Phân tích, đánh giá hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty rau quả Việt Nam sang thị trường Viễn Đông- Liên bang Nga trong thời gian qua, qua đó chỉ ra được những thành tựu đạt được và nhữ
Trang 1Mở đầu
Ngày nay, hoạt động ngoại thương trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ
và mang tính rộng khắp Hơn bao giờ hết, nó trở thành một hoạt động thương mại cực kỳ quan trọng đối với mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp Nó cho phép mỗi quốc gia khai thác được lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước Đối với Việt Nam, hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước Bởi vậy Đảng cộng sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của xuất khẩu Có như vậy Việt Nam mới có điều kiện, khả năng mở rộng hội nhập với thế giới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội ổn định đời sống nhân dân
Từ đặc điểm nền kinh tế sản xuất nông nghiệp, có tiềm năng lớn về sản xuất rau quả nhiệt đới, Việt Nam đã xác định đây là nguồn lợi có giá trị lớn, đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của nguời tiêu dùng Do vậy, phát triển sản xuất rau quả gắn với công nghiệp chế biến, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu đã trở thành một mục tiêu phát triển nền kinh tế đất nước.
Trong hoạt động xuất khẩu của mình, Việt Nam có ngày càng nhiều các đối tác song có lẽ Liên Bang Nga là bạn hàng có mối quan hệ đặc biệt nhất và lâu năm nhất đối với Việt Nam Trong những năm nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, Liên Xô là người bạn lớn luôn kề vai sát cánh ủng hộ chúng ta về cả vật chất lẫn tinh thần Rồi khi bước vào thời kỳ xây dựng XHCN, Chính phủ và nhân dân Liên Xô cũng đã nhiệt tình giúp đỡ Việt Nam trông những ngày đầu khó khăn bằng các hành động thiết thực như đã ký với chúng ta một số hiệp định tương trợ về kinh tế trong đó có Hiệp định rau quả Việt Xô Hiệp định này đã góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy ngành rau quả tuy có nhiều tiềm năng nhưng còn non trẻ của Việt Nam phát triển
Trang 2Kể từ sau khi Liên Xô tan rã, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Liên Bang Nga và các nước SNG cũng có nhiều thay đổi Ngành rau quản - vốn coi Liên Bang Nga là một bạn hàng lớn cũng gặp phải những khó khăn do sự thay đổi này Chính vì vậy việc xem xét lại quá trình hợp tác buôn bán giữa hai nước để từ đó có cái nhìn đúng đắn về thực trạng cũng như tìm ra giải pháp để khắc phục khó khăn thiết nghĩ cũng là một việc nên làm Bằng những nhận thức của mình sau bốn năm học và đợt thực tập tìm hiểu thực tế tại Tổng công ty rau quả Việt Nam, tôi quyết định chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty rau quả Việt Nam sang Viễn Đông - Liên Bang Nga" Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm củng cố, bổ sung và mở rộng những kiến thức thực tế, vận dụng những lý thuyết đã học vào giải quyết một vấn đề thực tiễn trong đời sống kinh tế - xã hội Phân tích, đánh giá hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty rau quả Việt Nam sang thị trường Viễn Đông- Liên bang Nga trong thời gian qua, qua đó chỉ ra được những thành tựu đạt được và những tồn tại cần khắc phục Từ đó tìm ra những phương hướng, biện pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu rau quả của Tổng công ty trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển của hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty rau quả Việt Nam trên thị trường Viễn Đông-Liên Bang Nga.
Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi là hoạt động xuất khẩu của Tổng công
ty rau quả Việt Nam.
Kết cấu của bài viết như sau: Ngoài phần mục lục, lời cam đoan, lời nói đầu, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương sau:
Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thúc đẩy xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân.
Chương II: Thực trạng xuất khẩu của Tổng công ty rau quả Việt Nam sang
Trang 3Viễn Đông -Liên Bang Nga.
Chương III: Những giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của Tổng công ty rau quả Việt Nam sang Viễn Đông - Liên Bang Nga.
CHƯƠNG i một số Vấn Đề CƠ BảN Về thúc đẩy xuất khẩu
TRONG NềN Kinh tế quốc dân
I Khái niệm, các hình thức và vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền
kinh tế quốc dân
1 Khái niệm về hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thương, trong đó hànghoá và dịch vụ bán cho nước ngoài nhằm thu ngoại tệ
Nếu xem xét góc độ dưới hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu làhình thức cơ bản đầu tiên của doanh nghiệp khi bước vào doanh nghiệp kinhdoanh quốc tế Mọi công ty luôn hướng tới xuất khẩu những sản phẩm củamình ra nước ngoài Xuất khẩu còn tồn tại ngay cả khi công ty đã thực hiệnđược các hình thức cao hơn trong kinh doanh quốc tế Các lý do để một công
ty thực hiện xuất khẩu là: Thứ nhất, sử dụng khả năng vượt trội (hoặc nhữnglợi thế) của công ty Thứ hai, giảm được chi phí cho một đơn vị sản phẩm donâng cao khối lượng sản xuất Thứ ba, nâng cao được lợi nhuận công ty Thứ
tư, giảm được rủi ro do tối thiểu hóa sự giao động của nhu cầu
Khi một thị trường chưa bị hạn chế bởi thuế quan, hạn ngạch, các quyđịnh về tiêu chuẩn kỹ thuật, trên thị trường còn ít đối thủ cạnh tranh hay
Trang 4năng lực của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế chưa đủ để thực hiện cáchình thức cao hơn thì hình thức xuất khẩu thường được lựa chọn Bởi vì sovới đầu tư thì rõ ràng xuất khẩu đòi hỏi một lượng vốn ít hơn, rủi ro thấp hơnvà đặc biệt là thu được hiệu quả kinh tế trong một thời gian ngắn.
2 Các hình thức xuất khẩu
Xuất khẩu không phải là hành vi mua bán đơn lẻ mà là cả hệ thống cácquan hệ mua bán, đầu tư từ trong nước ra bên ngoài nhằm mục đích đẩymạnh sản xuất hàng hoá, chuyển đổi kinh tế cho phù hợp và từng bước nângcao đời sống nhân dân Hiện nay trên thế giới, tuỳ điều kiện hoàn cảnh củamỗi quốc gia cũng như từng chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế màngười ta lựa chọn các phương thức giao dịch khác để tiến hành một cách cóhiệu quả hoạt động này
Như vậy, hoạt động xuất khẩu mang tính đa dạng về hình thức Trongquản lý, căn cứ vào các hệ thống phân loại khác nhau có thể phân hoạt độngxuất khẩu thành các hình thức sau:
2.1 Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc nhà sản xuất trực tiếp tiến hành các giaodịch với khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức cuả mình Hình thứcnày được áp dụng trong khi nhà sản xuất đã đủ mạnh để tiến tới thành lập tổchức bán hàng riêng của mình và kiểm soát trực tiếp thị trường Tuy rủi rokinh doanh có tăng lên song nhà sản xuất có cơ hội tăng thu lợi nhuận nhờgiảm bớt các chi phí trung gian và nắm bắt kịp thời các thông tin về biếnđộng thị trường để có biện pháp đối phó
Trang 52.2 Gia công xuất khẩu
Trong hình thức này, các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩuđứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho các doanh nghiệpgia công sau đó thu hồi thành phẩm để xuất lại cho bên nước ngoài vàhưởng thù lao gọi là phí gia công
Hình thức này có ưu điểm là không cần bỏ vốn vào kinh doanh nhưngđạt hiệu quả tương đối cao, rủi ro thấp, thanh toán bảo đảm Nhưng đòi hỏiphải có một đội ngũ cán bộ kinh doanh có nhiều kinh nghiệm về nghiệm vụgia công xuất khẩu Khi ký hợp đồng gia công với nước ngoài cần có người
am hiểu về việc kýkết hợp đồng, mặt hàng gia công để đạt hiệu quả caonhất
2.3 Xuất khẩu uỷ thác
Xuất khẩu uỷ thác được áp dụng trong trường hợp một doanh nghiệp cóhàng hoá muốn xuất khẩu, nhưng không được phép tham gia trực tiếp vàohoạt động xuất khẩu hoặc không có điều kiện để tham gia Khi đó, họ sẽ uỷthác cho doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu làm dịch vụxuất khẩu hàng hoá cho mình Bên nhận uỷ thác sẽ thu được phí uỷ thác
2.4 Buôn bán đối lưu
Đây là hình thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ vớinhập khẩu người bán hàng đồng thời là người mua, lượng hàng hoá trao đổicó giá trị tương đương
Trong trường hợp này, mục đích của xuất khẩu không nhằm thu về mộtkhoản ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trị tương đươngvới lô hàng xuất khẩu Có nhiều hình thức buôn bán đối lưu như: hàng đổi
Trang 6hàng (phổ biến), trao đổi bù trừ, chuyển giao nghĩa vụ
2.5 Xuất khẩu theo nghị định thư
Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thườnglà hàng trả nợ) được ký kết theo nghị định thư giữa hai Chính phủ Xuấtkhẩu theo hình thức này có ưu điểm là đảm bảo được thanh toán (do Nhànước là người thanh toán cho doanh nghiệp)
2.6 Xuất khẩu tại chỗ
Theo hình thức này hàng hoá và dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài biêngiới nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu Đó làviệc cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các đoàn ngoại giao, cho khách dulịch quốc tế Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt hiệu quả cao do giảmbớt chi phí bao bì đóng gói, chi phí vận tải, chi phí bảo quản, thời gian thuhồi vốn nhanh
2.7 Tạm nhập, tái xuất
Tạm nhập tái xuất là hình thức xuất khẩu đi những hàng hoá đã nhậpkhẩu trước đây và chưa tiến hành các hoạt động chế biến Mục đích củahoạt động này là nhằm thu về lượng ngoại tệ lớn hơn lượng ngoại tệ bỏ raban đầu, hàng hoá có thể đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất sang nướcnhập khẩu hoặc đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu Sau đónước tái xuất sẽ thu tiền của nước nhập khẩu và trả tiền cho nước xuất khẩu
3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân
Xuất khẩu đã được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt độngkinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Việc mở
Trang 7rộng xuất khẩu để tăng thu nhập về ngoại tệ cho và cho nhu cầu xuất khẩucũng như tạo cơ sở cho phát triển hạ tầng là một mục tiêu quan trọngnhấtcủa chính sách thương mại
3.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đườngtất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát phát triển Để côngnghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn đòi hỏi phải có một số vốn rấtlớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:Đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thungoại tệ, xuất khẩu lao động Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vaynợ và viện trợ tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này haycách khác ở thời kỳ sau này Như vậy, nguồn vốn quan trọng nhất để nhậpkhẩu CNH - HĐH đất nước là xuất khẩu Xuất khẩu quyết định quy mô vàtốc độ tăng của nhập khẩu
3.2 Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùngmạnh mẽ Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiệnđại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợpvới xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 8Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuấtvượt quá nhu cầu nội địa Theo cách này nếu một nền kinh tế còn lạc hậu vàchậm phát triển, sản xuất chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng trong nướcmà cứ chờ đợi sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu sẽ cứ nhỏ bé và tăngtrưởng chậm chạp
Hai là, coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất
Ta sẽ tập trung đi sâu vào quan điểm này Theo quan điểm này, xuất khẩucó tác động tích cực tới dịch chuyển cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất pháttriển thể hiện ở:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuậnlợi Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủcho việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông hay thuốcnhuộm Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuấtkhẩu sẽ có thể kéo theo phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết
bị phục vụ nó
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần chosản xuất phát triển ổn định
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sảnxuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nângcao năng lực sản xuất trong nước
- Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoànthiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh để nâng cao khả năng
Trang 9cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thế giới
3.3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt Trước hếtsản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc vàcó thu nhập không thấp Xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu vậtphẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sốngvà đáp ứng ngày một phong phúthêm nhu cầu tiêu dùng của người dân
3.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụthuộc lẫn nhau Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại, có thể hoạtđộng xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác tạo điềukiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn, xuất khẩu và côngnghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộngvận tải quốc tế Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại nêu trên lạitạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu
II Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng hoá
1 Nghiên cứu thị trường
Đây là bước cơ bản, quan trọng quyết định sự thành công hay thất bạicủa một doanh nghiệp tại một thị trường nhất định Do đó, các doanh nghiệpphải có sự đầu tư về thời gian và tài chính thích đáng cho công tác này.Nghiên cứu thị trường bao gồm: Nghiên cứu về môi trường luật pháp, chínhtrị, kinh tế, văn hoá và con người (Hành vi tiêu dùng), môi trường cạnhtranh Đây là những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp buộc các doanh nghiệp
Trang 10phải chấp nhận khi kinh doanh tại một thị trường
Nghiên cứu thị trường được thực hiện bằng hai phương pháp: Nghiêncứu tại bàn và nghiên cứu tại hiện trường Nghiên cứu tại bàn là phươngpháp nghiên cứu dựa trên các tại liệu, sách báo, ấn phẩm của các cơ quanNhà Nước, tổ chức quốc tế phát hành Ưu điểm của phương pháp này là chiphí rẻ song thông tin đưa ra không cập nhật, không phản ánh được bản chấtthị trường Nghiên cứu tại hiện trường là phương pháp nghiên cứu thị trườngdựa trên cơ sở các số liệu thực tế được xử lý bằng các công cụ thống kê Ưuđiểm của phương pháp này là những thông tin đưa ra có độ tin cậy cao phảnánh được bản chất thị trường song nhược điểm của phương pháp này là đòihỏi chi phí (Thời gian và tài chính) lớn
2 Tạo nguồn hàng xuất khẩu
Hàng xuất khẩu là tiền đề vật chất của xuất khẩu hàng hoá Nguồnhàng xuất khẩu được hình thành từ các nguồn sau:
2.1 Theo chế độ phân cấp quản lý
Nguồn hàng thuộc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước: Đây là những mặt hàngmà Nhà Nước đã cam kết giao cho nước ngoài trên cơ sở những hiệp định(Hiệp định thương mại, Hiệp định hợp tác sản xuất ) hoặc nghị định thưhàng năm Sau khi đã ký kết các hiệp định hoặc nghị định thư với nướcngoài, Nhà Nước phân bổ chỉ tiêu cho các đơn vị sản xuất để các đơn vị nàyphải giao nộp hàng xuất khẩu Vì thế đối với các đơn vị ngoại thương nguồnhàng này được đảm bảo cả về mặt số lượng, chất lượng và thời hạn giaohàng
Nguồn hàng ngoài kế hoạch: Gồm những mặt hàng sản xuất lẻ tẻ Các
Trang 11tổ chức kinh doanh xuất khẩu căn cứ vào nhu cầu của thị trường nước ngoàitiến hành sản xuất, thu mua, chế biến theo số lượng, chất lượngvà thời hạngiao hàng đã hoặc sẽ được thoả thuận với khách hàng nước ngoài
2.2 Theo đơn vị giao hàng
Các đơn vị kinh doanh xuất khẩu có thể mua, huy động hàng xuất khẩutừ các nguồn sau: Các doanh nghiệp công nghiệp trung ương và địa phương,các doanh nghiệp nông - lâm trung ương và địa phương, các cơ sở sản xuấttiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, các doanh nghiệp trực thuộc
2.3 Theo phạm vi phân công của đơn vị kinh doanh xuất khẩu
Nguồn hàng trong địa phương là nguồn hàng nằm trong khu vực hoạtđộng của đơn vị kinh doanh đó Ví dụ đối với một đơn vị ngoại thương tỉnhthì nguồn hàng trong tỉnh là nguồn hàng trong địa phương
Nguồn hàng ngoài địa phương là nguồn hàng không thuộc phạm viphân công cho đơn vị ngoại thương thu mua nhưng đơn vị đã tranh thủ lậpđược quan hệ cung cấp hàng xuất khẩu
Các đơn vị kinh doanh xuất khẩu phải nắm bắt được nhu cầu thị trườngnước ngoài để tạo nguồn hàng cho xuất khẩu kịp thời, đầy đủ tránh tìnhtrạng giao hàng chậm hoặc thiếu
3 Lựa chọn đối tác kinh doanh
Để thâm nhập thành công thị trường xuất khẩu nước ngoài, doanhnghiệp có thể thông qua một hoặc nhiều doanh nghiệp đang hoạt động trênthị trường đó Các công ty này có thể là công ty nước sở tại hoặc công tynước khác đang kinh doanh trên thị trường đó nhưng doanh nghiệp nên lựa
Trang 12chọn các công ty có kinh nghiệm, uy tín trên thị trường, có tiềm lực tàichính làm đối tác trong hoạt động kinh doanh
Khi lựa chọn đối tác kinh doanh, các doanh nghiệp cần thận trọng tìmhiểu đối tác về tất cả các mặt mạnh yếu của họ Các doanh nghiệp có thểlựa chọn đối tác trên cơ sở bạn hàng có sẵn hoặc có thể thông qua các công
ty môi giới, tư vấn, cơ sở giao dịch hoặc phòng thương mại và công nghiệpcác nước có quan hệ
4 Đàm phán ký kết hợp đồng
Đàm phán có các hình thức sau: Đàm phán qua thư tín, đàm phán quađiện thoại và đàm phán bằng gặp gỡ trực tiếp
Đàm phán được thực hiện qua các bước sau:
- Chào hàng: Là việc nhà kinh doanh thể hiện rõ ý định bán hàngcủa mình đồng thời là lời đề nghị ký kết hợp đồng
- Hoàn giá (mặc cả): Là khi người nhận lời chào không chấp nhậnmức giá chào đó mà đưa ra mức giá mới để thương lượng
- Chấp nhận: Là sự chấp nhận tất cả các điều kiện mà bên kia đưa
ra
- Xác nhận: Là việc xác nhận lại điều kiện mà mà hai bên đã thoảthuận trước đó Bước này thường trùng với bước ký kết hợp đồng
- Khi ký kết hợp đồng xuất khẩu cần chú ý các điểm sau:
- Hợp đồng phải được trình bày rõ ràng, sáng sủa, nội dung phảnánh đúng, đầy đủ các vấn đề đã thoả thuận
Trang 13- Ngôn ngữ dùng trong hợp đồng phải là ngôn ngữ thông dụng, phổbiến và cả hai bên phải thông thạo ngôn ngữ này
- Người ký kết hợp đồng phải là người có đủ thẩm quyền ký kết
- Hợp đồng nên đề cập vấn đề khiếu nại, trọng tài để giải quyết cáctranh chấp (nếu có), tránh tình trạng tranh cãi, kiện tụng kéo dài
5 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết, doanh nghiệpkinh doanh xuất khẩu với tư cách là một bên tham gia ký kết phải có nghĩavụ thực hiện hợp đồng đó Đây là một công việc phức tạp, nó đòi hỏi phảituân thủ luật pháp quốc tế, tập quán quốc tế và luật của mỗi quốc gia nhưngphải đảm bảo được quyền lợi của quốc gia cũng như quyền lợi và uy tín củabản thân doanh nghiệp
Để thực hiện hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩucần thực hiện các bước công việc sau:
- Xin giấy phép xuất khẩu (nếu cần)
- Kiểm tra L/C xem có đúng với hợp đồng đã ký kết hay không
- Chuẩn bị để giao hàng
- Kiểm tra hàng hoá
- Thuê tàu hoặc uỷ thác thuê tàu (nếu cần)
III NHữNG NHÂN Tố ảNH HƯởng đến hoạt động xuất khẩu
Trong điều kiện kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp hoạt độngxuất khẩu phải thường xuyên nắm bắt các yếu tố của môi trường xuất khẩu,
Trang 14xu hướng vận động và tác động của nó đến toàn bộ quá trình của hoạt độngxuất khẩu Các nhân tố này đã trở nên thật sự quan trọng đối với hoạt độngxuất khẩu
1 Điều kiện sản xuất trong nước
1.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên là yếu tố khách quan, không nằm trong sự kiểm soátcủa con người Đó là cái mà thiên nhiên ban tặng cho mỗi nước Điều kiệntự nhiên có thể kể đến là khí hậu, đất đai, tài nguyên thiên nhiên và vị tríđịa lý Và sự ảnh hưởng của nó không nhỏ đối với hoạt động sản xuất vàhoạt động xuất khẩu Chúng ta đều biết đất đai và tài nguyên thiên nhiên làhai trong số
Trang 15năm yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất Vì thế khi chúng ta cóđược hai yếu tố này hoạt động sản xuất sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ hơn gópphần tăng sản lượng sản phẩm xuất khẩu Bên cạnh đó khí hậu cũng là nhântố ảnh hưởng đến năng suất và kế hoạch của xuất khẩu Chẳng hạn khichúng ta đã ký hợp đồng xuất khẩu gạo sang Mỹ nhưng khi lúa sắp đượcmùa thì bão ập đến và vụ này thất thu chúng ta không thể có đủ hàng đểxuất sang Mỹ Đây là một điều khó có thể lường trước được
1.2 Năng lực về vốn, công nghệ và nguồn nhân lực
Đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chiến lượcvà thời cơ xuất khẩ, là cơ sở hạ tầng đảm bảo cho sự phát triển sản xuất vàphát triển kinh tế đất nước
Vốn quyết định đến quá trình xuất khẩu và kết quả của hoạt động xuấtkhẩu Có vốn hoạt động xuất khẩu được mở rộng, các nguồn hàng cho xuấtkhẩu phong phú hơn với chất lượng cao hơn đáp ứng được nhu cầu củakhách hàng Mặt khác, thị trường xuất khẩu sẽ được mở rộng sang các nướcvà khối các nước có nhu cầu cao về hàng xuất khẩu của chúng ta mà trướckia chúng ta không vào được
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tác động tích cực đến các mặtcủa đời sống kinh tế xã hội Chính nhờ sự phát triển của hệ thống bưu chínhviễn thông các doanh nghiệp ngoại thương có thể đàm phán trực tiếp vớikhách hàng qua điện thoại, telex, fax giảm bớt được chi phí đi lại
Nguồn nhân lực là yếu tố trọng tâm để hoạt động xuất khẩu được thựchiện Cụ thể đó là những con người đang dẫn dắt, thực hiện hoạt động xuấtkhẩu Con người chính là chủ thể của hoạt động xuất khẩu, điều khiển mọi
Trang 16bước đi của nó Vì vậy có được một nguồn nhân lực dồi dào, giàu kinhnghiệm, có trình độ cao là mục tiêu của các doanh nghiệp xuất khẩu nhằmđưa xuất khẩu sớm đi đến đích của nó
2 Môi trường chính trị luật pháp
Môi trường chính trị của quốc gia hay khu vực có tác động trực tiếp đếnhoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Môi trường chính trị thể hiện ở tínhổn định về chính trị và thái độ ứng xử của chính phủ đối hoạt động của cônh
ty nước ngoài Không một nhà kinh doanh nào lại muốn xuất khẩu hàng hoácủa mình đến một thị trường mà thường xuyên xảy ra đình công, bạo động,đang có chiến tranh, hoặc chính phủ nước đó không hoan nghênh do nó ảnhhưởng đến lợi ích của doanh nghiệp
Luật pháp của từng quốc gia hay luật quốc tế cũng có tác động đếnhoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Nói một cách khái quát, luật phápsẽ quyết định và cho phép những hình thức, những loại mặt hàng màdoanh nghiệp được phép, khuyến khích, hoặc không được phép hoặc hạnchế xuất khẩu ở nước đó cũng như khu vực đó
3 Môi trường văn hoá xã hội
Môi trường văn hoá xã hội được coi là một tổ hợp phức tạp bao gồmnhiều yếu tố, tín ngưỡng, luật pháp, phong tục tập quán, thói quen tiêudùng Đây là điều mà các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu cần chú ý.Chẳng hạn, những người ấn độ không bao giờ ăn thịt bò, những người theođạo Hồi không được phép ăn mặc hở hang các doanh nghiệp cần biếtnhững nét văn hoá đặc trưng của từng dân tộc để có các chiến lược xuấtkhẩu phù hợp
Trang 174 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế với các yếu tố như thu nhập quốc dân, chính sáchtiền tệ, nền tài chính quốc gia, biện pháp khống chế lạm phát của Chínhphủ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu Việc am hiểu nhữngyếu tố thuộc môi trường kinh tế sẽ giúp các doanh nghiệp hạn chế được rủi
ro khi xâm nhập vào thị trường nước ngoài
IV Vai trò của sản xuất và xuất khẩu rau quả trong nền kinh tế việt nam
1 Đặc điểm của mặt hàng rau quả
Các loại rau quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứatuổi, ngành nghề Trong rau quả có các loại đường dễ tiêu, các loại axit hữu
cơ, prôtêin, lipit, chất khoáng và các hợp chất thơm và các chất khác, cónhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2, B6, C và chất khoáng Gần đâykhoa học dinh dưỡng đã kết luận rằng rau quả còn cung cấp cho con ngườinhiều chất xơ, có tác dụng giải các độc tố phát sinh trong quá trình tiêu hoáthức ăn và có tác dụng chống táo bón Do vậy trong chế độ dinh dưỡng củacon người, rau quả là thức ăn không thể thiếu và ngày càng trở nên quantrọng
Mặt hàng rau quả có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Đặc điểm đặc thù của mặt hàng rau quả tươi là dễ bị dập nát, hư hỏngtrong quá trình thu hoạch và vận chuyển, do đó ảnh hưởng đến chấtlượng và mẫu mã Nếu buôn bán, xuất khẩu sản phẩm rau quả tươi thìnên đưa hàng trực tiếp từ nơi thu mua đến nơi giao hàng để hạn chếtổn thất Trong trường hợp thu mua để sản xuất chế biến thì phải cócông tác bảo quản đế hàng hoá giữ được chất lượng cần thiết
Trang 18- Những thay đổi về điều kiện tự nhiên cũng như sự thay đổi về thờitiết, tình hình dịch bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượngcây trồng Do đó, làm ảnh hưởng đến giá cả và ảnh hưởng trực tiếpđến xuất khẩu.
- ở những những năm được, các nông hộ thu hoạch được sản lượng cao,trong khi đó nhu cầu thì không biến đổi đáng kể, điều này dẫn đếntình trạng giá cả có chiều hướng giảm Theo đúng quy luật thì thịtrường sẽ điều tiết quan hệ cung cầu làm giá cả tăng trở lại Nhưngtrong thực tế, do điều kiện tự nhiên thuận lợi làm cho các hộ nông dânlại được mùa, như vậy cung không giảm mà lại tăng làm cho giá tiếptục giảm một cách nghiêm trọng Trong trường hợp ngược lại, do thiêntai, sâu bệnh sản xuất mất mùa, cung cấp sản phẩm giảm làm giáthành sản phẩm tăng Trong trường hợp này, lợi ích của người sảnxuất, người mua đều bị thiệt hại Thêm nữa, yếu tố tâm lý và đặc thùcủa sản phẩm cũng có thể gây ra những ảnh hưởng nhất định trên thịtrường Khi giá rau quả tươi giảm, người mua có thể điều tiết quy môtiêu dùng của mình để được hưởng lợi ích cao do giá ngày càng giảm,trong khi đó người sản xuất do tâm lý sợ bị lỗ và do tính chất tươisống của hàng hoá lại có xu hướng tung sản phẩm ra thị trường càngnhanh càng tốt Chình điều này làm tăng tình hình biến động giá trênthị trường một cách giả tạo, ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ nôngdân và có thể dẫn tới tâm lý chuyển đổi hình thức làm ăn của ngườinông dân
- Sản phẩm rau quả là sản phẩm mang tính thời vụ cao, mỗi loại rauquả thường có một thời vụ thu hoạch nhất định thường có 2 vụ thu
Trang 19hoạch chính là vụ hè và vụ đông Vì vậy, căn cứ vào thời vụ, đặc tínhcủa từng loại rau quả, cần được xác định rõ kế hoạch thu mua, vậnchuyển, kho tàng sao cho phù hợp với từng loại rau quả Có một sốloại cây ăn quả phải qua một thời gian đầu tư xây dựng cơ bản mớiđem lại kết quả, nhưng do tình hình biến động của thị trường mà cáchộ nông dân phải thay đổi cây trồng thường xuyên gây thiệt hại lớn.Mặt khác do vấn đề nghiên cứu giống và năng suất cây trồng chưađược tốt mà sản phẩm ở nước ta không đồng bộ, chất lượng chưa cao.Điều này cũng gây ảnh hưởng đến lợi ích của nhười nông dân cũngnhư gây khó khăn cho người mua, do đó ảnh hưởng đến hoạt độngxuất khẩu.
Ngoài những đặc điểm trên, sản phẩm rau quả chế biến còn phụ thuộcvào quy trình sản xuất, máy móc thiết bị Do hệ thống dây chuyền sản xuấtrau quả ở nước ta đã quá lạc hậu, lại chưa được đổi mới là bao do thiếuvốn để đầu tư nên đa số máy móc đã ở trong tình trạng tụt hậu so với thếgiới Chính vì vậy, nó gây ảnh hưởng đến việc sản xuất, chế biến rau quảđể tiêu thụ, làm cho sản phẩm chế biến của ta có chất lượng cũng như mẫumã chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của các nước phát triển mà chỉdùng để xuất khẩu sang các nước đang phát triển, những nơi có thu nhậptrung bình khá, dẫn tới cạnh tranh kém
2 Đặc điểm thị trường rau quả thế giới
Sản xuất rau quả là ngành quan trọng trong nền nông nghiệp củanhiều nước trên thế giới Hiện nay, diện tích trồng cây ăn quả của thế giớikhoảng 12 triệu ha, năng suất 30-35 tấn/ha, sản lượng đạt 430 triệu tấn,bình quân đầu người đạt 69kg quả/năm (Pháp 191kg, Nhật 160 kg) Diện
Trang 20tích trồng rau của thế giới khoảng 15 triệu ha, năng suất 35-40 tấn/ha, sảnlượng đạt 590 triệu tấn Tiêu thụ bình quân đầu người là 85 kg rau/năm(riêng Châu á đạt 90 kg).
Về hoa và cây cảnh, năm 1996 sản lượng thế giới đạt khoảng 20 tỷUSD, trong đó 3 nước đứng đầu (chiếm khoảng 50% giá trị sản lượng toànthế giới) là Nhật (3,736 tỷ USD), Hà Lan(3,58 tỷ USD), và Mỹ (3,27tỷ).Trồng hoa, cây cảnh có giá trị rất cao như iseaen, với diện tích trồnghoa là 6.200ha, hàng năm đã thu được 1,8 tỷ USD xuất khẩu
Về năng suất, chất lượng: Do ứng dụng những thành tựu về khoa họckỹ thuật nên nhiều nước đã tạo ra được những giống cây trồng có chấtlượng cao, có khả năng chịu hạn, chống sâu bệnh và có năng suất cao, vídụ cam quýt có thể tới 80 tấn/ha, dứa 120 tấn/ha, cà chua 500 tấn/ha, đậucovert 40 tấn/ha
Theo dự báo của Tổ chức Nông Lương thế gới (FAO), trong thời kỳ2001-2010, nhu cầu tiêu thụ rau quả của thế giới tăng nhanh vì tốc độ tăngdân số thế giới tăng 1,5%/năm, đến năm 2005 đạt 6,5 tỷ người, năm 2010đạt 7 tỷ người; tốc độ phát triển kinh tế thế giới tăng 3-4%/ năm, tốc độphát triển thương mại tăng 6-7%/ năm; nhu cầu tiêu thụ rau quả tăng 3,6%/năm, trong khi tốc độ tăng sản lượng rau quả chỉ đạt 2,8%/năm
Trình độ phát triển về dân trí và xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến sựthay đổi cơ cấu bữa ăn, người dân sẽ giảm tiêu dùng các loại thức ăn nhiềuchất béo, chất tinh bột mà tăng tiêu dùng các loại rau quả, ruợu, bia vànước giải khát Nhu cầu tiêu dùng rau quả sạch có chất lượng cao ngàycàng tăng do đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện
Trang 21Trong những năm qua, số lượng rau quả nhập khẩu tăng bình quân1,8%/ năm Theo dự báo của FAO, với tốc độ này, đến năm 2010 số lượngrau quả nhập khẩu toàn thế giới sẽ đạt khoảng 1,7 triệu tấn Các nướcnhập khẩu chủ yếu là Pháp, Đức, Canađa, Anh, Mỹ, Nga Đến năm 2010,số lượng rau quả xuất khẩu trên thế giới khoảng 1,8 triệu tấn Các nướcxuất khẩu rau quả chủ yếu là Trung Quốc, Mỹ, Italia và Hà Lan.
3 Tình hình sản xuất và xuất khẩu rau quả ở Việt Nam
3.1 Điều kiện tự nhiên đối với sản xuất rau quả
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu á, đất nước có chiều dài trên
15 vĩ độ với mấy ngàn km giáp biển Đông, thuộc vùng nhiệt đới gió mùacó mùa đông lạnh (phía Bắc và miền núi), cùng với địa hình từ núi cao đếnđồng bằng, đã tạo nên những lợi thế về địa lý sinh thái so với nhiều nướckhác trong việc trồng trọt
So sánh năm 1995 với 1992, rau đậu từ 445 ngàn ha đã tăng lên 515,8ngàn ha (tăng 15,9%); cây ăn quả từ 260,9 ngàn ha đã tăng lên 346,6 ngàn
Trang 22ha(tăng 32,8%).
Về năng suất: Trong 11 năm qua, năng suất rau quả bình quân cảnước tăng chậm và không ổn định, trong khoảng 11,6-12,6 tấn/ha Các câyăn quả chủ yếu cũng tương tự: Chuối 15,2-16,3 tấn/ha, cam 10 năm liềndao động trong khoảng 7,1-8,9 tấn/ha, dứa 12-7,7 tấn/ha (giảm)
Các vùng sản xuất rau quả: Rau quả nước ta có ở ha à u hết các tỉnh,thàn h phố, với quy mô, chủng loại khác nhau Trải qua quá trình sản xuấtlâu dài, đã hình thành những vùng sản xuất rau quả có tập quán sản xuấtvà kinh nghiệm truyền thống trong các điều kiện sinh thái khác nhau như:Cam, quýt (Đồng Bằng Sông Cửu Long, Hà Giang, Tuyên Quang ); vải,nhãn (tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bắc Bộ) Mặt khác, sự ra đời của hệthống nhà máy chế biến rau quả từ năm 1960 và sự phát triển xuất khẩurau quả, nhất là những năm 1980 - 1990 trong chương trình hợp tác rauquả Việt Xô, đã thúc đẩy sản xuất ở nhiều vùng trong nước như: Rau vụĐông - Xuân ở Đồng Bằng Sông Hồng; ớt, tỏi, hạt tiêu, cam, dứa, chuối,dưa dấu ở cả phía Bắc và phía Nam
Trình độ sản xuất rau quả: Nhìn chung trình độ sản xuất rau quả của tacòn thấp so với nhiều nước trên thế giới Sản xuất rau quả vẫn mang tínhtự phát, sản xuất nhỏ, phân tán, theo tập quán
Tình hình tiêu thụ: Thời gian qua rau quả nước ta chủ yếu là tiêu thụ
Trang 23trong nước, phần huy động cho chế biến và xuất khẩu mới chiếm tỷ lệ nhỏ.Giai đoạn 1980-1990 xuất khẩu chủ yếu sang Liên Xô cũ và Đông âu, nămcao nhất tổng khối lượng rau quả xuất khẩu tươi và nguyên liệu chế biếnkhoảng 300.000 tấn/năm, so với tổng sản lượng rau quả cả nước (khoảng 5triệu tấn, gồm: rau 3 triệu tấn, quả 2 triệu tấn) thì chỉ chiếm khoảng 6%.Mấy năm gần đây tình hình xuất khẩu sang các thị trường nói trên giảm ởtrong nước, tuy sản lượng rau quả bình quân đầu người chưa phải là caonhưng vẫn có tình trạng thừa và thiếu Vào mùa thu hoạch rộ mỗi loại, nơitrồng nhièu thì rất rẻ, còn những nơi khác thì vẫn thiếu và đắt
3.3 Tình hình xuất khẩu
Rau quả Việt Nam được xuất khẩu từ năm 1957 sang Trung Quốc.Những năm 1960 - 1975 sản xuất và xuất khẩu tăng chậm, do ảnh hưởngcủa chiến tranh Từ năm 1976, xuất khẩu rau quả bắt đầu tăng, thị trườngchủ yếu là Liên Xô cũ và Đông Âu, nhất là giai đoạn 1986 -1990 _ giaiđoạn thực hiện Hiệp định rau quả Việt Xô Trong 5 năm này, Tổng công tyrau quả Việt Nam (Vegetexco) đã giao hàng cho Liên Xô cũ gần 500 ngàntấn rau quả tươi và chế biến, kim ngạch 191 triệu Rúp Xuất khẩu năm caonhất (1989) đạt 54,4 triệu Rúp Từ năm 1991, sau những biến động ở LiênXô và Đông Âu, thị trường rau quả truyền thống bị thu hẹp hẳn So với thếgiới, mức xuất khẩu rau quả của ta hiện nay còn rất nhỏ bé Theo tài liệucủa FAO thì năm 1994, tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam là 71,7triệu USD, chỉ chiếm 7,3 % tổng giá trị nông sản xuất khẩu (978 triệuUSD) Trong khi đó, số liệu tương ứng của một số nước Châu á là: TrungQuốc 22,8 %; Thái Lan 20,9 %; Philipin 39,6 %; Thổ Nhĩ Kỳ 49,6 % vớigiá trị kim ngạch lớn hơn nhiều so với của ta
Trang 24Dự báo mức tăng trưởng GDP nước ta thời kỳ 2001-2010 đạt từ 7-8%/năm; mức tiêu thụ rau quả tăng 10%/năm; đến năm 2010 lượng tiêu thịbình quân đầu người đạt khoảng 80-90 kg rau, 60-70 kg quả; khối lượngtiêu dùng rau cả nước từ 7,6-8,6 triệu tấn, khối lượng tiêu dùng quả của cảnước khoảng 5,7-6,7 triệu tấn.
Theo Quyết định số 182/1999/QĐTTg ngày 3/9/1999 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt đề án phát triển rau quả và hoa, cây cảnhthời kỳ 1999 - 2010 thì kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt 1 tỷ USD/năm
3.4 Vai trò của sản xuất và xuất khẩu rau quả đối với nền kinh tế Việt Nam
Rau quả là loại cây có giá trị cao của nền nông nghiệp đồng thời cógiá trị đối với môi trường sinh thái của đất nước Việt Nam là một nước cóđiều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loại rau quả ( nhiệt đới, ánhiệt đới và một số có nguồn gốc ôn đới), hơn 70% lao động trong lĩnh vựcnông nghiệp nên phát triển rau quả sẽ là một lợi thế trong nền kinh tế ViệtNam Phát triển rau quả góp phần khai thác tài nguyên về đất đai, khí hậucủa đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, làmđẹp cho cuộc sồng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái cho đất nước Pháttriển ngành rau quả nhằm góp phần giải quyết một số lượng lớn lao động
dư thừa, mà yêu cầu trình độ đối với đội ngũ này không cần cao lắm
Việc phát triển ngành rau quả trong nước làm cho việc quản lý chấtlượng và vệ sinh thực phâm trong rau quả sẽ đơn giản và dễ dàng hơn đốivới một số cơ quan quản lý thực phẩm
Với dân số đa phần lạ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, cùng với
Trang 25việc xem xét nguyên lý về lợi thế so sánh đã gợi mở cho húng ta một địnhhướng phát triển kinh tế đó là: Trong giai đoạn hiện nay cần phát triểnnhững mặt hàng sử dụng nhiều lao động, ít vốn để sản xuất và xuất khẩu.Nói cụ thể hơn: nước ta phải dựa vào nông nghiệp trong thời gian dài đểtăng kim ngạch xuất khẩu cho công nghiệp phát triển Phát triển côngnghiệp rau quả còn để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biếnthực phẩm và cong nghiệp chế biến tinh dầu.
Phát triển sản xuất và chế biế rau quả không chỉ để đáp ứng nhu cầutrong nước mà còn dùng cho xuất khẩu.Về thực chất đây là biện pháptranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kết hơp với những tiềm năng sẵncó trong nước để phát triển nông nghiệp Việt Nam, góp phần tăng trưởngmạnh cho kinh tế
Xuất khẩu rau quả góp phần tạo nguồn ngoại tệ dùng cho nhập khẩumáy móc, thiết bị kỹ thuật, công nghiệp tiên tiến để phục vụ cho sự nghiệpcông nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Thông qua xuất nhập khẩu ngành rau quả của ta sẽ tham gia cạnhtranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng Đồng thời, hoạt độngxuất khẩu rau quả khuyến khích sản xuất nông nghiệp phát triển
Trong giai đoạn hiện nay, tuy rau quả không còn mang tính chất quantrọng như là một ngành kinh tế mang lại sự phát triển kinh tế vượt bậcnhưng nó vẫn đang và sẽ là một ngành kinh tế có hiệu quả và phù hợp vớinhững nguồn lực hiện có của chúng ta và sản phẩm có thể cạnh tranh đượcđối với các mặt hàng tương tự trên thị trường thế giới
Xuất khẩu rau quả là một bộ phận của hoạt động xuất khẩu, do vậy,
Trang 26nó có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và cácdoan nghiệp xuất nhập khẩu rau quả nói riêng Tổng công ty rau quả ViệtNam là một doanh nghiệp sản xuất và chế biến rau quả lớn nhất nước tahiện nay, thúc đẩy xuất khẩu rau quả sang các thị trường thế giới chính làmục tiêu của Tổng công ty dù ở trong ngắn hạn và dài hạn Với gần 20năm buôn bán với thị trường Nga, Tổng công ty đang tìm mọi biện pháp đểthúc đẩy xuất khẩu sang thị trường này
Trang 27Chương II Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty rau quả Việt Nam sang viễn đông - Liên bang
nga
I giới thiệu chung về Tổng công ty rau quả Việt Nam
Hiện nay, cả nước có khoảng 53 doanh nghiệp trong đó bao gồm cácdoanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh cũng như doanh nghiệp
100 % vốn nước ngoài tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu rau quả,song trong số những doanh nghiệp này Tổng công ty rau quả Việt Nam(Vegetexco) là doanh nghiệp Nhà Nước đầu tiên tham gia vào lĩnh vự cnày và có một bề dày kinh nghiệp hoạt động cũng như thành tích Riêngthị trường Viễn Đông-Liên Bang Nga vốn là thị trường truyền thống củacông ty, được khai thác từ rât sớm Bởi vậy trong phạm vi bài này chỉ xinđược trình bày về hoạt động xuất khẩu của công ty sang vùng Viễn Đông
1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty rau quả Việt Nam
Tổng công ty rau quả Việt Nam (Vegetexco) Được thành lập ngày11/2/1988 theo Quyết định số 63 NN-TCQB/QĐ của Bộ nông nghiệp vàphát triển nông thôn trên cơ sở hợp nhất của các đơn vị sản xuất, chế biếnvà công nghiệp thực phẩm Tiền thân cuả Tổng công ty là Công ty xuấtnhập khẩu rau quả trực thuộc Bộ ngoại thương thành lập năm 1959, đếnnăm 1985 được nâng lên thành Tổng công ty xuất nhập khẩu rau quả thuộcBộ công nghiệp thực phẩm Sở dĩ Tổng công ty được mang tên như ngàynay là vì Tổng công ty đã mở rộng lĩnh vực kinh doanh chuyên ngành kinhtế kỹ thuật đối với rau quả bao gồm các hoạt động từ sản xuất nông nghiệpđến chế biến công nghiệp, xuất nhập khẩu rau quả và nghiên cứu khoa
Trang 28học kỹ thuật chứ không chỉ thực hiện duy nhất hoạt động xuất khẩu rauquả như trước đây Công ty đã có quan hệ làm ăn với những tổ chức kinhtế ở hơn 100 nước khác nhau trên thế giới Quá trình hoạt động của Tổngcông ty có thể được chia làm 3 giai đoạn:
Thời kỳ 1988-1990:
Đây là thời kỳ hoạt động theo cơ chế bao cấp, sản xuất của Tổng công
ty trong thời gian này đang nằm trong quỹ đạo của chương trình hợp tác rauquả Việt-Xô (1986-1990) Đây là chương trình hợp tác lớn thứ hai sauchương trình hợp tác dầu khí và là một trong những mục tiêu chiến lượccủa Đảng và Nhà Nước Thực hiện chương trình hợp tác này cả hai bênđếu có lợi Về phía Liên Xô, đáp ứng được nhu cầu rau quả tươi cho vùngViễn Đông Liên Xô, còn về phía Việt Nam được cung cấp các vật tư chủyếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và có một thị trường tiêu thụ lớn ổnđịnh
Thời kỳ 1991-1995:
Đây là thời kỳ đầu cả nước bước vào hoạt động theo cơ chế thị trường,hàng loạt chính sách mới của nhà nước ra đời và liên tục được hoàn thiệnđã tạo điều kện cho Tổng công ty rau quả Việt Nam có một thị trường lớncho hoạt động sản xuất kinh doanh Nhưng bên cạnh đó, Tổng công tycũng gặp không ít khó khăn: Chương trình hợp tác rau quả Việt Xô thời kỳnày không còn nữa, việc chuyển đổi hoạt động từ bao cấp sang cơ chế thịtrường bước đầu ở các cơ sở của Tổng công ty còn lúng túng, bỡ ngỡ, vừalàm vừa tìm cho mình một hướng đi sao cho thích hợp với môi trường
Trong bối cảnh này, Tổng công ty rau quả Việt Nam đã tích cực mở
Trang 29rộng thị trường, kim ngạch xuất khẩu với các thị trường khác ngoài LiênXô cũ từ một triệu USD (năm 1990) đã tăng lên 23,5 triệu USD (năm1998) Mặt khác, do cố gắng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, đổimới công nghệ và tranh thủ các thiết bị mới nên sản phẩm của công ty đãbước đầu xâm nhập vào một số thị trường mới, trong đó mỗi năm đã xuấtkhẩu hàng trăm container dứa hộp sang Hoa Kỳ.
Thời kỳ từ 1996 đến nay:
Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng trong thời gian qua, Tổng công tyrau quả Việt Nam vẫn liên tục hoạt động có hiệu quả Năm 1996, tổng kimngạch vẫn liên tục gia tăng: Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 36 triệuUSD, tổng doanh thu đạt trên 510 tỷ đồng, nộp nhân sách Nhà Nước 31,3tỷ đồng, lãi ròng 2,4 tỷ đồng Năm 1996 cũng là năm Tổng công ty bắt đầuhoạt động theo Quyết định 90/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, với sốvốn đăng ký là 125,5 tỷ đồng Tổng công ty quản lý 29 đơn vị thành viên(6 công ty, 8 nhà máy, 7 xí nghiệp, 6 nhà trường, một Viện nghiên cứu rauquả và một bệnh viện, ngoài ra còn có hai đơn vị liên doanh nước ngoài).Hiện nay tên giao dịch của Tổng công ty là Vegetexco, trụ sở chínhcủa Tổng công ty đặt tại số 2 Phạm Ngọc Thạch, Đống Đa, Hà Nội
2 Chức năng và nhiệm vụ của Tổng công ty
2.1 Chức năng, quyền hạn
Tổng công ty rau quả Việt Nam có những chức năng, quyền hạn sau:
Một là, Tổng công ty có quyền quản lý sử dụng vốn đất đai và các nguồn nhân lực khác của Nhà Nước theo quy định của pháp luật để thực
Trang 30hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Hai là, Tổng công ty được uỷ quyền cho các đơn vị thành viên hạch toán độc lập nhân danh Tổng công ty thực hiện một số hình thức và mức
độ đầu tư bên ngoài Tổng công ty theo phương án được Hội đồng quản trịphê duyệt
Ba là, Tổng công ty có quyền cho thuê,thế chấp, nhượng bán tài sản
thuộc quyền quản lý của Tổng công tyđể tái đầu tư, đổi mới công nghệ (trừnhững tài sản đi thuê, mượn, giữ hộ, nhận thế chấp)
Bốn là, Tổng công ty được chủ động thanh lý những tài sản kém, mất
phẩm chất, lạc hậu kỹ thuật, không còn nhu cầu sử dụng, tài sản hư hỏngkhông thể phục hồi và tài sản đã hết thời hạn sử dụng
Năm là, Tổng công ty được quyền thay đổi cơ cấu vốn, tài sản phục vụ
cho việc kinh doanh và điều hoà vốn Nhà Nước đối với các doanh nghiệpthành viên tương ứng với nhiệm vụ kinh doanh đã được Tổng công ty phêduyệt
Ngoài ra, Tổng công ty và các đơn vị thành viên có quyền từ chối vàtố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực và thông tin không được phápluật quy định của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào trừ những khoản tựnguyện đóng góp vì mục đích nhân đạo và công ích
2.2 Nhiệm vụ
Ngay từ ngày đầu thành lập Tổng công ty đã có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, Tổng công ty thực hiện nhiệm vụ kinh doanh các sản phảm rau quả và liên doanh với các tổ chức nước ngoài về các lĩnh vực sản xuất
Trang 31nông nghiệp, chế biến công nghiệp và xuất khẩu rau quả.
Thứ hai, Tổng công ty có trách nhiệm phát triển vốn được giao từ kết quả hoạt động kinh doanh của mình.
II Tình hình xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả Việt Nam sang
Viễn Đông - Liên bang Nga
1 Khái quát về thị trường Viễn Đông
1.1 Địa lý và dân số
Vùng Viễn Đông là một vùng kinh tế quan trọng với những tiềm năng
to lớn về gỗ, than đá, nhiên liệu, hơi đốt, sản phẩm biển và các khoáng sảnquý Vùng Viễn Đông nằm ở Viễn Đông Cộng hoà Liên bang Nga, có biêngiới chung với Mông Cổ, Trung Quốc về phía Bắc, phía Đông là Thái BìnhDương giáp Triều Tiên, Nhật Bản Đây là vùng đất khá rộng lớn có diệntích khoảng 6 triệu km2 với dân số 7,5 triệu người tập trung chủ yếu ở cácthành phố và khu công nghiệp lớn Vùng Viễn Đông có hai khu là khuDuyên Hải và khu Khabarovsk và các tỉnh Kamchatka, Xakhalin,Magadan, Chukotka và Amur
1.2 Về giao thông
1.2.1 Đường sắt
Vùng Viễn Đông có một hệ thống đường sắt hiện đại nối liền các khucông nghiệp và khu dân cư Các thành phố lớn trong vùng nằm trong mạnglưới đường sắt quốc gia nối liền với các thành phố của toàn Liên bang Bêncạnh hệ thống đường sắt nội bộ, vùng còn có tuyến đường sắt liên vậnquốc tế nối liền với Mông Cổ và Trung Quốc nằm trong hệ thống đườngsắt liên vận quốc tế với các nước Đông Âu và Việt Nam
Trang 321.2.2 Đường biển
Giao thông đường biển là một lợi thế đặc biệt của vùng Viễn Đôngnói chung và của khu vực Duyên Hải nói riêng Từ đây, tàu biển có thể đitới khắp các nước thuộc khu vực Châu á Thái Bình Dương với một đội tàulớn thứ 2 của Liên Xô cũ bao gồm các tàu chở dầu,tàu chở hàng khô, tàulạnh chở thực phẩm và tàu container Đặc biệt chuyến hàng hải đi từ ViễnĐông qua khu vực Biển Đông sang ấn Độ Dương, là tuyến đường thuậntiện nhất, nhanh nhất để về các cảng ở Tây Nam và Tây Bắc thuộc nướcNga và ngược lại Vận tải biển đối với vùng Viễn Đông của Nga có ýnghĩa quyết định trong việc phát triển kinh tế, nhất là trong điều kiện nướcNga chưa thể nhanh chóng nâng cấp hệ thống giao thông ở vùng này Mặtkhác, sau khi Liên Xô tan rã, các nước cộng hoà trong thành phần của nóđều tuyên bố độc lập Do vậy, nước Nga bị mất quyền kiểm soát, sử dụngđối với nhiều hải cảng then chốt ở Biển Đen, Biển Ban Tích và cả tuyếnđường bộ thuận tiện đi qua các nước Trung á Cho nên, các hải cảng ViễnĐông và lợi ích hàng hải Châu á-Thái Bình Dương, Đông Nam á ngày càngtrở nên quan trọng hơn đối với sự phát triển của đất nước
1.2.3 Hàng không
Có hai sân bay quốc tế lớn có đường bay thẳng tới hầu hết các nướctrong khu vực Châu á Thái Bình Dương, các nước cộng hoà và các thànhphố lớn của Liên Xô cũ
1.3 Về kinh tế
1.3.1 Công nghiệp
Ngành kinh tế phát triển nhất của vùng là kinh tế biển bao gồm công
Trang 33việc đánh bắt và chế biến hải sản, sửa chữa tàu biển chiếm 31 % so vớitổng thu nhập của vùng, công nghiệp năng lượng, nhiên liệu chiếm 7,6 %,công nghiệp chế tạo máy chiếm 24,3 %, công nghiệp khai thác và chế biếngỗ chiếm 5,8%, côngnghiệp vật liệu xây dựng chiếm 6,7 %, công nghiệpnhẹ chiếm 4,1 %, công nghiệp thực phẩm chiếm 9,9 %.
1.3.2 Nông nghiệp
Có thể nói nông nghiệp của vùng kém phát triển vì hai lý do: Thứnhất là thời tiết khắc nghiệt, 1 năm chỉ sản xuất được một vụ từ tháng 5đến tháng 9 và được coi là vụ chính trong năm Mùa đông kéo dài từ tháng
10 đến 4 năm sau, đất đai hoàn toàn bị tuyết phủ, việc sản xuất nôngnghiệp nói chung và sản xuất rau quả nói riêng chỉ được tiến hành với quymô nhỏ trong các nhà kính vừa tốn kém mà sản lượng cũng không đượcbao nhiêu Thứ hai là do người lao động trong khu vực sản xuất nôngnghiệp thiếu một cách trầm trọng Như vậy về rau quả, bổ sung chủ yếuphải dựa vào nguồn nhập khẩu
1.4 Nhu cầu về rau quả của khu vực
Sản xuất nông nghiệp cẩu khu vực như đã nêu trên gặp rất nhiều khókhăn, bởi vậy không thể đáp ứng đủ nhu cầu về lương thực nói chung vàcác sản phẩm về rau quả nói riêng Ngoài ra, cũng cần chú ý thêm rằng dosống trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt hầu như quanh năm là mùa lạnhnên tỷ lệ rau trong bữa ăn của người dân khu vực này khá cao so với cáckhu vực khác Từ hai đặc điểm trên về thị trường rau quả Viễn Đông, ta cóthể thấy rằng nhu cầu rau quả của khu vực là rất lớn
Tóm lại, với dân số 7,5 triệu người vùng Viễn Đông- Liên Bang Nga
Trang 34là một thị trường có sức mua lớn về rau quả Do những điều kiện như đã kểtrên nên điều tất yếu là thị trường này cần phải nhập khẩu rau quả để đápứng nhu cầu trong nước Trong chính sách kinh tế đối ngoại của Liên BangNga, vùng Viễn Đông được coi là khu vực trọng yếu để phát triển kinh tếkhông chỉ vì điêù kiện địa lý thuận lợi mà còn vì đây là vùng có hệ thốnggiao thông thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán với các nơi trên thế giới.Đây cũng chính là yếu tố góp phần thúc đẩy việc xuất khẩu rau quả củacác quốc gia khác vào Viễn Đông- Liên Bang Nga, hệ thống giao thôngnày giúp cho việc vận chuyển rau quả được dễ dàng hơn, nhanh chónghơn, rau quả ít bị hư hại, thối rữa.
2 Xuất khẩu rau quả của Tổng công ty Rau quả Việt Nam sang Viễn Đông - Liên bang Nga giai đoạn 1986 - 1990
2.1 Bối cảnh chung
Có thể nói rằng bối cảnh giữa Liên Xô và Việt Nam lúc đó đã tạo tiềnđề cho sự hợp tác toàn diện và lâu dài trong mọi hoạt động kinh tế, thươngmại giữa hai nước Từ đó thúc đẩy hai nước sớm thảo luận và ký kết mộthiệp định riêng cho vấn đề cung cấp rau quả của Việt Nam sang ViễnĐông Cuối cùng, Hiệp định này với tên gọi đầy đủ của nó là “Hiệp địnhliên chính phủ giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bangcộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết về hợp tác trong lĩnh vực sản xuất rauquả tại Việt Nam để cung cấp sang Liên Xô”, trong các năm từ 1986 đếnnăm 1990gọi tắt là Hiệp định Rau quả Việt Xô được ký kết ngày20/01/1986, tạo ra một bước ngoặt mới cho ngành rau quả
Trang 352.2 Tình hình thực hiện
Theo Hiệp định Rau quả Việt Xô, việc thực hiện giao rau quả sangLiên Xô theo Hiệp định Rau quả được thực hiện thông qua các hợp đồngký kết hàng năm giữa Tổng công ty rau quả Việt Nam (Vegetexco) vàLiên đoàn nhập khẩu rau quả Liên Xô (Sojuzplo import) Hợp đồng đượcthiết kế giống như các hợp đồng xuất khẩu nói chung, tuy nhiên cũng cómột vài điểm khác như sau:
Việc thanh toán cho hàng hoá giao theo hợp đồng này sẽ được tiếnhành bằng đồng Rúp chuyển nhượng theo phương thức INKASSO trả tiềnngay (tức phương thức nhờ thu kèm chứng từ) phù hợp với hiệp định traođổi hàng hoá và trả tiền thời kỳ 1986 - 1990 giữa hai nước ký ngày23/01/1986 với mức 80% tổng giá trị lô hàng được giao, 20 % giá trị hànghoá còn lại nếu như còn được trả cho người bán thì trả khi quyết toán cuốicùng, tuỳ thuộc vào chất lượng và trọng lượng của lô hàng được xác địnhtại cảng dỡ hàng trên cơ sở các biên bản giám định, sau khi đã khấu trừphần cước khống Giá bán là giá FOB san xếp các cảng Việt Nam
Việc giao nhận chất lượng- số lượng rau quả được tiến hành tại cảngdỡ hàng và được lập thành các biên bản giám định do cơ quan trung gian làPhòng thương mại và công nghiệp Liên Xô lập với điều kiện số lượnghàng hư hỏng không được quá 4% thì người mua có quyền khấu trừ khoảntiền chi phí cho việc tái chế tại cảng dỡ hàng Ngoài ra, người mua cóquyền tiến hành giao nhận về chất lượng - số lượng toàn bộ lô hàng hoặcmột phần của lô hàng tại địa điểm bán hàng Trong trường hợp số lượnghàng hư hỏng vượt quá 8%, người mua sẽ áp dụng các biện pháp cần thiếtđể tiêu thụ hàng và sẽ chuyển toàn bộ mọi tổn thất, chi phí do việc giao
Trang 36hàng kém chất lượng này cho người bán chịu Trường hợp không thể tiêuthụ được, người mua có quyền huỷ hàng và từ chối thanh toán lô hàng
.1.1 Số lượng và kim ngạch xuất khẩu
Bảng 1: Số lượng và kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty rau quả Việt Nam và Viễn Đông thời kỳ 1986 - 1990
Đơn vị :1000 tấn,1000 Rúp
Nguồn: Tổng công ty rau quả Việt Nam
Nhìn vào kết quả ở bảng 1 có thể nhận thấy rằng tình hình xuất khẩurau quả của Tổng công ty sang thị trường Viễn Đông thời kỳ 1986 - 1990tương đối thuận lợi, đạt được những kết quả khả quan Kim ngạch xuấtkhẩu không ngừng gia tăng qua các năm, nếu như năm 1986 mới đạt29.000,2 nghìn Rúp thì đến năm 1987 kim ngạch đã tăng 19,93% đạt34.871,2 nghìn Rúp Các năm 1988,1989,1990 kim ngạch vẫn tăng Năm
1990, kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty sang thị trường này là
Trang 3743.909,7 nghìn Rúp gấp 1,514 lần so với năm 1986 Về số lượng hàng xuấtkhẩu, từ năm 1986 đến năm 1988 số lượng đều có xu hướng gia tăng, đếnnăm 1989, 1990 thì số lượng rau quả của Tổng công ty xuất khẩu sang thịtrường này lại giảm Tuy nhiên, dù 2 năm này số lượng xuất khẩu có giảmnhưng giá trị kim ngạch vẫn tăng: tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu tăng qua cácnăm tương ứng là +7,51% và +2,03% trong khi đó tỷ lệ số lương xuất khẩulại giảm tương ứng là -10,9% và -5,06% Điều này cho thấy nhu cầu rauquả của nước bạn đối với Tổng công ty có xu hướng giảm nhưng lại chấpnhận mức giá cao hơn qua từng năm.
Để giải thích cho thực tế này, có thể đưa ra lý do sau: Chất lượng rauquả của Tổng công ty rau quả Việt Nam đã dần được cải thiện bởi vậy bạnchấp nhận mua hàng của ta với mức giá cao hơn, đây cũng là một dấu hiệuđáng mừng cho Tổng công ty rau quả Việt Nam nói chung và cho ViệtNam nói riêng Trên thực tế khi thực hiện hợp đồng, năm 1989 Tổng công
ty rau quả Việt Nam đã đạt được 89,2% về mặt số lượng và 103% về mặttrị giá so với hợp đồng, năm 1990 thì các tỷ lệ này tương ứng là 91,7% và99,8% Con số này cũng chứng minh cho nhận định nêu trên
Có được kết quả như trên phải kể đến sự đóng góp của các đơn vịthành viên trực thuộc Tổng công ty mà chủ yếu là tập trung ở các đơn vịsau:
Bảng 2: Các đơn vị tham gia xuất khẩu sang Viễn Đông giai đoạn 1986-1990.
Đơn vị: 1000 RCN
Trang 381 Văn phòng Tổng công ty 28.129,03 14,28
Nguồn: Tổng công ty rau quả Việt Nam
Trang 39Thời kỳ này, Tổng công ty rau quả Việt Nam bao gồm 37 đơn vị thànhviên trực thuộc và 3 đơn vị liên doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực,ngành nghề khác nhau nên bên cạnh việc khuyến khích các đơn vị thamgia xuất nhập khẩu, Tổng công ty rau quả Việt Nam còn có sự phân cônglao động giữa các đơn vị thành viên để đảm bảo thực hiện được mục tiêutrong mỗi thời kỳ kinh doanh Vì vậy, mỗi thành công của Tổng công tyđều có sự góp phần của các đơn vị thành viên.
Thực hiện Hiệp định rau quả Việt-Xô, phía Liên Xô cung cấp cho bênViệt Nam các loại hàng hoá trong đó có máy móc thiết bị: Máy nén, dâychuyền ép nước quả ; Phương tiện vận tải như: ô tô tải, ô tô con, ô tôlạnh ; Vật tư và nhiên liệu phục vụ sản xuất như: kim loại đen, sắt, thép,nhôm, phân đạm, thuốc trừ sâu, giống rau quả, giấy làm thùng carton vàmột số hàng tiêu dùng Những đơn vị trên là một phần trong các doanhnghiệp nhận được hàng hoá hỗ trợ từ phía Liên Xô để cải tiến trang thiết
bị máy móc, đổi mới giống cây trồng, nâng cao năng suất và chất lượngsản phẩm Trong số các đơn vị đó, nổi bật nhất là sự đóng góp của Công tyxuất nhập khẩu rau quả II trong việc thực hiện Hiệp định rau quả này Chỉriêng kim ngạch xuất khẩu của Công ty xuất nhập khẩu rau quả II tronggiai đoạn 1986-1990 sang thị trường Viễn Đông-Liên Xô đẫ đạt hơn 25triệu Rúp, chiếm 38,57% tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này.Các đơn vị khác như: Công ty vật tư xuất nhập khẩu, Văn phòng Tổngcông ty Công ty xuất nhập khẩu rau quả I cũng góp phần không nhỏ
2.2.2 Mặt hàng và cơ cấu mặt hàng
Như đã phân tích ở trên, nhu cầu rau quả của thị trường Viễn Đông là
Trang 40rất lớn Do đó, các mặt hàng rau quả nhập khẩu của vùng này rất đa dạng,phong phú Mặt hàng và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Tổng công ty rauquả Việt Nam sang thị trường Viễn Đông giai đoạn này được thể hiện quacác bảng sau: