1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số vấn đề về lãi suất trong hợp đồng vay tiền

20 456 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 166 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường hợp hết hợp đồng mà bên vay không trả được nợ thì phải hoàn toàn chịu trách nhiệm dâ sự do vi phạm hợp đồng vay có lãi suất thì bên vay phải hoàn trả bên cho vay cả lãi trên nợ gố

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu huy động và sử dụng vốn trở nên vô cùng cấp bách Để giải quyết nhu cầu tạm thời về kinh tế thì hợp đồng vay tiền là một trong những công cụ pháp lý hữu hiệu Cùng với sự phát triển

đó Đảng và Nhà nước cũng luôn nỗ lực tìm kiếm để đưa ra những quy định vừa chặt chẽ về mặt pháp lý nhưng mặt khác vẫn có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển Một trong số đó là những biện pháp quy định về lãi suất

Tuy nhiên, trên thực tế các tranh chấp về hợp đồng vay tiền ngày càng gia tăng đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến lãi suất Trong khi những quy định của pháp luật về vấn đề này còn rất chung chung và chưa rõ ràng Vì vậy, để có cái nhìn rõ nét

hơn về vấn đề này em quyết định chọn đề bài: “Một số vấn đề về lãi suất trong hợp đồng vay tiền” Do phạm vi đề tài rộng cũng như đây là vấn đề còn rất mới mẻ và

biến đổi không ngừng nên với tư cách của những sinh viên chưa có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này những sơ suất là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, em rất mong thầy cô thông cảm và đóng góp ý kiến để bài làm được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

1 Khái quát chung về hợp đồng vay tiền và lãi suất trong hợp đồng vay tiền 1.1 Hợp đồng vay tiền.

Khái niệm:

Hợp đồng vay tiền là một loại hợp đồng vay tài sản, dựa trên định nghĩa về Hợp đồng (Điều 388 – BLDS 2005) và Hợp đồng vay tài sản (Điều 471 – BLDS 2005) ta

có thể định nghĩa về hợp đồng vay tiền như sau: Hợp đồng vay tiền là sự thỏa thuận giữa các bên Bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay có nghĩa

Trang 2

vụ hoàn trả lại cho bên vay đúng số lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định

Đặc điểm của hợp đồng vay tiền

Thứ nhất, là hợp đồng có muc đích chuyển quyền sơ hữu đối với số tiền vay, khi

bên vay nhận tiền

Thứ hai, thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với số tiền vay là thời điểm bên vay

nhận được số tiền vay đó Giấy biên nhận tiền vay là một bằng chứng cho việc vay tiền đã được chuyển giao

Thứ ba, hợp đồng vay tiền có thể là hợp đồng ưng thuận hoặc hợp đồng thực tế.

Hợp đồng được giao kết dưới hình thức văn bản thì là hợp đồng ưng thuận (phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết) Còn nếu hợp đồng vay tiền được xác lập dưới hình thức miệng thì đó là hợp đồng thực tế (phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm tiền được chuyển giao)

Thứ tư, hợp đồng vay tiền có thể là hợp đồng song vụ hoặc đơn vụ Trong đó

hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng song vụ mà ở đó các bên vay và cho vay đều có quyền và nghĩa vụ nhất định

Thứ năm, hợp đồng vay tiền là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù Song

do phạm vi bài tập là hợp đồng vay tiền có lãi suất nên hợp đồng vay có lãi suất là hợp đồng có đền bù Các bên chủ thể sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng

Đối tượng của hợp đồng vay tiền

Là một khoản tiền nhất định Tiền ở đây có thể là Việt Nam đồng (VND) cũng

có thể là ngoại tệ, tuy nhiên nếu là ngoại tệ thì ít nhất một bên trong hợp đồng phải

có giấy phép lưu thông ngoại tệ (ngân hàng, tổ chức tín dung…) vì ngoại tệ là vật hạn chế lưu thông

Kỳ hạn

Trong hợp đồng vay tiền có thể có hoặc không có kỳ hạn Nếu hợp đồng không thỏa thuận xác định cụ thể thời hạn trả tiền thì được coi là không kỳ hạn, bên cho vay có thể yêu cầu bên vay hoàn trả số tiền bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo

Trang 3

trước một khoản thời gian hợp lý để thực hiện hợp đồng Và ngược lại nếu có thỏa thuận cụ thể về thời hạn đó bên vay có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ trả tiền của mình Trường hợp hết hợp đồng mà bên vay không trả được nợ thì phải hoàn toàn chịu trách nhiệm dâ sự do vi phạm hợp đồng vay có lãi suất thì bên vay phải hoàn trả bên cho vay cả lãi trên nợ gốc và lãi quá hạn theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả nợ nếu có thỏa thuận

Hình thức của hợp đồng vay tiền

Hình thức của loại hợp đồng này có thể là miệng hoặc bằng văn bản Theo ý chí của các bên thì hợp đồng vay tiền cũng có thể lập dưới hình thức công chứng, chứng thực Mặc dù pháp luật không quy định nhưng ta thấy hầu như tất cả các hợp đồng tín dụng (có một bên là tổ chức tín dụng) thì đều dưới hình thức văn bản có công chứng, chứng thực…nếu có tranh chấp xảy ra thì hợp đồng miệng sẽ không có giá trị pháp lý chứng minh nên rủi ro rất cao so với hợp đồng dưới hình thức văn bản

Quyền và nghĩa vụ của các bên

Bên cho vay

Với hợp đồng vay tiền không có kỳ hạn có quyền yêu cầu bên vay hoàn trả lại tiền và tiền lãi bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia trước 1 khoảng thời gian hợp lý Còn đối với hợp đồng có kỳ hạn bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay hoàn trả lại số tiền cả gốc lẫn lãi theo thời hạn và thỏa thuận Đồng thời bên cho vay

có nghĩa vụ: Giao đủ số tiền cho bên vay; phải bồi thường thiệt hại nếu cố ý cho bên vay tài sản không đảm bảo chất lượng (bên vay không biết)

Bên vay.

Khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng bên vay phải tự giác thực hiện đầy đủ nghĩa

vụ của mình phát sinh từ hợp đồng đã ký kết phải trả đủ cả gốc lẫn lãi đúng địa điểm như đã thỏa thuận trong trường hợp nếu không thỏa thuận về địa điểm thì địa điểm chính là trụ sở của bên cho vay Còn nếu hợp đồng không kỳ hạn bên cho vay có quyền đòi bất cứ lúc nào thì trong trường hợp này bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ thời gian nào

Phân loại:

Trang 4

Hợp đồng vay tiền được chia làm hai loại chủ yếu

Nếu phân loại theo kỳ hạn gồm: Hợp đồng vay tiền có kỳ hạn và không có kỳ hạn

Nếu phân loại theo lãi suất gồm: hợp đồng vay tiền không lãi suất và hợp đồng vay tiền có lãi (theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật)

Trong phạm vi đề bài ta chủ yếu tìm hiểu hợp đồng vay tiền có lãi suất theo quy định của Bộ Luật Dân sự hiện hành

1 2 Lãi suất trong hợp đồng vay tiền

Định nghĩa:

Hiện nay lãi suất là cụm từ được sử dụng trong rất nhiều hợp đồng vay tiền Nhưng trong BLDS 2005 lại chưa có một định nghĩa cụ thể về vấn đề này vì vậy dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau Theo giáo trình Trường đại học Luật Hà Nội (2010)

thì “Lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỷ lệ nhất định mà bên cho vay phải trả thêm vào số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian Lãi suất được tính theo tuần, theo tháng hoặc năm do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định” Căn cứ vào lãi

suất, số tiền vay và thời hạn vay phải trả một số tiền nhất định (tiền lãi) Số tiền này

tỉ lệ thuận với lãi suất, số tiền đã vay và thời gian vay Hay theo Wikipedia lãi suất

được hiểu là tỉ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu

Tuy nhiên, ta có thể hiểu ngắn gọn lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả trả cho bên cho vay theo đơn vị thời gian theo một tỉ lệ thuận

Đặc điểm:

- Lãi suất phát sinh chủ yếu trong các hợp đồng vay tài sản cụ thể là vay tiền

- Lãi suất không phát sinh độc lập mà nó chỉ phát sinh do có thỏa thuận của các bên sau khi đã thỏa thuận được số vay gốc

- Lãi suất được tính theo số vay gốc và thời hạn vay

Trang 5

Phân loại lãi suất

Dựa vào những tiêu chí nhất định người ta phân chia lãi suất ra thành nhiều loại:

Phân theo loại hình tín dụng gồm:

- Lãi suất tín dụng thương mại

- Lãi suất tín dụng nhà nước

- Lãi suất tín dụng ngân hang (lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền vay, lãi suất chiết khấu, lãi suất liên ngân hang, lãi suất cơ bản)

Phân theo giá trị thực của lãi suất:

- Lãi suất danh nghĩa

- Lãi suất thực tế

Phân loại theo bản chất hợp đồng tài chính

- Lãi suất cố định

- Lãi suất thả nổi

Phân loại theo cách đo lường lãi suất

- Lãi suất đơn

- Lãi suất kép

Phân loại theo thời hạn vay

- Lãi suất đúng hạn

- Lãi suất quá hạn

Họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là họ): là một loại giao dịch về tài sản.

giao dịch này được sử dụng từ lâu đời và trở thành một tập quán ở khá nhiều vùng quê của nước ta Nguyên tắc chung của chơi họ là nhiều người cùng tham gia một dây họ rồi bầu ra nhà cái Hàng tháng, mỗi nhà con họ phải đóng góp một số tiền nhất địh cho nhà cái Lần lượt theo thứ tự bốc thăm hoặc theo thỏa thuận đến kỳ hạn bốc họ, một nhà con sẽ được nhận về số tiền từ nhà cái do các nhà con khác đóng góp Dây họ chấm dứt khi người cuối cùng bốc họ Thực chất đây là hoạt động gửi tiền theo thỏa thuận nhằm tương trợ giúp đỡ lần nhau Trong trường hợp họ có lãi thì lãi suất đối với họ cũng được thực hiện theo điều 476 của BLDS 2005

2 Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về lãi suất

Trang 6

Theo Bộ luật dân sự năm 2005 vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay tài sản nói chung chỉ được quy định trực tiếp thông qua một điều luật duy nhất:

“Điều 476 Lãi suất

1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất

cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố với loại vay tương ứng.

2 Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi, nhưng không xác định rõ lãi

suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”

Việc quy định chỉ một điều luật trực tiếp về vấn đề này trong tổng số 722 Điều luật trong BLDS 2005 là quá khái quát Trong khi quan hệ kinh tế xã hội biến đổi từng ngày sẽ dễ tạo ra khe hở cho nhiều đối tượng lách luật trong khi những văn bản dưới luật hướng dẫn áp dụng còn ít và sơ xài Vì vậy, việc hiểu quy định của BLDS sao cho đúng với ý đồ của các nhà làm luật là một vấn đề không hề đơn giản bởi trong nhưng năm qua có rất nhiều tranh cãi xung quanh Điều 476 này

2.1 Lãi suất thỏa thuận

Về nguyên tắc lãi suất cho vay cụ thể sẽ do các bên thỏa thuận Tuy nhiên, nhằm ngăn ngừa hiện tượng cho vay với lãi suất quá cao trong xã hội, cũng như tạo cơ sở pháp lý cho tranh chấp liên quan đến lãi suất Nên ngay từ khi xây dựng ban hành BLDS 1995 các nhà làm luật đã đưa ra phương thức xác định lấy một mức lãi suất được xem là tiêu chuẩn làm căn cứ cho việc điều hành trần lãi suất của ngân hàng (mức lãi suất cao nhất do ngân hàng nhà nước quy định từng thời điểm ứng với loại vay tương ứng) Giá trị xác định tỉ lệ này không phải là bất biến mà nó cũng có những thay đổi nhất định qua từng thời kỳ Nếu như khoản 1 Điều 473 BLDS 1995

quy định: “lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% mức lãi suất cao nhất do ngân hàng nhà nước quy định cho loại vay tương ứng” Thì đến khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 đã có sự thay đổi khi quy định: “lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng” Vậy một câu hỏi được đặt ra là tại sao lại

có sự thay đổi đó? Và phải chăng đó chỉ là sự thay đổi về câu chữ từ 50% lên

Trang 7

150%? Thực ra vấn đề không phải chỉ là sự thay đổi câu chữ mà sự thay đổi về tỉ lệ

xác định lãi suất thỏa thuận giữa 2 bộ luật mà nó còn liên quan đến nhiều khía cạnh trong đó nổi bật lên là sự thay đổi cơ chế điều hành ngân hàng nói chung kể từ khi Nhà nước ban hành Luật ngân hàng 1997 chuyển đổi từ cơ chế điều hành lãi suất trần (ngân hàng nhà nước giới hạn mức lãi suất cao nhất) sang cơ chế điều hành lãi suất cơ bản Theo đó, Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn (Điều 18 Luật Ngân hàng 1997) nhằm khắc phục sự khống chế cứng nhắc của Ngân hàng Nhà nước với quy định mức lãi suất tối đa đồng thời để phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường Nhưng đến tận tháng 8/2000 Ngân hàng Nhà nước mới ban hành quyết định số 241/2000/QĐ – NHNN nhằm chính thức thực hiện

cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với đồng Việt Nam Bởi vậy những bất đồng phát sinh khi giải quyết các vụ tranh chấp trước thời gian 5/8/2000 (quyết định số 241/2000/QĐ – NHNN chính thức có hiệu lực) sẽ áp dụng cách hiểu nào? Điều 473 BLDS 1995 hay Luật Ngân hàng 1997 để làm cơ sở giải quyết? Nên để khắc phục hiện tượng này cũng như đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội BLDS 2005 đã quy

định một cách áp dụng nhất quán “lãi suất thỏa thuận không vượt quá 150% lãi suất

cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng”.

Tuy nhiên hiểu về tỷ lệ lãi suất thỏa thuận không vượt quá 150% lãi suất cơ bản như thế nào là đúng? Bởi xung quanh khoản 1 Điều 476 này có rất nhiều cách hiểu khác nhau:

Cách hiểu thứ nhất dựa trên sự so sánh thuần túy: lãi suất thỏa thuận tối đa là tỉ

lệ so sánh thuần túy giữa mức lãi suất thỏa thuận và lãi suất cơ bản nằm trong giới

hạn luật định Hay nói cách khác lãi suất thỏa thuận = lãi suất cơ bản x 150%.

Ví dụ: lãi suất cơ bản là 1% vậy lãi suất thỏa thuận tối đa = 1% x 150% (gấp 1,5 lần)

Cách hiểu thứ hai dựa trên ngưỡng của lãi suất cơ bản và giá trị phần vượt quá.

Hay nói cách khác, lãi suất vẫn do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 50% lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố (BLDS 1995); 150% lãi suất cơ bản do

Ngân hàng Nhà nước công bố (BLDS) 2005: lãi suất thỏa thuận = lãi suất thỏa thuận + lãi suất cơ bản x 150%.

Trang 8

Song nếu đối chiếu cụ thể hai cách hiểu này vào hai BLDS 1995 và 2005 hẳn sẽ

có nhiều bất cập

- Nếu áp dụng cách hiểu thứ nhất áp dụng công thức: Lãi suất thỏa thuận tối đa

= lãi suất cơ bản x giá trị xác định mức lãi suất tối đa Thì lãi suất thỏa thuận theo quy định của BLDS 1995 lại quá thấp và chẳng nhẽ lãi suất thỏa thuận chỉ = 50% lãi suất trần Hay nói cách cách khác nếu lãi suất trần của NHHN công bố 1%/tháng thì lãi suất tối đa thỏa thuận chỉ bằng 1% x 50% (bằng ½ lãi suất trần)

- Còn nếu áp dụng cách hiểu thứ hai: Lãi suất thỏa thuận = lãi suất cơ bản + lãi suất cơ bản x giá trị xác định mức lãi suất tối đa Thì sẽ tỏ ra hợp lý với BLDS 1995 nhưng lại có bất cập khi áp dụng BLDS 2005 vào thực tiễn Cụ thể: Nếu lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố là 1%/tháng thì lãi suất thỏa thuận tối đa = 1% + 1% x 150% (gấp 2,5 lần lãi suất cơ bản) Nhưng như thế sẽ là quá cao so với mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước công bố và chẳng khác nào khuyến khích cho vay nặng lãi

Mặc dù kể từ khi thông tư liên tịch số 01/2000 TT/LT ngày 19/6/1997 của Tòa án Nhân dân Tối cao – Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao – Bộ Tư Pháp – Bộ tài Chính hướng dẫn về xét xử và thi hàng án về tài sản ra đời thì cách hiểu thứ 2 được áp dụng rộng rãi hơn Nhưng nếu áp dụng cách hiểu này vào BLDS mới 2005 thì lại có nhiều điều bất cập phải chăng Điều 476 chưa truyền tải được hết ý đồ của nhà làm luật Và việc nâng giá trị xác định tỷ lệ lãi suất chỉ trả lại tỷ lệ thực sự và cách hiểu đúng cho BLDS 1995? Đây thực sự là một vấn đề lớn cần làm rõ trong thời gian tới

để áp dụng vào thực tiễn cho đúng?

Hiện nay, cơ chế lãi suất thả nổi có sự quản lý của nhà nước là cơ chế quản lý được áp dụng phổ biến Bởi vậy Ngân hàng nhà nước có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu tình hình và đưa ra biện pháp can thiệp nhằm ổn định kinh tế tránh lạm phát tăng cao dẫn đến khủng hoảng kinh tế Theo điều 18 Luật Ngân hàng 1997 sửa đổi bổ sung 2003 thì Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố lãi suất cơ bản

và lãi suất tái cấp vốn Còn việc điều hành lãi suất đối với các tổ chức tín dụng vẫn trên cơ sở giao cho các tổ chức tín dụng tự ấn định lãi suất (lãi suất huy động, lãi

Trang 9

suất cho vay) đối với khách hàng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước công bố để áp dụng trong từng thời kỳ Đồng thời định kỳ hàng tháng, ngân hàng nhà nước công bố lãi suất cơ bản (Theo quyết định số 16/2008/QĐ – NHNN ngày 16/5/2008) Ví dụ: Lãi suất cơ bản của NHNN công bố theo quyết định số 2868/QĐ – NHNN ngày 29/11/2010 là 9%thì lãi suất huy động và cho vay không vượt quá 13,5%

Tuy nhiên thực tế hiện nay với việc ban hành thông tư số 02/2011 ngày 3/3/2011 quy định về mức lãi suất tối đa bằng tiền gửi đồng Việt Nam thì chính ngân hàng nhà nước đã khống chế mức lãi suất huy động là 14% đối với cá nhân, tổ chức (trừ

tổ chức tín dụng) và không quá 14,5% đối với quỹ tín dụng nhân dân cơ sở chính điều này cho thấy một điều: chính nhà nước không áp dụng công thức lãi suất thỏa thuận = lãi suất cơ bản x 150% Nhưng cũng không thấy việc quy định rõ áp dụng cách hiểu nào trong 2 cách hiểu trên nên vấn đề này cũng tồn tại những khó hiểu

trong áp dụng Riêng đối với lãi suất kinh doanh nhà nước không khống chế mà để

cho các tổ chức tín dụng tự ấn định mức lãi suất miễn sao phù hợp với quan hệ cung cầu trên thị trường trên tinh thần của Thông tư số 07/2010/TT – NHNN ngày 26/2/2010 quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở thỏa thuận của các tổ chức tín dụng với khách hàng và Quyết định 33/2008/QĐ – NHNN ngày 3/12/2008

về mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở với khách hàng Để giữ vững lãi suất trần huy động là 14%/năm và chấn chỉnh việc huy động vốn nghiêm cấm các hành vi vượt lãi suất bằng những hình thức huy động vốn như khuyến mại…mới đây ngân hàng nhà nước mới ban hành thêm chỉ thị 02/2011/

CT – NHNN ngày 7/9/2011

2.2 Cách tính lãi suất.

Về cơ bản căn cứ vào thời hạn vay, lãi suất trong hợp đồng vay tiền gồm lãi suất đúng hạn và lãi quá hạn Trong đó tiền lãi được tính trên số nợ gốc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất theo nguyên tắc chung khi tham gia hợp đồng vay tiền các bên có thể tự thỏa thuận về lãi suất Tuy nhiên trong trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì

Trang 10

áp dụng lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay

và thời điểm trả nợ (khoản 2 Điều 476 BLDS 2005)

Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì áp dụng khoản 2 Điều 305 BLDS 2005 buộc bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời điểm thanh toán trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc quy định khác Vì vậy, cách xác định thời điểm và cách tính lãi phát sinh do chậm thi hành án hiện nay được tính theo từng loại Khi tính lãi chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành án, mà không phải tính lãi của số tiền chua trả trong quá trình thi hành án Giả sử A vay B 100 triệu trong 3 tháng nhưng đến thời điểm trả A mới chỉ trả được cho B 60 triệu còn lại 40 triệu đồng nữa sau khi kiện ra tòa án thì A có nghĩa vụ phải hoàn trả lại cho người phải thi hành án chậm thi hành án 2 tháng và lãi suất cơ bản công bố tại thời điểm thanh toán là 9%/năm (theo quyết định số 2868/QĐ – NHNN ngày 29/11/2010 của thống đốc ngân hàng nhà nước) trong trường hợp này, lai suất chậm thi hành án sẽ được tính như sau: số tiền chậm thi hành án = số tiền chậm thi hành án x 9% : 12 tháng x 2 tháng = 40 triệu đồng x 9% :12 tháng x 2 tháng

Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào thay thế hoặc hủy bỏ Thông

tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 nêu trên nên thông tư liên tịch này vẫn được

áp dụng (trừ Điều 313 BLDS 1995 thay thế bằng Điều 305 BLDS 2005) để hướng dẫn áp dụng chỉ dẫn trong xét xử và thi hành án về tài sản đối với cả những quy định trong BLDS 2005 và về cơ bản vấn đề liên quan sẽ được giải quyết theo hướng: Nếu mức lãi suất do các bên thỏa thuận vượt quá 50% lãi suất do ngân hàng nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì tòa án áp dụng khoản 1 Điều 473 BLDS buộc các bên phải trả bằng 150% mức lãi suất do ngân hàng nhà nước công bố

Nếu mức lãi suất không vượt quá 50% mức lãi suất cao nhất của loại vay tương ứng do ngân hàng nhà nước quy định tại thời điểm vay, thì tòa án buộc bên vay phải trả lãi theo đúng mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận tại thời điểm vay Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất

Ngày đăng: 29/01/2016, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w