Lãi suất huy động hoặc lãi suất nhận gửi bid rate: Là lãi suất đầuvào, áp dụng đối với lãi mà định chế tài chính phải trả cho các khoản tiền gửi của khách hàng.. Lãi suất mà các ngân hàn
Trang 1Soạn bởi: Phan Trần Trung Dũng
Phục vụ cho môn học “Lý thuyết Tài chính” – Đại học Ngoại thương - 2013
Các vấn đề về lãi suất
Trang 21 Khái niệm lãi suất
3.1 Tăng trưởng kinh tế
3.2 Kỳ vọng về lạm phát
3.3 Thâm hụt ngân sách Nhà nước
3.4 Tác động của chính sách tiền tệ
Trang 34 Các thành phần của lãi suất
4.1 Rủi ro vỡ nợ
4.2 Tính thanh khoản
4.3 Thuế
5.1 Đường cong lợi suất
5.2 Các lý thuyết về cấu trúc kỳ hạn của lãi suất
Trang 4Lãi suất (interest rate) là chi phí mà người đi vay phải trả cho
người cho vay để có quyền sử dụng quỹ tiền của người cho vay
trong khoảng thời gian đã thỏa thuận.
Lãi suất có thể quy định theo hai cách, cách thứ nhất và phổ biến
nhất là tỷ lệ phần trăm (%), cách thứ hai, ít sử dụng hơn là tính
theo điểm cơ bản (basis point) – ký hiệu bps, một điểm cơ bản có
giá trị bằng 0.01%.
Trang 5Đây là cách phân biệt đã được nhắc tới trong chương 3
Trang 6Lãi suất danh nghĩa (Nominal Interest Rate) là lãi suất được sử
dụng trong quan hệ vay mượn.
Lãi suất thực tế (Real Interest Rate) là chi phí thực tế mà người đi
vay phải bỏ ra để có được vốn vay.
Sự khác biệt giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế đến từ lạm
phát (Inflation).
Phương trình Fisher:
Trang 7Lãi suất công bố hàng năm APR (Annual Percentage Rate) là mức
lãi suất được tính theo %/năm của một khoản vay nợ
Tuy nhiên, khi kỳ ghép lãi không phải là một năm một lần thì thước
đo phù hợp cho lãi suất của khoản vay là lãi suất hiệu quả EAR
(Effective Annual Rate)
Kỳ ghép lãi được hiểu là bao nhiêu lâu tiền lãi được ghép vào gốc một lần để tính thành tiền gốc cho kỳ tính lãi kế tiếp
𝒏𝒙𝒎
[4-2]
Trang 8Lãi suất huy động hoặc lãi suất nhận gửi (bid rate): Là lãi suất đầu
vào, áp dụng đối với lãi mà định chế tài chính phải trả cho các
khoản tiền gửi của khách hàng.
Lãi suất cho vay (ask rate): là lãi suất mà khách hàng phải trả khi
vay tiền của định chế nhận gửi.
Chênh lệch lãi suất (spread): Là mức chênh giữa bid rate và ask
rate, spread cần phải là số dương để đảm bảo sự tồn tại của định chế tài chính, và thông thường spread dao động từ vài chục bps
cho tới vài trăm bps.
Trang 9Căn cứ theo thời hạn của khoản vay, lãi suất chia thành lãi suất
ngắn hạn (short term interest rate) với thời gian từ 1 năm trở
xuống và lãi suất dài hạn (long term interest rate) với thời gian
trên 1 năm tới 30 năm
Lãi suất mà các ngân hàng áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn
của khách hàng gọi là lãi suất không kỳ hạn.
Trang 10Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các định chế nhận gửi cho
vay lẫn nhau trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà Ngân hàng Trung ương áp
dụng cho các định chế nhận gửi khi họ vay tiền từ cửa sổ chiết
khấu của Ngân hàng Trung ương
Lãi suất tái cấp vốn là một biến tướng của lãi suất tái chiết khấu
tại Việt Nam, theo đó Ngân hàng Nhà nước cho các tổ chức tín dụng vay tiền thông qua việc tái cấp vốn các hợp đồng tín dụng đã ký
kết.
Trang 11Lý thuyết này xác định lãi suất cân bằng của nền kinh tế như là giá
cả của một mặt hàng đặc biệt: quỹ khả dụng (loanable funds)
Do vậy, nếu xác định được cấu trúc tổng cung và tổng cầu của quỹ khả dụng, có thể xác định được mức lãi suất cân bằng của một nền kinh tế.
Mục tiêu của lý thuyết này là tập trung xác định thành phần của tổng cung và tổng cầu quỹ khả dụng.
Trang 12Cầu quỹ khả dụng của khu vực hộ gia đình
Khu vực này cần vay tiền để tài trợ:
Trang 13Cầu quỹ khả dụng của khu vực doanh nghiệp:
Để tài trợ cho việc mua tài sản ngắn hạn và dài hạn
Nguyên tắc đánh giá dựa trên chiết khấu dòng tiền:
Mối quan hệ giữa lãi suất và lượng cầu của khu vực này cũng là ngược chiều
NPV
1 ( 1 )
Trang 14Cầu của chính phủ đối với quỹ khả dụng
Chính phủ cần vay khi các khoản thu của chính phủ không đủ bù chi phí dự kiến
Chính quyền địa phương phát hành trái phiếu địa phương
Chính quyền trung ương phát hành trái phiếu Kho bạc.
Cầu của chính phủ đối với quỹ khả dụng là không co giãn đối với lãi suất
Trang 15Cầu nước ngoài đối với quỹ khả dụng
Cầu nước ngoài đối với quỹ khả dụng của một quốc gia phụ thuộc vào sự chênh lệch về lãi suất giữa hai quốc gia
Lượng cầu quỹ khả dụng của nước ngoài đối với một quốc gia nhìn chung có liên hệ ngược chiều với lãi suất của quốc gia đó
Đường cầu nước ngoài sẽ dịch chuyển khi có sự thay đổi về điều kiện kinh tế
Trang 16Tổng cầu đối với quỹ khả dụng
Tổng cầu đối với quỹ khả dụng của một quốc gia được xác định bằng việc cộng lượng cầu của từng khu vực
Trang 17Household Demand
Db
Business Demand
Trang 19Foreign Demand
Trang 20Aggregate Demand
Trang 22Cung quỹ khả dụng được các chủ thể hộ gia đình, chính phủ, và doanh nghiệp nước ngoài thực hiện bằng việc mua các chứng
khoán Kho bạc.
Cung quỹ khả dụng bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ
Đường cung quỹ khả dụng thay đổi khi có sự thay đổi trong điều kiện kinh tế
Trang 23Aggregate Supply
Trang 24f m
g b
g b
h
Trang 25Equilibrium Interest Rate - Graphic
DAi
Trang 26Tăng trưởng kinh tế
Làm dịch đường cầu ra ngoài (sang phải)
Không có tác động rõ ràng tới đường cung
Nếu tăng trưởng làm gia tăng thu nhập, đường cung có thể dịch ra ngoài.
Tác động kết hợp là sự gia tăng trong lãi suất cân bằng
Trang 28Lạm phát:
Làm dịch chuyển đường cung vào trong (sang trái)
Nếu dự báo lạm phát sẽ tăng, tiêu dùng hiện tại sẽ tăng lên
Làm dịch chuyển đường cầu ra ngoài (sang phải)
Việc vay nợ để mua hàng hóa sẽ tăng lên trước khi giá kịp tăng.
Trang 30Hiệu ứng Fisher
Lãi suất danh nghĩa đền bù cho:
Việc sụt giảm sức mua
Việc từ bỏ quyền mua ngay lập tức
Mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất danh nghĩa được gọi là hiệu ứng Fisher
Trang 31Cung tiền
Nếu NHTW tăng cung tiền, cung vốn được gia tăng
Nếu việc tăng cung tiền làm gia tăng lạm phát dự tính, cầu vốn cũng có thể gia tăng.
Kết hợp lại tác động là chưa rõ ràng
Trang 32Thâm hụt ngân sách
Chính phủ có nhu cầu vay để bù đắp, dịch đường cầu ra ngoài
Lãi suất gia tăng
Hiện tượng xua đuổi khu vực tư nhân: Chính phủ sẵn sàng vay với bất kỳ lãi suất nào nhưng khu vực tư nhân thì không thể làm như vậy
Nếu việc vay nợ của chính phủ làm tăng công ăn việc làm, dẫn tới tăng thu nhập thì cung vốn lại có thể gia tăng
Trang 33Dòng vốn nước ngoài
Lãi suất của một đồng tiền chịu tác động bởi cung, cầu đối với đồng tiền đó.Khi có sự thay đổi trong dòng tiền giữa các quốc gia, sẽ có sự thay đổi trong lượng cung quỹ khả dụng tại mỗi quốc gia
Trang 34Đối với một tài sản nợ cụ thể, lãi suất của tài sản đó phụ thuộc vào việc nó rủi ro thế nào.
Để tìm được lãi suất tổng thể, cần tìm được từng thành phần xây dựng nên cấu trúc của lãi suất tổng thể đó.
Trang 36Rủi ro vỡ nợ (tín dụng)
Chứng khoán có độ rủi ro cao hơn phải chấp nhận trả lợi suất cao hơn
Đối với chứng khoán dài hạn, rủi ro tín dụng trở nên đáng chú ý hơn
Các nhà đầu tư phải đánh giá được độ tin cậy của người phát hành chứng khoán nợ
Họ có thể sử dụng dịch vụ xếp hạng trái phiếu của các công ty xếp hạng tín dụng Hạng tín dụng càng cao, rủi ro của công cụ càng thấp
Khi các điều kiện thay đổi, hạng tín dụng cũng thay đổi
Với cùng nhà phát hành, các chứng khoán khác nhau có hạng khác nhau
Trang 39‘AAA’ Xếp hạng cao nhất, có khả năng cực kỳ tốt trong việc trả nợ
‘BB’ Không quá nguy hiểm trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn có
nguy cơ cao đối với các điều kiện bất ổn
‘B’ Nhạy cảm hơn với các điều kiện bất ổn, tuy nhiên hiện vẫn có thể
đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ
‘CCC’ Hiện tại đang có vấn đề, khả năng trả nợ phụ thuộc vào các điều
kiện thuận tiện
‘CC’ Hiện tại đang có vấn đề lớn về khả năng trả nợ
Trang 40Issuer Credit Rating
Ratings Rating Date
Regulatory Identifiers
Last Credit Rating Action
Foreign Long Term
BB-Regulatory Disclosures
23-Dec-2010 EE 06-Jun-2012
Outlook STABLE
Foreign Short Term B
Regulatory Disclosures
28-May-2002 EE
Local Long Term
BB-Regulatory Disclosures
19-Aug-2011 EE 06-Jun-2012
Outlook STABLE
Trang 41Rủi ro tín dụng (Cont’d)
Sự thay đổi trong phần bù rủi ro tín dụng
Phần bù rủi ro tín dụng của một công cụ nợ có thể thay đổi theo thời gian
Trang 42Tính lỏng
Các chứng khoán có tính lỏng có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt mà không bị mất giá trị
Những chứng khoán có thời hạn ngắn và thị trường thứ cấp phát triển có tính lỏng
Khi tính lỏng thấp, chứng khoán phải trả một mức lãi suất cao hơn
Trang 43) 1
Y
Tính chất thuế
Các nhà đầu tư quan tâm tới thu nhập sau thuế
-> Chứng khoán bị đánh thuế sẽ phải có lãi suất cao hơn
Lợi suất sau thuế:
Trang 44Thời gian tới hạn
Cấu trúc thời gian của lãi suất xác định mối quan hệ giữa thời gian tới hạn vàlãi suất bình quân năm
Các điều khoản đặc biệt
Điều khoản triệu hồi cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trướckhi nó đáo hạn
Lợi suất của trái phiếu có thể triệu hồi cao hơn so với trái phiếu không triệu hồi.
Điều khoản chuyển đổi cho phép nhà đầu tư chuyển trái phiếu sang cổ phiếuphổ thông theo một tỷ lệ nhất định
Lợi suất của trái phiếu có thể chuyển đổi thấp hơn trái phiếu không thể chuyển đổi
Trang 45Cấu trúc kỳ hạn là một trong những thành phần của lãi suất, nhưng
nó có hai điểm đặc biệt cần nghiên cứu thêm:
lãi suất ngắn hạn liên tục trong thời hạn dài đó
Những đặc điểm này được thể hiện trong cấu trúc kỳ hạn của lãi suất.
Một công cụ hỗ trợ để phân tích về cấu trúc kỳ hạn của lãi suất là
Trang 47Lý thuyết kỳ vọng đơn thuần
Theo lý thuyết này hình dạng của đường cong lợi suất chỉ được xác định bởi
kỳ vọng của nhà đầu tư về lãi suất tương lai
Giả định ban đầu đường lãi suất là thẳng:
Nếu lãi suất được nhận định sẽ tăng trong tương lai, đường cong sẽ dốc lên và ngược lại.
Trang 49Yield Curve
YC1
YC2
Trang 51Yield Curve
YC1
YC2
Trang 52Lý thuyết kỳ vọng đơn thuần (cont’d)
Giải thích về mặt toán học
Mối quan hệ giữa lãi suất 2 năm và 1 năm là:
Lãi suất 1 năm tính từ 1 năm sau (lãi suất kỳ hạn) do đó bằng:
) 1
)(
1 ( )
1 ( ti2 2 t i1 t1r1
1 )
1 (
) 1
(
1
2 2 1
t t t
Trang 53Lý thuyết kỳ vọng đơn thuần (cont’d)
Giải thích toán học (cont’d)
Lãi suất kỳ hạn sau 2 năm có thể được ước lượng:
1 )
1 )(
1 (
) 1
(
1 1 1
3 3 1
i r
t t
t t
Trang 54Lý thuyết kỳ vọng đơn thuần (Cont’d)
Giải thích toán học (cont’d)
Việc tính toán lãi suất tương lai với thời gian dài hơn một năm cũng có thể được tính toán bằng đường cong lợi suất, ví dụ lãi suất tương lai 2 năm sau đây 1 năm:
) 1
(
) 1
( 1
1
3 3 2
2 1
i
i r
Trang 55Lý thuyết kỳ vọng đơn thuần (cont’d)
Giả định của lý thuyết này là lãi suất kỳ hạn là những ước lượng không chệch của lãi suất tương lai
Nếu lãi suất kỳ hạn bị chệch, nhà đầu tư sẽ tìm cách để kiếm lợi trên cơ sở chênh lệch đó
Trang 56Các chứng khoán ngắn hạn nhìn chung có tính lỏng cao hơn.
Sự ưa thích chứng khoán ngắn hạn tạo ra một áp lực khiến đường cong lợi suất dốc lên
Trang 57Lý thuyết phần bù tính lỏng (cont’d)
Ước lượng lãi suất kỳ hạn dựa trên phần bù tính lỏng
Lợi suất của chứng khoán dài hạn sẽ không bằng trung bình của lãi suất các chứng khoán ngắn hạn nối nhau trong thời kỳ của nó nữa:
Mối quan hệ giữa phần bù tính lỏng và thời hạn là:
2 1
1 1
2
2) ( 1 )( 1 ) 1
( ti t i t r LP
20 3
2
0 LP LP LP LP
Trang 58Lý thuyết phần bù tính lỏng (cont’d)
Ước lượng lãi suất kỳ hạn theo lý thuyết phần bù tính lỏng (cont’d)
Lãi suất kỳ hạn một năm là:
Mức phần bù tính lỏng dương thể hiện lãi suất kỳ hạn ước lượng tăng kỳ vọngcủa thị trường vào lãi suất tương lai
Đường lợi suất phẳng thể hiện thị trường kỳ vọng có sự giảm nhẹ trong mứclãi suất
Đường lợi suất dốc nhẹ thể hiện thị trường kỳ vọng lãi suất giữ nguyên
/(1 )
1)
1(
)1
(
1 2
1
2 2 1
Trang 59Lý thuyết thị trường phân mảnh
Theo lý thuyết này, các nhà đầu tư và những người đi vay lựa chọn chứng khoán thỏa mãn dòng tiền dự báo của họ
Ví dụ các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm nhân thọ ưa thích các khoản đầu tư dài hạn
Các ngân hàng thương mại ưa thích đầu tư ngắn hạn
Các nhà đầu tư sẽ chỉ chuyển dịch thị trường nếu sự ưa thích của họ thay đổi
Trang 60Lý thuyết thị trường phân mảnh (cont’d)
Trang 61Lý thuyết thị trường phân mảnh (cont’d)
Hàm ý của lý thuyết
Sự ưa thích đối với một kỳ hạn cụ thể có thể làm ảnh hưởng tới giá và lợi suất của chứng khoán có kỳ hạn khác nhau và do đó làm ảnh hưởng tới hình dạng của đường cong lãi suất.
Một biến thể khác là lý thuyết môi trường ưu tiên, có tính linh hoạt hơn
Trong những trường hợp cụ thể, nhà đầu tư có thể chuyển thị trường