A Chương 1 Tổng quan về Công ước Viên 1980 2 1 Quá trình hình thành Công ước Viên 1980 2 2 Nội dung cơ bản của Công ước Viên 9180 3 2 1 Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1 13) 3 2 2 Thành lậ[.]
Trang 1Chương 1: Tổng quan về Công ước Viên 1980 2
1 Quá trình hình thành Công ước Viên 1980 2
2 Nội dung cơ bản của Công ước Viên 9180 3
2.1 Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1- 13) 3
2.2 Thành lập hợp đồng (trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng) (Điều 14- 24) 4
2.3 Mua bán hàng hóa (Điều 25 - 88) 4
2.4 Các quy định cuối cùng (Điều 89 – 101) 6
3 Danh sách các quốc gia thành viên 6
Chương 2: Những nội dung cơ bản của Công ước viên 1980 8
1 Xác lập hợp đồng 8
1.1 Lời mời chào hàng – Đề nghị giao kết hợp đồng 8
1.2 Chấp nhận giao kết hợp đồngAA 9
1.3 Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng 10
1.4 Hình thức của hợp đồng 10
2 Mua bán hàng hóa 11
2.1 Nghĩa vụ của Người Bán 11
2.2 Nghĩa vụ của Người Mua 14
2.3 Chuyển rủi ro 15
3 TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG 16
3.1 Các khái niệm 16
3.2 Các biện pháp bảo hộ hợp pháp được áp dụng 18
3.3 Những trường hợp miễn trách 21
Chương 3: Ví dụ về tranh chấp tiền bồi thường thiệt hại trong mua bán hàng hóa quốc tế 23
1 Diễn biến 23
2 Phán quyết của tòa án 23
3 Nhận xét, bài học kinh nghiệm 25
Trang 2Chương 1: Tổng quan về Công ước Viên 1980
1 Quá trình hình thành Công ước Viên 1980
Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết
tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale ofGoods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế(UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợpđồng mua bán hàng hoá quốc tế
Trên thực tế, nỗ lực thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ 20 bởi Unidroit (Viện nghiêncứu quốc tế về thống nhất luật tư) Unidroit đã cho ra đời hai Công ước La Haye năm
1964 về điều chỉnh việc hình thành hợp đồng (chào hàng, chấp nhận chào hàng) và quyền
và nghĩa vụ của người bán, người mua và các biện pháp được áp dụng khi một/các bên viphạm hợp đồng
Tuy vậy, hai Công ước La Haye năm 1964 trên thực tế rất ít được áp dụng do: (1) Hộinghị La Haye chỉ có 28 nước tham dự với rất ít đại diện từ các nước XHCN và các nướcđang phát triển, vì thế người ta tin rằng các Công ước này được soạn có lợi hơn chongười bán từ các nước tư bản; (2) các Công ước này sử dụng các khái niệm quá trừutượng và phức tạp, rất dễ gây hiểu nhầm; (3) các Công ước này thiên hướng về thươngmại giữa các quốc gia cùng chung biên giới hơn là thương mại quốc tế liên quan đến vậntải biển; và (4) quy mô áp dụng của chúng quá rộng, vì chúng được áp dụng bất kể cóxung đột pháp luật hay không
Năm 1968, trên cơ sở yêu cầu của đa số các thành viên Liên Hợp Quốc về một khuônkhổ mới với “sự mở rộng ra các nước có nền pháp lý, kinh tế chính trị khác nhau”,UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thống nhất về pháp luật nộidung áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế cho hai Công ước
La Haye năm 1964 Được soạn thảo dựa trên các điều khoản của hai Công ước La Haye,
Trang 3song Công ước Viên 1980 có những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản Công ước nàyđược thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm 1980 tại Hội nghị của Ủy ban củaLiên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế với sự có mặt của đại diện của khoảng 60quốc gia và 8 tổ chức quốc tế CISG có hiệu lực từ ngày 01/01/1988 (khi có 10 quốc giaphê chuẩn, theo Điều 99 của Công ước).
Có nhiều yếu tố lý giải tại sao CISG lại là một trong những Công ước thống nhất vềluật tư thành công nhất:
- CISG được soạn thảo và thực thi dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc- tổ chức quốc tếliên chính phủ lớn nhất hành tinh
- Cách thức soạn thảo CISG cho thấy những nỗ lực thực sự trong việc tạo ra các quyphạm thực chất thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế
- Nội dung của Công ước được đánh giá là hiện đại, linh hoạt, phù hợp với thực tiễnmua bán hàng hóa quốc tế
- CISG có được sự ủng hộ rất lớn từ phía các trọng tài quốc tế và của ICC
2 Nội dung cơ bản của Công ước Viên 1980 (CISG)
Công ước Viên có 101 điều khoản, có thể được chia thành 4 phần chính sẽ được trìnhbày ở dưới đây
2.1 Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1- 13)
Phạm vi: áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thươngmại tại các quốc gia khác nhau khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Côngước hoặc khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nướcthành viên Công ước này
Đối tượng điều chỉnh là hàng hóa và dịch vụ (Trừ một số trường hợp được quy địnhtrong CISG)
Chủ thể: Các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại cácquốc gia khác nhau
Trang 4Như tên gọi của nó, phần này quy định trường hợp nào CISG được áp dụng (Từ Điều
1 đến Điều 6), đồng thời nêu rõ nguyên tắc trong việc áp dụng CISG, nguyên tắc diễngiải các tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thức của hợpđồng CISG 1980 cũng nhấn mạnh đến giá trị của tập quán trong các giao dịch mua bánhàng hóa quốc tế
2.2 Thành lập hợp đồng (Trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng) (Điều 14- 24)
Trong phần này, với 11 điều khoản, Công ước đã quy định khá chi tiết, đầy đủ các vấn
đề pháp lý đặt ra trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Điều 14của Công ước định nghĩa chào hàng, nêu rõ đặc điểm của chào hàng và phân biệt chàohàng với các “lời mời chào hàng” Các vấn đề hiệu lực của chào hàng, thu hồi và hủy bỏchào hàng được quy định tại các điều 15, 16 và 17 Đặc biệt, tại các Điều 18, 19, 20 và 21của Công ước có các quy định rất chi tiết, cụ thể về nội dung của chấp nhận chào hàng;khi nào và trong điều kiện nào, một chấp nhận chào hàng là có hiệu lực và cùng với chàohàng cấu thành hợp đồng; thời hạn để chấp nhận, chấp nhận muộn; kéo dài thời hạn chấpnhận Ngoài ra, Công ước còn có quy định về thu hồi chấp nhận chào hàng, thời điểmhợp đồng có hiệu lực
Về vấn đề xác lập hợp đồng mua bán, CISG thừa nhận quy tắc Chào hàn – Chấp nhậnchào hàng (offer-acceptance rule Công ước quy định một thư chào giá phải được gửi đếnmột hay một số người cụ thể, xác định và miêu tả đầy đủ về hàng hóa, số lượng, giá cả.Thư chào hàng có thể được thu hồi nếu thư thu hồi đến khách hàng trước hoặc cùng lúcvới thư chào hàng, hoặc trước khi khách hàng gửi lại thư chấp thuận Bất kỳ sự thay đổinào với thư chào hàng ban đầu đều được xem như sự từ chối thư chào hàng trừ phi cácđiều khoản sửa chữa không làm thay đổi những điều khoản thiết yếu của thư chào hàng
2.3 Mua bán hàng hóa (Điều 25 - 88)
Với tên gọi là “mua bán hàng hóa”, nội dung của phần 3 này là các vấn đề pháp lýtrong quá trình thực hiện hợp đồng Phần này được chia thành 5 chương với những nộidung cơ bản như sau:
Trang 5Chương I: Những quy định chung
Chương II: Nghĩa vụ của người bán
Chương III: Nghĩa vụ của người mua
Chương IV: Chuyển rủi ro
Chương V: Các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người mua
Đây là chương có số lượng điều khoản lớn nhất, cũng là chương chứa đựng những quyphạm hiện đại, tạo nên ưu việt của CISG Nghĩa vụ của người bán và người mua đượcquy định chi tiết, trong hai chương riêng, giúp cho việc đọc và tra cứu của các thươngnhân trở nên dễ dàng Về nghĩa vụ của người bán, Công ước quy định rất rõ nghĩa vụgiao hàng và chuyển giao chứng từ, đặc biệt là nghĩa vụ đảm bảo tính phù hợp của hànghóa được giao (về mặt thực tế cũng như về mặt pháp lý) Công ước nhấn mạnh đến việckiểm tra hàng hóa được giao (thời hạn kiểm tra, thời hạn thông báo các khiếm khuyết củahàng hóa) Những quy định này rất phù hợp với thực tiễn và đã góp phần giải quyết cóhiệu quả các tranh chấp phát sinh có liên quan Nghĩa vụ của người mua, gồm nghĩa vụthanh toán và nghĩa vụ nhận hàng, được quy định tại các điều từ Điều 53 đến Điều 60.Công ước Viên 1980 không có một chương riêng về vi phạm hợp đồng và chế tài do viphạm hợp đồng Các nội dung này được lồng ghép trong chương II, chương III vàchương V Trong chương II và chương III, sau khi nêu các nghĩa vụ của người bán vàngười mua, Công ước Viên 1980 đề cập đến các biện pháp áp dụng trong trường hợpngười bán/người mua vi phạm hợp đồng Cách sắp xếp điều khoản như vậy, một mặt, làmcho việc tra cứu rất thuận lợi; mặt khác, cho thấy được tinh thần của các nhà soạn thảoCISG là tạo ra sự bình đẳng về mặt pháp lý cho người bán và người mua trong hợp đồngmua bán hàng hóa
Các biện pháp mà Công ước cho phép người bán và người mua áp dụng khi một bên viphạm hợp đồng bao gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, đòi bồi thường thiệt hại, hủyhợp đồng Ngoài ra còn có một số biện pháp không có tính chất chế tài hoặc nhằm mục
Trang 6đích trừng phạt bên vi phạm, ví dụ biện pháp giảm giá (Điều 50), biện pháp bên bị viphạm gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ để tạo điều kiện cho bên vi phạm tiếp tục thựchiện hợp đồng (Điều 47 khoản 1 và Điều 63 khoản 1) hay những biện pháp mà bên viphạm có thể đưa ra nhằm khắc phục những thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra(Điều 48 khoản 1) Công ước cũng quy định rõ trường hợp áp dụng các biện pháp cụ thể(ví dụ biện pháp hủy hợp đồng hay đòi thay thế hàng chỉ được áp dụng trong trường hợp
vi phạm cơ bản- khái niệm vi phạm cơ bản được nêu tại Điều 25)
Chương V của Phần 3 quy định về vấn đề tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, viphạm trước hợp đồng, việc áp dụng các biện pháp pháp lý trong trường hợp giao hàngtừng phần, hủy hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ Các Điều 74, 75, 76,
77, 78 của CISG là những điều khoản được dẫn chiếu đến rất nhiều trong các án lệ ápdụng CISG, vì các điều khoản này quy định rất chi tiết về một biện pháp được áp dụngphổ biến nhất trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: đó làtính toán tiền bồi thường thiệt hại Các điều khoản khác trong chương này đề cập đến vấn
đề miễn trách, hậu quả của việc hủy hợp đồng và bảo quản hàng hóa trong trường hợp cótranh chấp
2.4 Các quy định cuối cùng (Điều 89 – 101)
Phần này quy định về các thủ tục để các quốc gia ký kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước,các bảo lưu có thể áp dụng, thời điểm Công ước có hiệu lực và một số vấn đề khác mangtính chất thủ tục khi tham gia hay từ bỏ Công ước này
3 Danh sách các quốc gia thành viên 1
Tính đến năm 2012, có tất cả 78 quốc gia và vùng lãnh thổ gia nhập công ước Viên vớicác quốc gia tham gia sớm nhất vào năm 1988 và muồn nhất vào năm 2010 từ các quốcgia của tất cả các châu lục, trong đó, có cả các quốc gia có nền kinh tế phát triển nhưPháp, Đức, Mỹ, Nhật hay nước xuất khẩu lớn như Trung Quốc
1 Nguồn: uncitral.org/
Trang 7Bên cạnh việc gia nhập và chấp nhận và kế thừa công ước Viên, các quốc gia thành viêncũng có những tuyên bố và bảo lưu, ví dụ như bảo lưu điều khoản 1.b của điều khoản 1.hay vào thời điểm phê chuẩn, Trung Quốc tuyên bố sẽ không bị ràng buộc bởi khoản 1.bđiều 1 cũng như không bị ràng buộc bởi điều 11 và các quy định của Công ước cóliênquan đến điều 11…
Trang 8Chương 2: Những nội dung cơ bản của Công ước viên 1980
1 Xác lập hợp đồng
1.1 Lời mời chào hàng – Đề nghị giao kết hợp đồng
Theo điều 14 của công ước Viên: “Một đề nghị giao kết hợp đồng gửi cho một haynhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu nó đủ chính xác và nếu nó chỉ rõ ýchí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chàohàng đó”
Do đó, khi xác định một đề nghị giao kết hợp đồng, chúng ta cần xem xét các yếu
đó, điều 55 lại quy định rằng nếu các điều kiện về giá cả theo điều 14 không được thỏamãn thì hợp đồng vẫn có hiệu lực và giá của hợp đồng được hiểu là giá trên thịtrường vàothời điểm giao hàng, tại địa điểm giao hàng
Như vậy, Công ước Viên 1980, một mặt, yêu cầu một chào hàng bắt buộc phải cógiá có thể xác định được, mặt khác, đưa ra quy định căn cứ xác định giá cho các hợpđồng mà giá cảchưa được xác định Quy định này là phù hợp với thực tiễn thương mạiquốc tế khi mà các hợp đồng có giá mở (open price contract) ngày càng phổ biến
Trang 9+ Người nhận được chào hàng phải xác định được, nếu không chỉ được coi là mộtlời mời làm chào hàng.
1.2 Chấp nhận giao kết hợp đồng
Chấp nhận chào hàng là sự thể hiện ý chí đồng ý của người được chào hàng vớinhững đề nghị của người chào hàng Chỉ có giá trị pháp lí khi thể hiện bằng một lời tuyênbố,một hành vi, biểu thị sự đồng ý.Sự im lặng hoặc không hành động của người đượcchào hàng sẽ không mặc nhiên có giá trị như 1 sự chấp thuận
Khi nhận được đơn chào hàng của đối tác nước ngoài, doanh nghiệp có thể chấpnhận bằng văn bản, bằng lời nói Thậm chí, bằng việc thực hiện một số hành vi nhất định,người được chào hàng sẽ bị coi là đã chấp nhận chào hàng và bị ràng buộc bởi chào hàngđó
Có một số vấn đề cần chú ý về chấp nhận chào hàng:
- Theo quy định của điều 18-CISG, im lặng và không có hành động gì (inaction) thìkhông được coi là chấp nhận chào hàng Tuy vậy, việc thực hiện một số hành vi lại đượccoi là chấp nhận chào hàng, ví dụ như hành vi liên quan đến việc gửi hàng, mở thư tíndụng hay trả tiền chẳng hạn, dù người chấp nhận không thông báo cho người chào hàng.Trong thực tiễn kinh doanh quốc tế, trường hợp chấp nhận như vậy rất hay xảy ra, nhất làgiữa các bên đã có mối quan hệ làm ăn từ trước Tuy vậy, pháp luật về hợp đồng của ViệtNam lại không có quy định gì về vấn đề này Vì thế, khi chấp nhận chào hàng, nên chấpnhận bằng văn bản, trong đó nêu rõ những nội dung chấp nhận và những đề xuất chỉnhsửa nếu có, tránh trường hợp chấp nhận bằng hành vi vì có thể gây ra những tranh chấp
- Khi nhận được chào hàng, nếu có những ý kiến trái với chào hàng thì cần xem xét vàđưa ra các đề nghị sửa đổi kịp thời, đầy đủ Sau khi gửi chấp nhận chào hàng (trong đó cómột số sửa đổi, bổ sung chào hàng ban đầu) thì nên yêu cầu bên chào hàng khẳng định lại(confirm) một lần nữa có đồng ý với những sửa đổi, bổ sung đó hay không Như vậy sẽtránh được những tranh chấp khi hai bên đàm phán giao kết hợp đồng một cách gián tiếpthông qua việc gửi các đơn chào hàng và chấp nhận chào hàng
Trang 10- Khi xem xét những trao đổi của các bên về mẫu hợp đồng, trọng tài và tòa án có toànquyền diễn giải CISG một cách linh hoạt (ví dụ như thời gian trả lời đề nghị bao lâu làhợp lý, cân nhắc tiền lệ giao dịch của các bên để áp đặt trách nhiệm cảnh báo của bênbán, chấp nhận thông tin văn bản hay bằng miệng) để xác định thời điểm hợp đồng đượchình thành cũng như đề nghị của bên nào mang giá trị ràng buộc Vì vậy, khi đềnghị/chào giá của một bên đối tác không có thời hạn hiệu lực cụ thể, doanh nghiệp nêntrả lời chấp thuận hoặc đề nghị triệt hạ đề nghị cũ bằng văn bản trong thời gian sớm nhất
có thể, với những tuyên bố rõ ràng về điểm khác trong đề nghị mới của mình
1.3 Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng
-Việc hủy bỏ đề nghị chào hàng có thể thực hiện khi thông báo về việc hủy tới nơi ngườiđược chào hàng trước khi người này gửi thông báo chấp nhận chào hàng
-Các trường hợp chào hàng không thể bị hủy bỏ (khoản 2 Điều 16)
+ Nếu chào hàng quy định một thời gian nhất định cho việc chấp nhận chào hàng, hoặcchào hàng có quy định chào hàng sẽ không thể bị hủy bỏ
+ Nếu trường hợp người chào hàng quy định trong chào hàng rằng chào hàng sẽ khôngthể bị hủy bỏ thì người chào hàng không thể viện lí do gì để thoát khỏi trách nhiệm củamình đối với nội dung chào hàng
+ Nếu người được chào hàng đã coi chào hàng là loại chào hàng không thể bị hủy bỏ làhợp lí và người được chào hàng đã hành động một cách hợp lý
1.4 Hình thức của hợp đồng
Điều 11 quy định hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế không cần phải kí kết hoặcxácnhận bằng văn bản hay phải tuân thủ bất cứ yêu cầu nào về mặt hình thức của hợpđồng: “Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng lời khai của nhânchứng” Phù hợp với nội dung của Điều 11 trên đây, để tạo ra điều kiện pháp lí cho chàohàng và chấp nhận chào hàng có hiệu lực về mặt hình thức, Điều 24 Công ước quy địnhmột chào hàng, một thông báo chấp nhận chào hàng hoặc bất cứ sự thể hiện ý chí nàokhác trong giao kết hợp đồng được coi là đến tay bên nhận khi nó được thông tin bằng lời
Trang 11nói với bên nhận hoặc được giao đến tay bên nhận dưới “bất cứ phương tiện gì” đến trụ
sở kinh doanh của bên nhận hoặc nếu không có trụ sở kinh doanh thì đến địa chỉ thư tínhoặc nơi thường trú của bên nhận
Việc quy định hình thức của hợp đồng được coi là hợp pháp ở dưới bất cứ dạngvật chất nào là rất mềm dẻo vì nó đã không hạn chế sự tham gia giao kết hợp đồng củacác thương nhân đến từ các nước mà pháp luật quy định hợp đồng mua bán hàng hoáquốc tế phải được thể hiện dưới hình thức văn bản
Theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói,bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể (Khoản 1 Điều 24 Luật Thương Mại2005) Riêng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luật Thương Mại 2005chỉcông nhận theo hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trịpháp lý tươngđương.Theo BLDS 2005, hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng vănbản hoặc bằng hành vi cụthể, trừ một số loại hợp đồng có yêu cầu riêng
2 Mua bán hàng hóa
2.1 Nghĩa vụ của Người Bán
Theo Điều 30 của CISG: “Người bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ liên quan đếnhàng hóa và chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa theo đúng quy định của hợp đồng vàcủa Công ước này”
2.1.1 Nghĩa vụ giao hàng
2.1.1.1 Về địa điểm và thời hạn giao hàng
Vì tính chất của hợp đồng là thỏa thuận ý chí của các bên nên việc giao hàng được ưutiên thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng Thông thường, khi các bên ký kết với nhauthường sẽ thỏa thuận về địa diểm giao hàng, cách thức giao hàng, điều kiện giao hàng…
và những thỏa thuận này sẽ được quy định tai các điều khoản của hợp đồng Và đây cũng
là cơ sở để các bên thực hiện hợp đồng và cũng là căn cứ cho các bên bảo vệ quyền và lợiích của mình khi bị xâm hại
Trang 12Về địa điểm giao hàng, trong trường hợp hợp đồng không quy định người bán bắtbuộc phải giao hàng tại một nơi nhất định nào đó, thì nghĩa vụ giao hàng của người bánlà:
- “Nếu hợp đồng mua bán quy định cả việc vận chuyển hàng hoá thì người bánphải giao hàng cho người chuyên chở đầu tiên để chuyển giao cho người mua” Quy địnhnày áp dụng trong trường hợp hợp đồng có quy định về việc vận chuyển Và người bán
có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên
- “Trong những trường hợp không phải ở điểm nói trên, mà đối tượng của hợpđồng mua bán là hàng đặc định hoặc là hàng đồng loại phải được trích ra từ một khốilượng dự trữ xác định hoặc phải được chế tạo hay sản xuất ra và vào lúc ký kết hợp đồng,các bên đã biết rằng hàng đã có hay đã phải được chế tạo hoặc sản xuất ra tại một nơi nào
đó thì người bán phải có nghĩa vụ đặt hàng dưới quyền định đoạt của người mua tại nơiđó” Đây là một địa điểm mà người mua sẽ đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của ngườibán trong trường hợp hợp đồng không dự liệu các điểm nói trên và hàng hóa trong hợpđồng là hàng đồng loại hay hàng đặc định được trích ra từ một khối lượng dự trữ
- “Trong các trường hợp khác, người bán có nghĩa vụ đặt hàng dưới quyền địnhđoạt của người mua tại nơi nào mà người bán có trụ sở thương mại vào thời điểm ký kếthợp đồng” Như vậy, trong các trường hợp khác, trụ sở thương mại của người bán vàothời điểm kí kết hợp đồng là địa điểm để người bán đặt hàng hóa dưới quyền định đoạtcủa người mua
Về thời hạn giao hàng, người bán phải giao hàng vào đúng ngày hoặc vào bất kì thờiđiểm nào trong khoảng thời gian được quy định trong hợp đồng Trong các trường khác,người bán sẽ giao hàng “trong một thời gian hợp lý tính từ thời điểm hợp đồng được giaokết”
Ngoài ra, nếu các bên có thỏa thuận thì người bán còn có nghĩa vụ thu xếp việcchuyên trở và mua bảo hiểm cho hàng hóa Cụ thể, trong thu xếp việc chuyên trở hàng