạn đối với điều khoản tên hàng, cần kèm theo có mã số và mẫuhàng, đối với điều khoản về số lượng và trọng lượng cần chọn những đơn vị đo
Trang 13lường thống nhất, trường hợp không có đơn vị đo lường thống nhất thì cần cóđiều khoản giải thích, đối với điều khoản về thanh toán cần quy định rõ ràngđồng tiền thanh toán và phương thức thanh toán
Về hình thức của hợp đồng Theo quy định tại Luật Thương mại 2005,hợp đồng thương mại được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xáclập bằng hành vi cụ thể Như vậy, hình thức của hợp đồng là rất đa dạng, linhhoạt, tùy trường hợp cụ thể mà các bên thỏa thuận để chọn hình thức nào cho phùhợp với hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết phù hợp với quy định củapháp luật
1.2 CHẾ ĐỘ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa:
Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực kể
từ ngày 1/1/2017 (Bộ luật Dân sự 2015); Luật Thương mại được Quốc hội thôngqua ngày 14/6/2005, có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2006 (Luật Thương mại 2005);
và các văn bản pháp luật có liên quan
1.2.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình thương lượng giữa cácbên theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để đạt được sự thỏa thuận, qua
đó xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên với nhau trong quan hệ mua bánhàng hóa
Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải bảo đảm theo những nguyêntắc được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 đó là:
-Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xãhội;
-Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Cùng các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại được quy định từĐiều 10 đến Điều 15 của mục 2 chương 1 Luật Thương mại 2005 Đó là:
-Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt độngthương mại (Điều 10)
-Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại(Điều 11)
Trang 14-Nguyên tắc áp dụng thói quen, tập quán trong hoạt động thương mại(Điều 12 và 13)
-Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng (Điều 14)-Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạtđộng thương mại (Điều 15)
Trong các nguyên tắc điều chỉnh chế độ giao kết hợp đồng mua bán hànghóa sau đây xin được làm rõ một số nguyên tắc quan trọng sau:
1.2.1.1 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng cho phép cá nhân, tổ chức được tự doquyết định trong việc giao kết hợp đồng với ai, như thế nào, với nội dung, hìnhthức nào Hợp đồng phải xuất phát từ ý muốn chủ quan và lợi ích của các chủthể Tuy nhiên, sự tự do thỏa thuận muốn được pháp luật bảo vệ khi có sự viphạm quyền và nghĩa vụ dẫn đến tranh chấp thì phải nằm trong khuôn khổ củapháp luật, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Vì lợi ích của mình, các chủthể phải hướng tới việc không làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của ngườikhác cũng như lợi ích của toàn xã hội
1.2.1.2 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Theo nguyên tắc này, các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợpđồng phải bảo đảm nội dung của các quan hệ đó, thể hiện được sự tương xứng vềquyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, bảo đảm lợi ích cho các bên Trong nền kinh
tế thị trường, các cá nhân, tổ chức dù thuộc thành phần kinh tế nào, do cấp nàoquản lý khi ký kết hợp đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Khi hợp đồng
đã được xác lập thì phải bảo đảm quyền và nghĩa vụ tương xứng giữa các chủthể, có thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ thì mới được hưởng quyền, nếu vi phạmphải bị xử lý
Sự bình đẳng được đề cập ở đây là sự bình đẳng về mặt pháp lý, sự bìnhđẳng trước pháp luật chứ không phải là sự bình đẳng về mặt kinh tế giữa các chủthể Dựa trên cơ sở tự nguyện cùng nhau giao kết hợp đồng, nhưng nếu giữa cácbên không có thiện chí, thiếu sự hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc thực hiệnnghĩa vụ thì việc xác lập hợp đồng này cũng không mang lại lợi ích tối đa chocác bên trong quan hệ hợp đồng Thêm vào đó, trong giao kết hợp đồng các bên
Trang 15phải thể hiện sự trung thực, ngay thẳng thì mới có thể trở thành đối tác lâu dàicủa nhau trong các quan hệ thương mại đặc biệt là trong quan hệ mua bán hànghóa.
1.2.1.3 Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu.
Theo nguyên tắc này trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệuđáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì đượcthừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản (thông điệp dữ liệu là thông tinđược tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ bằng phương tiện điện tử)
1.2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo quy định của Luật Thương mại 2005 chủ thể của hợp đồng phải làthương nhân hoạt động thương mại, tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quanđến thương mại
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mụch đích sinh lợi, bao gồmmua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạtđộng nhằm mụch đích sinh lợi khác
Có thể phân chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa thành các loạisau:
Luật Thương mại 2005 cũng thừa nhận thương nhân thực tế bằng việckhông đặt điều kiện đăng ký kinh doanh là một trong những điều kiện bắt buộc
để được công nhận là thương nhân Đăng ký kinh doanh là nghĩa vụ của thươngnhân nhưng đối với trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phảichịu mọi trách nhiệm về mọi hoạt động của mình Quy định này đã giải quyếtnhững vấn đề đã đặt ra trong thực tế là người không đăng ký kinh doanh nhưng
có hành vi kinh doanh thì có được coi là thương nhân không Nhưng quy địnhnày lại có phần không rõ ràng vì nó không giới hạn trách nhiệm của thương nhântrong phạm vi hoạt động thương mại Vì vậy, một tổ chức, cá nhân trước khi
Trang 16đăng ký kinh doanh tiến hành các hành vi không nhằm mụch đích sinh lợi có thểvẫn phải chịu trách nhiệm như thương nhân.
1.2.2.1.1 Thương nhân là cá nhân
Để được công nhận là thương nhân thì một cá nhân phải có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và hoạt động thương mại một cáchđộc lập, thường xuyên như một nghề nghiệp Cá nhân cũng có thể trở thànhthương nhân ngay cả khi hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyênnhư một nghề mà chưa đăng ký kinh doanh
Trong lĩnh vực hoạt động thương mại, do thương nhân phải chịu tráchnhiệm đầy đủ về hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau đâykhông được công nhận là thương nhân:
- Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lựchành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hính sự, người đang phải chấp hànhhình phạt tù;
- Người đang trong thời gian bị tòa án cướp quyền hành nghề vì các tộibuôn lậu, đầu cơ, buôn bán hàng cấm, làm hàng giả, buôn bán hàng hóa, kinhdoanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định củapháp luật
Trang 17lập để hoạt động thương mại mới trở thành thương nhân Pháp nhân là tổ chứckinh tế bao gồm:
- Doanh nghiệp nhà nước
- Hợp tác xã
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
- Công ty cổ phần
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Các tổ chức kinh tế khác có đủ các điều kiện theo quy định là pháp nhân
1.2.2.2 Chủ thể không phải là thương nhân
Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi, thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức,
cá nhân không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng muabán hàng hóa, khi họ giao kết hợp đồng với thương nhân Nghĩa là, một bên củahợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại độc lập và thường xuyên, cònbên kia là chủ thể không cần các điều kiện nói trên Khác với bên là thương nhân,bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực hành vi đểtham gia giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định củapháp luật Đó có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặckhông có tư cách pháp nhân, cũng có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạtđộng thương mại độc lập thường xuyên như một nghề
1.2.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá là phương tiện để ghi nhận nộidung mà các chủ thể đã cam kết thỏa thuận với nhau Đối với hợp đồng mua bánhàng hóa thì tùy thuộc vào tính chất của từng loại hợp đồng, tùy thuộc vào nộidung, tùy thuộc vào lòng tin lẫn nhau của các bên giao kết mà họ có thể lựa chọnhình thức nào cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể
Điều 24 Luật Thương mai 2005 quy định "hình thức của hợp đồng muabán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằnghành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quyđịnh phải được lập bằng văn bản thì phải tuân theo các quy định đó" TheoKhoản 15 Điều 3 Luật Thương mại 2005 cũng quy định "hình thức có giá trịtương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và cáchình thức khác theo quy định của pháp luật"
Trang 18Như vậy, đối với những hợp đồng mà pháp luật đã quy định buộc phảigiao kết bằng hình thức văn bản thì các bên phải tuân theo quy định đó Còn lạithì các bên có thể lựa chọn một trong những hình thức sau đây để giao kết:
- Hình thức giao kết bằng hành vi cụ thể: Là sự thỏa thuận bằng việc thựchiện một hành vi nào đó;
- Hình thức miệng (bằng lời nói): Hình thức này được áp dụng trongtrường hợp hợp đồng thỏa thuận thực hiện một công việc cụ thể hoặc giá trị củahợp đồng là không lớn, các bên tin tưởng lẫn nhau Cho nên các bên giao kết chỉcần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiênthực hiện những hành vi nhất định đối với nhau;
- Hình thức bằng văn bản (viết): Các bên giao kết hợp đồng cam kết thỏathuận về quyền và nghĩa vụ hợp đồng bằng văn bản Trong văn bản đó, các bênphải ghi rõ nội dung cơ bản mà các bên đã cam kết với nhau và người đại diệncủa các bên phải ký tên vào văn bản Thông điệp dữ liệu thông qua các phươngtiện điện tử cũng được coi là hình thức văn bản Nếu xảy ra tranh chấp, hợp đồngđược nký kết bằng hình thức văn bản là căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của các bên có cơ sở chắc chắn hơn là bằng hình thức lời nói Đôi khiđối tượng của hợp đồng có giá trị lớn, phức tạp, dễ dẫn đến tranh chấp trong quan
hệ giao kết thì các bên có thể lập thành văn bản có chứng nhận của cơ quan côngchứng nhà nước, hoặc của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền nếu nơi đó không
có công chứng Hợp đồng được giao kết bằng hình thức này có giá trị chứng cứcao nhất Vì vậy mà có những quan hệ hợp đồng mà pháp luật không yêu cầuphải giao kết hợp đồng bằng hình thức này nhưng để có căn cứ chắc chắn, cácbên nên chọn hình thức văn bản để giao kết hợp đồng
1.2.4 Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng bao gồm những điều khoản mà các bên tham giagiao kết hợp đồng thỏa thuận xác lập nên sau khi đã tự do bàn bạc, thương lượng.Nội dung của hợp đồng xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên, quyết địnhtính khả thi của hợp đồng cũng như hiệu lực pháp lý của hợp đồng Các bên khithỏa thuận về nội dung của hợp đồng phải bảo đảm là những nội dung hợp phápvới các điều khoản rõ ràng, cụ thể, có tính hiện thực cao
Luật Thương mại 2005 đã không quy định về nội dung của hợp đồng muabán hàng hóa Trên cơ sở xác lập mối quan hệ với Bộ luật Dân sự, khi xem xétvấn đề nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa chúng ta có thể dựa trên các
Trang 19quy định của Bộ luật Dân sự Theo đó, trong hợp đồng mua bán hàng hóa các bên
có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây:
- Đối tượng của hợp đồng
- Số lượng, chất lượng
- Giá, phương thức thanh toán
- Quyền, nghĩa vụ của các bên
1.2.4.1 Điều khoản chủ yếu
Các điều khoản chủ yếu nêu lên những quyền và nghĩa vụ chủ yếu của cácbên, làm cơ sở cho việc thực hiện mà nếu thiếu nó thì quan hệ hợp đồng chưađược coi là đã xác lập Có những điều khoản luôn được coi là điều khoản chủ yếu
vì không có nó không thể nói là đã hình thành hợp đồng Đối với hợp đồng muabán hàng hoá thì điều khoản về đối tượng luôn là điều khoản chủ yếu Đối tượngcủa hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa " Hàng hóa bao gồm: Tất cả cácloại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn liền vớiđất đai" (Điều 3 Khoản 2 Luật Thương mại 2005) Hàng hoá là đối tượng củahợp đồng phải tuân theo quy định tại Nghị định số 59/2006/NĐ-CP và Nghị định
số 89/2006 NĐ-CP Điều khoản chủ yếu cũng có thể là đối tượng, chất lượng, sốlượng, giá cả, địa điểm khi các bên thấy cần phải thỏa thuận trong giao kết hợpđồng
1.2.4.2 Điều khoản thường lệ
Là điều khoản đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật
Dù các điều khoản này không được ghi vào hợp đồng nhưng các bên mặc nhiênthừa nhận và phải thực hiện đúng như pháp luật quy định Ví dụ theo điều 35Luật Thương mại 2005 về địa điểm giao hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa,
"các bên có thể tự thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì địa điểm giao hàng
Trang 20được xác định như sau: Trường hợp hàng hóa là vật gắn liền với đất đai thì bênbán phải giao hàng tại nơi có hàng hóa đó " Như vậy, để giảm bớt những côngviệc không cần thiết trong giao kết hợp đồng cũng như nếu có tranh chấp xảy ramặc dù các bên không ghi vào văn bản hợp đồng thì quy định của pháp luật sẽ làcăn cứ để xác định mức độ thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợpđồng, từ đó xác định rõ trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng.
1.2.4.3 Điều khoản tùy nghi
Là những điều khoản được đưa vào hợp đồng theo sự thỏa thuận của cácbên căn cứ vào khả năng, nhu cầu của các bên để xác định thêm một số điềukhoản khác Trong khuôn khổ pháp luật, các bên có quyền lựa chọn và thỏathuận về những hành vi cụ thể Điều đó nhằm làm cho nội dung hợp đồng được
rõ ràng, cụ thể, tạo điều kiện cho việc thực hiện hợp đồng nhanh chóng, tránh sựhiểu lầm trong quan hệ hợp đồng Ví dụ thỏa thuận về giám định hàng hóa, kiểmdịch, hòa giải, trọng tài để giải quyết tranh chấp Từ vai trò này của điều khoảntùy nghi mà các bên có quyền tự lựa chọn và tự nguyện thỏa thuận với nhau saocho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa thuận lợi mà vẫnbảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia
1.2.5 Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được ký kết bằng phương thức trựctiếp hoặc phương thức gián tiếp
Ký kết bằng phương thức trực tiếp: Người đại diện có thẩm quyền của cácbên trực tiếp gặp nhau, cùng bàn bạc, thương lượng và thỏa thuận thống nhất vềcác nội dung của hợp đồng và cùng ký tên vào văn bản hợp đồng Hợp đồngđược xác lập và phát sinh hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên có mặt ký vàohợp đồng
Ký kết bằng phương thức gián tiếp: Các bên không trực tiếp gặp nhau đểbàn bạc thảo luận mà trao đổi qua các tài liệu giao dịch như công văn, điện báo,đơn đặt hàng, đơn chào hàng, thông điệp dữ liệu điện tử trong đó ghi rõ nộidung công việc cần giao dịch Trình tự ký kết hợp đồng theo phương thức nàybao gồm hai giai đoạn : chào hàng và chấp nhận chào hàng
1.2.5.1 Chào hàng
Chào hàng là một đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong mộtthời hạn nhất định, được chuyển cho một người hay nhiều người đã xác định Ở
Trang 21giai đoạn này, một bên đưa ra lời chào hàng, tùy theo nội dung có thể là lời chàobán hoặc chào mua hàng, đồng thời đưa ra một thời hạn để bên kia xem xét quyếtđịnh lập hợp đồng Luật Thương mại 2005 không quy định hình thức bắt buộccủa chào hàng nói chung song để chuyển tải được đầy đủ những nội dung cầnthiết và tránh hiểu lầm thì hình thức văn bản là cần thiết Tuy nhiên, hình thứcvăn bản không phải là điều kiện bắt buộc để chào hàng có hiệu lực.
Bên chào hàng có trách nhiệm đối với lời chào hàng của mình trong thờihạn đã đưa ra trong lời chào hàng Nếu bên nhận được chào hàng có những đềnghị thay đổi nội dung chủ yếu của chào hàng thì hành vi đó được coi là từ chốichào hàng và hình thành một chào hàng mới Nếu bên được chào hàng chỉ thayđổi những nội dung không chủ yếu thì chào hàng được coi là đã được chấp nhận,trừ trường hợp người chào hàng ngay lập tức từ chối những thay đổi đó
Chào hàng hết hiệu lực khi hết thời hạn chấp nhận quy định trong chàohàng đã hết hoặc bị từ chối Chào hàng cũng có thể bị coi là bị từ chối nếu chàohàng này không được chấp nhận một cách vô điều kiện mà bị bên nhận đượcchào hàng đưa ra những yêu cầu mới Về mặt thực tế, chào hàng đương nhiên bịcoi là hết hiệu lực nếu bên chào hàng, vì một nguyên nhân nào đó mà ngay khichưa hết thời hạn chấp nhận chào hàng quy định, đã không tham gia kinh doanhnữa Đó có thể là trường hợp bên chào hàng bị giải thể, bị phá sản, bị thu hồi giấychứng nhận đăng ký kinh doanh
1.2.5.2 Chấp nhận chào hàng
Là thông báo của bên được chào hàng chuyển cho bên chào hàng về việcchấp thuận toàn bộ các nội dung đã nêu trong chào hàng Như vậy, chấp nhậnchào hàng phải là chấp nhận vô điều kiện Trường hợp bên được chào hàng yêucầu sửa đổi, bổ sung một trong những nội dung chủ yếu của chào hàng thì hành
vi đó được coi là từ chối chào hàng và hình thành một chào mới Chào hàng chỉđược coi là được chấp nhận nếu người được chào hàng chấp nhận toàn bộ mọisửa đổi, bổ sung do người chào hàng đưa ra
Luật Thương mại không quy định hình thức chấp nhận chào hàng Vì vậy,chấp nhận chào hàng có thể được thực hiện dưới mọi hình thức để người chàohàng hiểu là chào hàng đã được chấp nhận một cách vô điều kiện Đó có thể làlời nói hoặc một hành vi cụ thể biểu thị sự đồng ý với toàn bộ chào hàng Im lặnghoặc không hành động không được coi là đồng ý với chào hàng Tuy LuậtThương mại không quy định hình thức chấp nhận chào hàng, nhưng để tránh
Trang 22những hiểu lầm dẫn đến tranh chấp, chấp nhận chào hàng nên được thể hiện dướihình thức văn bản Bên nhận được chào hàng trả lời cho bên chào hàng trong thờihạn quy định bằng một thông báo chấp nhận toàn bộ các nội dung đã nêu trongchào hàng Thời hạn chấp nhận chào hàng được tính từ thời điểm chào hàng đượcchuyển đi cho bên được chào hàng đến hết thời hạn chấp nhận chào hàng đượcghi trong chào hàng Trong trường hợp thời hạn chấp nhận chào hàng khôngđược xác định rõ trong chào hàng thì thời hạn trách nhiệm của bên chào hàngđược luật quy định là ba mươi ngày, kể từ ngày chào hàng được chuyển đi chobên được chào hàng Thời điểm chấp nhận là thời điểm bản thông báo chấp nhậnđược chuyển đi cho bên chào hàng Đây cũng là thời điểm bắt đầu trách nhiệmcủa bên chấp nhận chào hàng Trong trường hợp bên được chào hàng chấp nhậnchào hàng sau khi hết thời hạn chấp nhận chào hàng quy định thì chấp nhận đókhông có hiệu lực, trừ trường hợp bên chào hàng thông báo ngay cho bên đượcchào hàng về việc mình chấp nhận dù quá hạn.
* Thời điểm xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa:
Hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là đã ký kết kể từ thời điểm các bên
có mặt ký vào hợp đồng Trong trường hợp các bên không cùng có mặt để ký vàohợp đồng, hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ thời điểm bên chào hàng nhậnđược thông báo chấp nhận toàn bộ các điều kiện đã ghi trong chào hàng trongthời hạn trách nhiệm của người chào hàng Sau khi hợp đồng mua bán hàng hóađược ký kết, chỉ bản hợp đồng này có giá trị bắt buộc đối với các bên hợp đồng,mọi thư từ giao dịch và đàm phán trước đó về hợp đồng đều hết hiệu lực, trừtrường hợp các bên có thỏa thuận khác
* Những vấn đề khác trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
- Giao kết hợp đồng theo mẫu: Các bên có thể thỏa thuận giao kết hợpđồng theo mẫu là hợp đồng được một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lờitrong một thời gian hợp lý
- Phụ lục hợp đồng: Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục hợp đồng đểquy định một cách cụ thể, chi tiết một số điều khoản của hợp đồng mà các bênphải làm rõ khi thực hiện hợp đồng để các bên không thể hiểu mập mờ, mâuthuẫn về các cam kết trong hợp đồng
- Giải thích hợp đồng: Phải dựa trên những quy định của pháp luật nhằmbảo đảm hợp đồng là ý chí chung và thể hiện lợi ích của tất cả các bên Nguyêntắc của việc giải thích hợp đồng được quy định riêng cho từng trường hợp: hợp
Trang 23đồng có điều khoản không rõ ràng, khi một điều khoản của hợp đồng có thể hiểutheo nhiều nghĩa, hợp đồng có ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,khi có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu, hợp đồng thiếu một số điều khoản,ngôn từ sử dụng trong hợp đồng mâu thuẫn với ý chí chung và khi bên mạnh thếđưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên yếu thế (Điều 404 Bộ luật Dân sự2015).
1.3.THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.3.1 Nguyêh tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo Bộ luật Dân sự 2015, các bên phải tuân thủ một số nguyên tắc trongquá trình thực hiện hợp đồng đó là:
1.3.1.1 Thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng
Điều đó có nghĩa là các bên phải thực hiện đúng hợp đồng, đúng đốitượng, đúng số lượng và chất lượng, đúng chủng loại, đúng thời hạn, đúngphương thức đã xây dựng trong hợp đồng hoặc do pháp luật đã quy định Nếukhông thực hiện đúng, vi phạm nghĩa vụ đã được ghi nhận trong nội dung củahợp đồng thì phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Mà cụ thể là thực hiệnđúng các quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng
Các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hànghóa được Luật Thương mại 2005 quy định chi tiết trên cơ sở kế thừa những quyđịnh về mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại 1997, tham khảo công ướcViên 1980 và các tập quán, thông lệ quốc tế về mua bán hàng hóa để xây dựngđược quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa phù hợp với điều kiện thực tế củaViệt Nam
Quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóađược quy định tại Mục 2 Mhương 2 của Luật Thương mại 2005 như sau:
1.3.1.1.1 Quyền và nghĩa vụ của bên bán
Bên bán phải giao hàng hóa phù hợp với quy định của hợp đồng về sốlượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợpđồng Điều 35 Luật Thương mại quy định bên bán phải giao hàng vào đúng thờiđiểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp bên bán giao hàngtrước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận nếu cácbên không có thỏa thuận khác (Điều 38)
Trang 24Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa được quy định tại Điều 42Luật Thương mại 2005 Trường hợp có thỏa thuận về việc giao chứng từ thì bênbán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa cho bên mua vào thời hạn,tại địa điểm và bằng hình thức đã thỏa thuận.
Một trong những nghĩa vụ của bên bán là phải kiểm tra hàng hóa trước khigiao hàng Bên bán phải chịu trách nhiệm về những khuyết điểm của hàng hóa
mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết củahàng hóa không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thôngthường và bên bán biết hoặc không thể không biết về các khiếm khuyết đó nhưngkhông thông báo cho bên mua (Khoản 5 Điều 44 Luật Thương mại 2005)
Bên bán còn có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa Theo
đó bên bán phải bảo đảm: (1) quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bánkhông bị tranh chấp bởi bên thứ ba; (2) hàng hóa đó phải hợp pháp; (3) việcchuyển giao hàng hóa là hợp pháp
Ngoài ra, bên bán không được bán hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ(Điều 46 Luật Thương mại 2005) Trường hợp hàng hóa mua bán có bảo hành thìbên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạnbảo hành đã thỏa thuận và phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác (Điều 49 Luật Thương mại 2005)
1.3.1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của bên mua
Điều 50 và 55 Luật Thương mại 2005 quy định bên mua có nghĩa vụ:
- Thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận
- Tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theotrình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật
- Thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giaochứng từ liên quan đến hàng hóa; bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàngtrong trường hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từbên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gâyra
Ngoài ra, bên mua mất quyền sở hữu đối với hàng hóa, quyền sở hữu trítuệ đối với hàng hóa nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếunại của bên thứ ba đối với hàng hóa được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải
Trang 25biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên bán biết hoặc phải biết về khiếu nại củabên thứ ba (Điều 45 và 46 Khoản 1 Luật Thương mại 2005).
Bên mua cũng có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng trong các trườnghợp: (1) Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừngviệc thanh toán; (2) Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng
bị tranh chấp thì có quyền tạm nhừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đãđược giải quyết; (3) Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng hóakhông phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bênbán khắc phục được sự không phù hợp đó
1.3.1.2 Thực hiện hợp đồng một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác,
có lợi nhất cho các bên, đảm bảo tin cậy lẫn nhau
Nguyên tắc này đòi hỏi ngay từ khi giao kết hợp đồng cho đến khi thựchiện hợp đồng các bên phải kịp thời thông báo cho nhau về tình trạng, đặc tínhcủa đối tượng, bao gồm cả khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện hợpđồng Nếu một bên vì lợi ích của mình mà che giấu khuyết tật của vật là đốitượng của hợp đồng, gây ra thiệt hại cho bên đối tác thì phải bồi thường thiệt hại.Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên luôn thông tin cho nhau về tiến độthực hiện hợp đồng Đó chính là biểu hiện sự hợp tác, tương trợ, giúp đỡ lẫnnhau, luôn quan tâm đến lợi ích của cả hai bên giao kết hợp đồng Có như vậymới tạo ra lòng tin đối với nhau để trở thành đối tác lâu dài của nhau Muốn vậy,khi thực hiện hợp đồng không được ỷ lại, vin vào các khó khăn khách quan màkhông thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ hợp đồng đã giao kết hoặc chỉ nghĩđến lợi ích của mình mà thờ ơ, không chú ý đến lợi ích của bên cùng giao kết hợpđồng Ngoài ra, nguyên tắc này còn đòi hỏi các bên phải tìm mọi biện pháp cầnthiết để ngăn chặn bớt thiệt hại có thể xảy ra cho nhau trong quá trình thực hiệnhợp đồng
1.3.1.3 Thực hiện hợp đồng không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của người khác
Về nguyên tắc này, khi các bên ký kết, thực hiện hợp đồng vì lợi ích củamình nhưng phải hướng tới lợi ích công cộng, lợi ích của toàn xã hội, lợi ích củanhà nước Có như vậy thì trật tự pháp luật nói chung mới được giữ vững, thựchiện được nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước Qua đó quyền, lợi ích hợppháp của các bên được bảo vệ, không làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp củangười khác
Trang 261.3.2 Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Để ràng buộc và tăng cường trách nhiệm trong việc thực hiện các nghĩa vụcủa hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm thựchiện các nghĩa vụ được pháp luật quy định Các biện pháp bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ dân sự được điều 318 Bộ luật Dân sự quy định bao gồm: Cầm cố tàisản, Thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp Trong hợpđồng mua bán hàng hoá các bên có thể thoả thuận để áp dụng các biện pháp đểbảo đảm thực hiện hợp đồng như: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, kýcược, ký quỹ và bảo lãnh
Tài sản cầm cố có thể bị khấu trừ phần nghĩa vụ chưa thực hiện, được giaocho bên nhận cầm cố cầm trước một tài sản của bên cầm cố để bảo đảm choquyền lợi của mình Các bên trong quan hệ cầm cố có thể là cá nhân, pháp nhânhoặc chủ thể khác, nhưng phải thỏa mãn các yêu cầu về năng lực chủ thể
Khi người có nghĩa vụ giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người cóquyền, từ thời điểm đó họ bị hạn chế một số quyền năng đối với tài sản của mình.Phải báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố,đồng thời thanh toán cho bên nhận cầm cố những chi phí hợp lý để bảo quản, giữgìn tài sản cầm cố Nhưng chỉ được bán tài sản cầm cố, thay thế tài sản cầm cốbằng một tài sản khác nếu được bên nhận đồng ý, hoặc có thể nhận lại tài sản khinghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt
Trong thời gian văn bản cầm cố có hiệu lực, người nhận cầm cố tài sản cónghĩa vụ bảo đảm nguyên giá trị của tài sản cầm cố, không được chuyển dịch sởhữu vật cầm cố cho người khác cũng như không đem tài sản cầm cố để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ khác hoặc không được khai thác công dụng tài sản cầm cố,hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu bên cầm cố không đồng ý
Trang 271.3.2.2 Thế chấp tài sản
Là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảođảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia (bên nhận thế chấp) Tài sản thế chấp dobên thế chấp giữ, không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp trừ trườnghợp các bên có thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp (Điều 317
Bộ luật Dân sự 2015 )
Tài sản thế chấp có thể là toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thìvật phụ đó cũng thuộc tài sản thế chấp Nếu chỉ thế chấp một phần bất động sản,động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp trừ trường hợp các bên cóthỏa thuận khác
Hình thức thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thànhvăn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính Trong trường hợp có quy định thìvăn bản thế chấp phải được chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứngthực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc việc thế chấp phải được đăng
ký nếu tài sản thế chấp có đăng ký quyền sở hữu
Trong thời hạn văn bản thế chấp có hiệu lực, bên thế chấp tài sản phải cónghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp hoặc phải có nghĩa vụ giữ nguyên giátrị của tài sản thế chấp cũng như không được chuyển dịch quyền sở hữu hoặc tựđộng giao tài sản thế chấp cho người khác Đồng thời phải thông báo cho bênnhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp nếu có Nếubên nhận thế chấp giữ giấy tờ về tài sản thế chấp thì khi chấm dứt thế chấp phảihoàn trả lại cho bên thế chấp giấy tờ về tài sản thế chấp
1.3.2.3 Đặt cọc
Là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đáquý hoặc vật có giá trị khác (tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giaokết, thực hiện hợp đồng Khi tiến hành đặt cọc phải được lập thành văn bản ghi
rõ đối tượng, giá trị bằng tiền hoặc bằng tài sản đặt cọc, thời hạn đặt cọc (Điều
328 Bộ luật Dân sự 2015)
Trong trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọcđược trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền Nếu bênđặt cọc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng thì hoặctài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc hoặc tài sản đặt cọc bị khấu trừ một
Trang 28khoản tiền tương đương để thực hiện nghĩa vụ đó, trừ trường hợp có thỏa thuậnkhác.
1.3.2.5 Ký quỹ
Là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quýhoặc giấy tờ có giá trị khác vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng để bảođảm việc thực hiện nghĩa vụ (Điều 330 Bộ luật Dân sự 2015) Khi bên có nghĩa
vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền đượcngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra,sau khi đã trừ chi phí dịch vụ ngân hàng
1.3.2.6 Bảo lãnh
Là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhậnbảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà bênđược bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cóthể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảolãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 335 Bộ luật Dân sự2015)
Hình thức bảo lãnh bằng văn bản, có thể lập thành văn bản riêng, nếutrong trường hợp pháp luật quy định thì phải có chứng nhận của công chứng nhànước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc là ghi vàohợp đồng chính
Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ chobên được bảo lãnh
Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi, tiền nợ gốc, tiền phạt và tiền bồithường thiệt hại trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Bên bảo lãnh phảiđưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên
Trang 29được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Đối với mộtnghĩa vụ có thể có nhiều người cùng bảo lãnh thì phải liên đới thực hiện nghĩa vụ
đó, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định bảo lãnh theo các phầnđộc lập hoặc bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người liên đớiphải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ
Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng dân sự được Bộ luật Dân sự
2015 quy định rất đầy đủ và chi tiết, bởi vậy trong Luật Thương mại 2005 khôngquy định lại nữa Khi các bên cần chọn biện pháp để bảo đảm thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa thì có thể áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụdân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 đã được trình bày ở trên
1.3.3 Chế độ sửa đổi, chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3.3.1 Sửa đổi hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng đã được giao kết và có hiệu lực pháp lý nhưng do điều kiện,hoàn cảnh cụ thể của mỗi bên mà các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác Khi tiến hành sửa đổi hợp đồng mua bánhàng hóa các bên phải giải quyết hậu quả của việc sửa đổi đó Nó có thể là:
- Chi phí đã bỏ ra để thực hiện một phần công việc trước khi sửa đổi màbên thực hiện không thu hồi được;
- Chi phí để chuẩn bị cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng, mặc dù
đã tận dụng, thanh lý nhưng chưa đủ bù đắp giá trị ban đầu của nó;
- Tiền bồi thường thiệt hại đã phải trả do sửa đổi hợp đồng
Hình thức ghi nhận việc sửa đổi phải phù hợp với hình thức hợp đồng đãgiao kết Theo khoản 3 điều 421 Bộ luật Dân sự 2015:" Trong trường hợp hợpđồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc chophép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức đó" Đối với cáchợp đồng khác thì việc sửa đổi hợp đồng được ghi nhận bằng hình thức nào là docác bên tự nguyện thỏa thuận với nhau
Trang 301.3.3.2 Chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3.3.2.1 Chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa
Xuất phát từ lợi ích của mình mà các bên tham gia giao kết hợp đồng, xáclập quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng Hợp đồng đã có hiệu lực nhưng khi tiếnhành thực hiện nghĩa vụ thì các bên mới nhận thức được rằng họ cần phải chấmdứt hợp đồng vì việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích hợp lýcho một bên hoặc cả hai bên như họ kỳ vọng khi giao kết hợp đồng Chính vì thế,trong điều 422 Bộ luật Dân sự 2015 đã nêu ra các trường hợp chấm dứt hợp đồngnhư sau:
- Hợp đồng chấm dứt khi hợp đồng đã hoàn thành: Toàn bộ nội dung củahợp đồng được các bên thực hiện, thông qua đó các bên tham gia hợp đồng đápứng được quyền của mình thì hợp đồng được coi là hoàn thành và không có lý do
để hợp đồng tồn tại nữa;
- Hợp đồng được chấm dứt theo thỏa thuận của các bên: Trong trường hợpbên nghĩa vụ gặp khó khăn không có khả năng để thực hiện hợp đồng hoặc nếuhợp đồng đó được thực hiện sẽ gây ra tổn thất về vật chất cho một hoặc cả hai,thì các bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng;
- Hợp đồng chấm dứt khi cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặcchủ thể khác chấm dứt, vì việc thực hiện hợp đồng phải do chính cá nhân, phápnhân hoặc chủ thể đó thực hiện;
- Hợp đồng chấm dứt khi bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện
- Hợp đồng chấm dứt khi hợp đồng không thể thực hện được do đối tượngcủa hợp đồng không còn và các bên có thể thỏa thuận thay thế đối tượng kháchoặc bồi thường thiệt hại;
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định
1.3.3.2.2 Hủy bỏ hợp đồng mua bán hàng hóa
Một bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có quyền hủy bỏ hợp đồng vàkhông phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng mà việc vi phạm
đó là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
Hủy hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần hợpđồng Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả cácnghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc
Trang 31hủy bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồngvẫn còn hiệu lực Việc hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau:xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏ hợpđồng; một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợpđồng là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làmcho bên kia không đạt được mụch đích của việc giao kết hợp đồng.
Trong trường hợp có thỏa thuận về giao hàng từng phần, nếu một bênkhông thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc giao hàng và việc này cấu thànhmột vi phạm cơ bản đối với lần giao hàng đó thì bên kia có quyền tuyên bố hủy
bỏ hợp đồng đối với lần giao hàng đó Trường hợp một bên không thực hiệnnghĩa vụ đối với một lần giao hàng là cơ sở để bên kia kết luận rằng vi phạm cơbản sẽ xảy ra đối với những lần giao hàng sau đó thì bên bị vi phạm có quyềntuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng sau đó, với điều kiện làbên đó phải thực hiện quyền này trong thời gian hợp lý Trường hợp một bên đãtuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với một lần giao hàng thì bên đó vẫn có quyềntuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng đã thực hiện hoặc sẽ thựchiện sau đó nếu mối quan hệ qua lại giữa các lần giao hàng dẫn đến việc hànghóa đã giao không được sử dụng theo đúng mục đích mà các bên đã dự kiến vàothời điểm giao kết hợp đồng
Trừ trường hợp nêu trên, sau khi hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng không cóhiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ
đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khihủy bỏ hợp đồng về giải quyết tranh chấp Các bên có quyền đòi lại lợi ích doviệc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều cónghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợpkhông thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trảbằng tiền Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định
1.3.3.2.3 Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóaĐơn phương chấm dứt hợp đồng là việc một bên không tiếp tục thực hiệnnhững nghĩa vụ phát sinh theo hợp đồng khi có những điều kiện nhất định theothỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Đơn phương chấm dứt hợp đồng làđình chỉ thực hiện hợp đồng (điều 310 Luật Thương mại 2005) Về thực chất haicách gọi này tuy khác nhau nhưng có nội dung giống nhau Một bên trong hợpđồng có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các bên đã thỏa
Trang 32thuận hoặc pháp luật có quy định Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bênchấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau: Xảy
ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng;một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, trừ trường hợp miễm trách
Bên đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng phải thông báongay cho bên kia biết về việc tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng Trongtrường hợp không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên kia thì bên tạm ngừngthực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng phải bồi thường thiệt hại
Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểmmột bên nhận được thông báo đình chỉ Các bên không phải tiếp tục thực hiệnnghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ saukhi hủy bỏ hợp đồng về giải quyết tranh chấp Các bên có quyền đòi lại lợi ích doviệc thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa
vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp khôngthể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằngtiền Bên bị vi phạm có quyền đòi bồi thường thiệt hại theo quy định của LuậtThương mại 2005
1.3.4 Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu và xử lý hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu
1.3.4.1 Quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu
Theo Điều 407 và 408 Bộ luật Dân sự 2015 quy định những trường hợphợp đồng trong kinh doanh vô hiệu khi vi phạm một trong những điều kiện sau:
- Những người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự (là khảnăng của cá nhân mà bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụdân sự);
- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của phápluật, không trái đạo đức xã hội;
- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
- Phải tuân theo hình thức giao dịch nếu luật có quy định;
- Giao dịch dân sự do giả tạo Đó là khi các bên giao dịch một cách giả tạonhằm che giấu một giao dich khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bịche giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp việc giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy
Trang 33định của pháp luật Đồng thời hợp đồng ấy cũng vô hiệu, nếu việc giao dịch giảtạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba;
- Giao dich dân sự do bị nhầm lẫn Tình hình này xảy ra do một bên có lỗi
vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch mà xác lập giao dịch thìbên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó;
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa;
- Giao dich dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.Thực tế này phát sinh ngay từ khi ký kết hợp đồng có đối tượng không thể thựchiện được vì lý do khách quan (thiên tai, hỏa hoạn…)
- Khi hợp đồng chính vô hiệu thì sẽ có hệ quả là chấm dứt hợp đồng phụ,trừ trường hợp các bên trong hợp đồng có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thếhợp đồng chính Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự
1.3.4.2 Xử lý hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu
Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịchdân sự vô hiệu như sau: Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi,chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập Khi giaodịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả chonhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trảbằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thutheo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường
Trong trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết vềviệc hợp đồng có đối tượng không thực hiện được, nhưng không thông báo chobên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại chobên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết hợp đồng có đối tượng khôngthể thực hiện được
Trang 341.4 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.4.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
1.4.1.1 Khái niệm
Theo khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Bên có nghĩa vụ
mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu tráchnhiệm dân sự đối với bên có quyền"
Khi hợp đồng đã giao kết thì các nghĩa vụ được xác lập, các bên phải thựchiện đầy đủ các nghĩa vụ đó Nếu một bên có hành vi vi phạm hợp đồng thì phảichịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng là mộtloại trách nhiệm dân sự Hành vi vi phạm nghĩa vụ bao gồm: không thực hiện,thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ mà họ đã cam kết trong hợp đồng.Điều đó tất yếu dẫn đến kết quả là bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bấtlợi mà pháp luật quy định phù hợp, tương xứng với những hành vi vi phạm đó
Như vậy có thể hiểu trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng là một chếtài đối với bên vi phạm, bảo đảm đền bù thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồnggây ra cho bên bị vi phạm, đồng thời giữ vững, ổn định các quan hệ pháp luật,góp phần phòng ngừa và giáo dục chung
1.4.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bánhàng hóa
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là một loạitrách nhiệm do vi phạm hợp đồng nên nó có những đặc điểm chung sau: được ápdụng chỉ khi có vi phạm pháp luật và chỉ đối với chủ thể có hành vi đó; là biệnpháp cưỡng chế của nhà nước đối với hành vi vi phạm và do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền áp dụng; bao giờ cũng là hệ quả bất lợi cho bên có hành vi viphạm pháp luật
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa còn có đặcđiểm riêng sau: trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóaluôn liên quan đến tài sản Vì lợi ích của mình mà các bên tự nguyện quyết địnhtham gia vào quan hệ hợp đồng cho nên việc vi phạm nghĩa vụ của một bên sẽtác động trực tiếp đến lợi ích vật chất của bên kia, vì vậy bên vi phạm phải bùđắp những lợi ích vật chất cho bên bị vi phạm
Trang 351.4.1.3 Nguyên tắc của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
- Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ thì phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với bên có quyền;
- Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ do
sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm trừ trường hợp có thỏathuận khác hoặc pháp luật có quy định khác;
- Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm nếu chứng minh đượcnghĩa vụ không thực hiện là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền
1.4.2 Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo Điều 292 Luật Thương mại 2005 có các loại chế tài trong thươngmại sau:
1.4.2.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng (Điều 297 Luật Thương mại 2005)
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bên có nghĩa vụ không thực hiệnnghĩa vụ như đã thỏa thuận trong hợp đồng thì bên có quyền được quyền yêu cầu
họ phải thực hiện (ví dụ : giao hàng đúng đối tượng, số lượng ghi trong hợpđồng), nếu không phải thanh toán theo đúng giá trị thị trường của hàng hóa đó.Nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ mà gây thiệt hại cho bên có quyềnthì phải bồi thường cả thiệt hại sau khi đã thanh toán giá trị của hàng hóa cho bên
có quyền
Trang 361.4.2.2 Phạt vi phạm (Điều 300 Luật Thương mại 2005)
Là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do viphạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ các trường hợp miễn tráchnhiệm trong những phạm vi sau đây:
- Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận;
- Xảy ra sự kiện bất khả kháng (như phải thi hành khẩn cấp theo quyếtđịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền);
- Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
- Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điêm giaokết hợp đồng (Điều 294 Luật Thương mại 2005)
Phạt vi phạm là chế tài được áp dụng phổ biến đối với tất cả các trườnghợp có hành vi vi phạm hợp đồng, bất kỳ là vi phạm ở điều khoản nào Việc ápdụng chế tài này không cần tính đến là hành vi vi phạm đã gây thiệt hại hay chưa
Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, nhưng tổng mức phạt không quá8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm trừ trường hợp thương nhân kinhdoanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai
Tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định về thực hiện hợp đồng
có thoả thuận phạt vi phạm như sau: "Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bêntrong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên
bị vi phạm"
Như vậy quy định về chế tài phạt vi phạm giữa Bộ luật Dân sự 2015 vàLuật Thương mại 2005 có sự khác biệt nhau về mức phạt vi phạm Mức phạttheo Luật Thương mại 2005 các bên thoả thuận nhưng không quá 8% giá trị phầnnghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm Trong khi Bộ luật Dân sự 2015 lại không đưa ramức tối đa cho mức phạt vi phạm này
1.4.2.3 Bồi thường thiệt hại Đđiều 302 Luật Thương mại 2005)
Là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do vi phạm hợp đồng gây
ra cho bên bị vi phạm
Trang 37Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp màbên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị
vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh trong quan hệ hợp đồng trên cơ
sở các điều kiện sau đây:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng;
- Có thiệt hại thực tế xảy ra;
- Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại(Điều 303 Luật Thương mại 2005)
Bên bị vi phạm có nghĩa vụ chứng minh tổn thất cũng như có nghĩa vụhạn chế tổn thất xảy ra (Điều 304 Luật Thương mại 2005)
Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định về bồi thường thiệt hại: "Trách nhiệmbồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất , tráchnhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần"
Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm cóquyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, nếu không
có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thườngthiệt hại, trừ trường hợp Luật Thương mại có quy định khác (Điều 307 LuậtThương mại 2005)
Tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về mối quan hệ giữa bồithường thiệt hại và phạt vi phạm như sau: "Các bên có thể thỏa thuận về việc bên
vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hạihoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏathuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên
vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm"
Giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 có sự khác biệt khiquy định về mối quan hệ giữa chế tài bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm Khi
Bộ luật Dân sự 2015 quy định "trong trường hợp các bên không có thoả thuậnbồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm", thìLuật Thương mại 2005 lại quy định: "Trong trường hợp các bên không có thoảthuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại"
Trang 38Như vậy, theo Bộ luật Dân sự 2015 thì quyền đòi tiền phạt vi phạm là quyềnđương nhiên của bên bị vi phạm, còn theo Luật Thương mại 2005 thì quyền đòibồi thường thiệt hại mới là quyền đương nhiên của bên bị vi phạm Nếu bên bị viphạm muốn áp dụng cả hai chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại thì "phảithoả thuận về phạt vi phạm trong hợp đồng" (theo Luật Thương mại 2005); "phảithoả thuận về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng" (theo Bộ luật Dân sự 2015)
Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực; bên
bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 309 Luật Thương mại2005)
Trang 391.4.2.6 Hủy bỏ hợp đồng
Hủy hợp đồng bao gồm hủy bỏ một phần hợp đồng và hủy bỏ toàn bộ hợpđồng (như phần chế độ sửa đổi, chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa đã đề cập
ở phần trước)
Chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏhợp đồng;
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Trừ các trường hợp miễm trách nhiệm do luật quy định và do hai bên thỏathuận
Như vậy, theo quy định của Luật Thương mại 2005 giữa các trách nhiệmpháp lý do vi phạm hợp đồng có mối quan hệ với nhau Đặc biệt một bên không
bị mất quyền đòi bồi thường thiệt hại đối với tổn thất do vi phạm hợp đồng củabên kia khi đã áp dụng các chế tài khác Chế tài phạt vi phạm hợp đồng và bồithường thiệt hại chỉ được áp dụng đồng thời khi các bên có thỏa thuận phạt viphạm trong hợp đồng, nếu không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạmchỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
1.5 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Trong kinh doanh, nhìn chung các nhà kinh doanh luôn cố gắng để tránhhoặc hạn chế việc vi phạm các cam kết trong hợp đồng Song, do nhiều nguyênnhân khác nhau các tranh chấp giữa các bên trong quá trình ký kết và thực hiệnhợp đồng mua bán hàng hóa là điều khó tránh khỏi Khi tranh chấp xảy ra thì vấn
đề đặt ra cho các bên là làm thế nào để giải quyết các tranh chấp ấy Giải quyếttranh chấp là việc điều chỉnh các bất đồng, các xung đột dựa trên những căn cứ
và bằng những phương thức khác nhau do các bên lựa chọn Về mặt pháp lý, cácphương thức đó phải được pháp luật thừa nhận Theo điều 317 Luật Thương mại
2005 thì các hình thức giải quyết tranh chấp trong thương mại bao gồm: (1)thương lượng giữa các bên; (2) hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chứchoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải; (3) giảiquyết tại Trọng tài hoặc Tòa án
Trang 401.5.1 Thương lượng giữa các bên
Trong đại đa số trường hợp khi bắt đầu phát sinh tranh chấp, các bên tựnguyện và nhanh chóng liên hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng, tìm cách tháo gỡbất đồng với mục đích chung là gìn giữ mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp và lâudài giữa họ
Giải quyết tranh chấp bằng hình thức thương lượng giữa các bên rất được
ưa chuộng tại một số nước, nhất là các nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam
Có lẽ, đó là xuất phát từ quan niệm "dĩ hòa vi quý" đã ăn sâu vào trong tiềm thứccủa mỗi người châu Á
Thương lượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành cùng với quátrình tố tụng tại Tòa án hoặc Trọng tài
Đối với thương lượng độc lập: Nghĩa vụ của các bên phải tiến hànhthương lượng được quy định trong điều khoản về giải quyết tranh chấp, do đócũng phải được thực hiện nghiêm chỉnh như mọi điều khoản khác của hợp đồng
Kết quả thương lượng được coi như một thỏa thuận mới về vấn đề tranhchấp, các bên phải thi hành tự nguyện thỏa thuận đó theo quy định của pháp luật
áp dụng về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng;
Nếu thương lượng được tiến hành trong khuôn khổ tố tụng Trọng tài hay
tố tụng tư pháp, thì theo yêu cầu của các bên, trọng tài viên, thẩm phán có thể ravăn bản công nhận kết quả thương lượng Văn bản này có giá trị như một quyếtđịnh của Trọng tài hay Tòa án
1.5.2 Hòa giải giữa các bên
Theo từ điển luật học Anh- Mỹ của Black - "Hòa giải là một quá trình giảiquyết tranh chấp mang tính chất riêng tư, trong đó hòa giải viên là người thứ batrung gian giúp các bên tranh chấp đạt được một sự thỏa thuận"
Một số mục tiêu cơ bản cần đạt được qua hòa giải:
Thứ nhất: Bằng hòa giải để giải quyết tranh chấp một cách thân thiệnnhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các quan hệ kinh doanh trong thời gian dài và
vì lợi ích chung của cả hai bên
Thứ hai: Bằng hòa giải có thể tập chung sự chú ý và quan tâm của các bênvào các vấn đề chính, cơ bản của nội dung tranh chấp, hạn chế tối đa sự hao phíthời gian và tiền của vào các vấn đề mang tính chất hình thức tố tụng; tăng cường