1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về lãi suất trong hợp đồng vay tiền

23 339 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 40,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, nếu các bên thoả thuận về lãi suất gấphai, ba hoặc nhiều lần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước công bố thì khi tranhchấp xảy ra, mức lãi suất tối đa mà Toà án chấp nhận không vượt

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Để tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước

ta luôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước nhà pháttriển một cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới.Những giải pháp đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được những kếtquả khả quan, trong đó có những biện pháp quy định về lãi suất Việc điềuchỉnh lãi suất hợp lí sẽ giúp phát triển nền kinh tế Do vậy để hiểu hơn về vấn đề

lãi suất sau đây chúng ta cùng tìm hiểu “ Một số vấn đề về lãi suất trong hợp đồng vay tiền”.

B NỘI DUNG

I Lãi suất và đặc điểm của lãi suất

1 Khái niệm lãi suất

Lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêmvào số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian Lãi suất thường được tính theotuần, tháng hoặc năm do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định Căn cứvào lãi suất số tiền vay và thời gian vay mà bên vay phải trả một số tiền nhấtđịnh Số tiền này tỉ lệ thuận với lãi suất, số tiền đã vay và thời gian vay Trongtrường hợp các bên không có thoả thuận về lãi suất thì hợp đồng vay tiền sẽkhông có lãi suất Nếu các bên có thoả thuận về lãi suất thì không được vượtquá “150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố đốivới loại cho vay tương ứng” Như vậy, nếu các bên thoả thuận về lãi suất gấphai, ba hoặc nhiều lần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước công bố thì khi tranhchấp xảy ra, mức lãi suất tối đa mà Toà án chấp nhận không vượt quá “150%mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng”

2 Đặc điểm của lãi suất

Là một công cụ để tính lợi nhuận nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hoặc tinhthần của cảbên cho vay và bên vay, lãi suất có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Trang 2

Thứ nhất, lãi suất được phát sinh chủ yếu trong các hợp đồng vay tài sản:Qua nghiên cứu có thể thấy lãi suất có thể xuất hiện trong các hợp đồng đầu tư,cho thuê tài chính hoặc các hợp đồng khác và là cơ sở để tĩnh lãi Tuy nhiên, lãisuất chủ yếu vẫn được tồn tại trong các hợp đồng vay bởi lẽ trong hợp đồng vaybên vay chỉ phải trả lại tài sản vay sau một thời hạn nhất định do đó phải có một

tỉ lệ xác định để tính lãi tương ứng với thời hạn vay Hơn nữa, nếu trong cáchợp đồng khác như thuê tài chính, đầu tư thì cơ sở đểtính lãi còn dựa trên nhiềuyếu tố khác như chi phí bỏ ra, công sức đóng góp… còn trong hợp đồng vay thì

cơ sở để tính lãi chủ yếu vẫn là lãi suất do các bên thoả thuận hoặc do pháp luậtquy định

Thứ hai, lãi suất không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ phát sinh dothoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số vay gốc: Bản chất của lãisuất là một tỉlệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay dựa vào số tiềnvay gốc trong một thời hạn nhất định Do đó, sẽ không thể có tỉ lệ đó nếu nhưkhông tồn tại số tiền gốc mà các bên thoả thuận được trong hợp đồng vay tàisản

Thứ ba, lãi suất được tính dựa trên số vay gốc và thời hạn vay (thời gian vay):Như đã phân tích ở trên, lãi suất tỉ lệ thuận với vốn gốc và thời hạn vay Do đó,tương ứng với sốnợ gốc nhiều hay ít, thời hạn vay dài hay ngắn mà các bên cóthể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp

II Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất

Có thể thấy Nhà nước không phải lúc nào cũng kiểm soát được hết mọi quan

hệ pháp luật cho nên có tình trạng nhiều vi phạm pháp luật nằm ngoài vòngkiểm soát của pháp luật Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi các văn bản pháp luậtcủa nước ta còn thiếu cụ thể, tính khả thi không cao, hơn nữa luật nước ta là luậtkhung, muốn thi hành được trên thực tếphải có Nghị định hướng dẫn thi hành.Vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay cũng rơi vào tình trạng này Trong BLDS

2005 chỉ quy định duy nhất một điều về lãi suất một cách trực tiếp: “Điều 476

Trang 3

1 Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% củalãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2 Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xácđịnh rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản doNgân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.” Việc quy định chỉ một điều luật trực tiếp về lãi suất trong BLDS 2005 là quákhái quát sẽtạo khe hở cho nhiều đối tượng “lách luật”, cố tình làm biến thái đi

và lợi dụng nó đểkinh doanh, tổ chức thực hiện một số hình thức không lànhmạnh Lãi suất cơ bản được quy định trong điều 476 bỗng dưng đã gây tranh cãixem có nên sửa đổi hay không Lãi suất này tự dưng trở thành mốc để suy ra lãisuất trần Ví dụ có thời điểm lãi suất cơ bản lãi 12%/năm suy ra lãi suất cho vaytối đa sẽ ở mức 18%/năm Tức là một điều luật nhằm ngăn chặn hiện tượng chovay nặng lãi ngoài xã hội bỗng trở thành yếu tố điều tiết lãi suất của hệ thốngngân hàng chính thống Về nguyên tắc, lãi suất cho vay cụ thể sẽ do các bênthoả thuận; tuy nhiên, nhằm ngăn ngừa hiện tượng cho vay nặng lãi và cũng tạo

cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về lãi suất hoặc trong trường hợpkhông có cơ sở xác định rõ mức lãi đã thỏa thuận, mà pháp luật dân sự quy địnhphương thức để xác định một mức lãi suất nào đó được xem là hợp lý và tiêuchuẩn được BLDS năm 1995 lựa chọn là căn cứ vào cơ chế điều hành trần lãisuất của Ngân hàng Nhà nước, tức mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhànước quy định từng thời điểm đối với loại cho vay tương ứng

BLDS 1995 cũng như BLDS 2005 quy định một điều duy nhất về lãi suấtnhưng so với Bộ luật này, BLDS 2005 có những thay đổi căn bản Đối vớiBLDS 1995 thì chỉ quy định “lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng khôngđược vượt quá 50% của mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy địnhđối với loại cho vay tương ứng” Thực tế cho thấy khi áp dụng quy định nàytrong nhiều năm có nhiều bất cập và không còn phù hợp nữa, thay vào đó là quyđịnh “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% củalãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương

Trang 4

ứng” Quy định mới này đã dễ hiểu hơn, thực tế hơn và hiệu quả hơn và sau gầnbốn năm thực hiện quy định về lãi suất này, từ ngày 01/01/2006 – ngày BLDS

2005 có hiệu lực thi hành, chúng ta đã thu được những kết quả đáng mừng Tạisao lại có sự thay đổi đó? Đó là vì cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhànước đã có nhiều thay đổi, cơ chế điều hành trần lãi suất được thay thế bằng cơchế điều hành lãi suất cơ bản Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 quy định:

“Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các

Tổ chức tín dụng (TCTD) ấn định lãi suất kinh doanh”; “Ngân hàng Nhà nướcxác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn” Mặc dù vậy, phảiđến 02/8/2000, Ngân hàng Nhà nước mới ban hành Quyết định số241/2000/QĐ-NHNN (có hiệu lực từ ngày 5/8/2000) chính thức bắt đầu thựchiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng Đồng Việt Nam thaycho cơ chếđiều hành trần lãi suất cho vay Hệ quả là: từ thời gian này cho đếntrước khi BLDS năm 2005 có hiệu lực, rõ ràng đã tồn tại một khoảng trốngpháp lý khi có sự bất tương đồng giữa Điều 473 BLDS năm 1995 với LuậtNgân hàng Nhà nước 1997 và Quyết định số241/2000/QĐ-NHNN1 về tiêu chí

so sánh (lãi suất trần và lãi suất cơ bản), Toà án không có cơ sở để dẫn chiếu khigiải quyết các tranh chấp về lãi suất phát sinh trong thời gian ấy Thay thế choBLDS năm 1995 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, về nội dung này, BLDSnăm 2005 quy định: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vaytương ứng” Đây là sự pháp điển hoá Luật Ngân hàng Nhà nước, Quyết định 241/2000/QĐ-NHNN1 vào trong BLDS mới một cách hợp lý và tất yếu

Như vậy, nếu như cơ sở tồn tại của tiêu chí so sánh đã được BLDS năm

2005 giải quyết hợp lý, thì trong lời văn của điều luật lại phát sinh một vấn đềkhác, đó là sự khác nhau về mức lãi suất thoả thuận tối đa được phép (bị khốngchế) giữa 2 quy định tương ứng trong hai Bộ luật dân sự Vấn đề đặt ra chochúng ta là cần thống nhất cách hiểu và cách tính toán mức lãi suất cho vay tối

Trang 5

khác, với quy định trên ta cần quan niệm giá trị 150% là của phần vượt quá sovới lãi suất cơ bản hay là tỷ lệ so sánh thuần tuý giữa chúng với nhau – lãi suấtthoả thuận với lãi suất cơ bản?

Theo quy định của BLDS năm 1995 (Khoản 1, Điều 473) thì mức lãi suấtthoả thuận tối đa không vượt quá 50% (của lãi suất trần do NHNN quy định đốivới loại cho vay tương ứng) Trong thực tiễn áp dụng pháp luật suốt thời gianqua thì cái ngưỡng 50% này luôn được hiểu và vận dụng nhất quán: lãi suất thoảthuận không được vượt giới hạn nhiều hơn gấp rưỡi, nghĩa là phần vượt quáphải ít hơn hoặc bằng 50% (và được xác định theo công thức: mức lãi suất thoảthuận tối đa được phép = lãi suất trần + lãi suất trần x 50%) Hiển nhiên sẽ làphi lý nếu xem ngưỡng 50% ấy chỉ là phân nửa (của lãi suất trần do NHNN quyđịnh) bởi không lẽ pháp luật lại buộc các thoả thuận dân sự trong xã hội (baogồm cả hoạt động cho vay của ngân hàng) chỉ được thoả thuận mức lãi suất vaytối đa bằng nửa mức lãi suất trần do NHNN quy định (= lãi suất trần x 50%),thực tiễn giao lưu dân sự và việc giải quyết các tranh chấp dân sự của Toà áncũng không bao giờ diễn dịch theo ý tứ này Có lẽ ở nội dung này, chúng ta cầnmặc nhiên thừa nhận bởi sự lý giải rõ ràng của chính thực tiễn áp dụng và thựcthi BLDS năm 1995 Tuy nhiên, dường nhưvẫn có điều gì đó bất ổn, phải chăngthực tiễn áp dụng luật có thể là đúng với ý đồ nhà làm luật nhưng cách diễn đạtcủa điều luật số 473 lại hàm chứa thiếu sót là chưa phản ánh đúng tinh thần ấy? Đến BLDS năm 2005, tại khoản 1, Điều 476, ngưỡng tối đa được phép củalãi suất vay thoả thuận nêu trên đã có sự chỉnh lý – thay giá trị 50% bằng giá trị150%

- Với cùng lập luận như cách hiểu về tinh thần và thực tiễn thi hành BLDS năm

1995 thì nên chăng ta cần nhất quán cách xác định ngưỡng này là tiếp tục căn

cứ vào giá trị của phần vượt quá, nếu mức lãi suất cơ bản là 1% thì mức lãi suấttối đa được phép thoảthuận sẽ là 2,5% (= 1% + 1% x 150%), trong đó phần vượtquá là 1,5%, tức bằng 150% của mức lãi suất cơ bản 1% (nghĩa là tiếp tục xác

Trang 6

lập theo công thức: mức lãi suất thoảthuận tối đa được phép = lãi suất cơ bản +lãi suất cơ bản x 150%).

Hay nói cách khác, BLDS năm 2005 đã nâng giá trị tỷ lệ xác định mức tối đacủa lãi suất thoả thuận được phép, so với BLDS năm 1995 (đồng thời thay đổiđối tượng so sánh lãi suất trần bằng lãi suất cơ bản)

- Nhưng còn có một khả năng khác: phải chăng lời văn khoản 1, Điều 473,BLDS năm 1995 đã không chuyển tải đúng ý đồ nhà làm luật (thay vì phải xácđịnh giá trị của tỷ lệcần so sánh trực tiếp giữa 2 mức lãi suất là đối tượng cầnquan tâm với nhau chứ không thể bóc tách phần vượt quá để so sánh – nghĩa làphải lấy giá trị 150% chứ không phải là 50%), và để giải quyết bất cập ấy màBLDS năm 2005 về câu chữ “tưởng như” đã nâng số giá trị % của mức ngưỡngtối đa, song nội dung thực tế là không tăng mà chỉ đơn giản là trả lại tỷ lệ % cần

so sánh về đúng với sự hợp lý của ý tứ lời văn điều luật, theo đó: “Lãi suất vay

do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 150% của lãi suất cơ

bản…”sẽ được hiểu và tính toán bởi công thức: mức lãi suất thoả thuận tối đa =lãi suất cơ bản x 150% Như vậy, Đ476 BLDS năm 2005 còn ẩn chứa điều gìchưa rõ ràng và cần có sự giải thích kịp thời của Quốc hội, trước hết là sựhướng dẫn áp dụng pháp luật của liên ngành các cơ quan tư pháp trung ương vềvấn đề nêu trên

Để dễ nhận thấy sự khác biệt giữa hai Điều luật, ta so sánh, đối chiếu nhưsau:

Khoản 1 Điều 473 BLDS 1995 Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 Qui định:

“Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãisuất cao nhất (nay là lãi suất cơ bản) do Ngân hàng nhà nước quy định(công bố)đối với các loại cho vay tương ứng” Qui định: “Lãi suất vay do các bên thỏathuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhànước công bố đối với các loại cho vay tương ứng” Ví dụ: Thời điểm C vay D làtháng 12-1995 Theo Quyết định số 381-QĐ/NH1 ngày 28-12-1995 thì lãi suất

Trang 7

cao nhất của loại vay trung hạn và dài hạn là 1,7%/tháng Như vậytoà án chỉchấp nhận mức lãi suất của hợp đồng vay nợ là 2,55%/tháng (1,7% + 1,7%

x 50% = 2,55%/tháng) Từ Ví dụ trên, áp dụng toán học ta có công thức tính lãisuất cho vay, như sau: Gọi A: là lãi suất cơ bản; B: là Lãi suất cho vay tối đa Tacó: B = A + A x 50% = A (1+50%) [Qui đổi 1=100%] = Ví dụ: Thời điểm Cvay D là tháng 03-2008 Theo Quyết định số 479-QĐ/NHNN ngày 29/02/2008thì lãi suất cao cơ bản là 8,75%/năm Như vậy Toà án chỉ chấp nhận mức lãisuất của hợp đồng vay nợ là 21,875%/năm (8,75% + 8,75% x 150% =21,875/năm) Từ Ví dụ trên, áp dụng toán học ta có công thức tính lãi suất chovay nhưsau: Gọi A: là Lãi suất cơ bản; B: là Lãi suất cho vay tối đa Ta có: B=

A + A x 150% = A (1+150%) [Qui đổi 1=100%] = A A (100%+50%) = A x150% hay B= A x 1,5lần (100%+150%) = A x 250% hay B = A x 2,5 lần Tómlại: Theo BLDS 1995, nếu mức lãi suất do các bên thoả thuận vượt quá 50% củalãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứngtại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1 Điều 473 BLDS1995 buộc bên vayphải trả lãi bằng 150% mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy địnhđối với loại vay tương ứng Theo BLDS 2005, nếu mức lãi suất do các bên thoảthuận vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đốivới loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1 ĐiềuBLDS 2005 buộc bên vay phải trả lãi bằng 250% mức lãi suất cơ bản do Ngânhàng Nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng

Như vậy với cách hiểu và tính toán trên ta có: Gọi A: Lãi suất cơ bản doNgân hàng nhà nước công bố, thì lãi suất cho vay của các Ngân hàng sẽ khôngđược vượt quá: A + A x 150% = A (1+150%) = A (100%+150%) = A x 250% =

A x 2,5 lần Như vậy mức lãi suất cơ bản được NHNN công bố là 8,75%/nămthì mức lãi suất cho vay của các ngân hàng không được vượt quá: 8,75% x250% = 21,875%/năm Nếu các ngân hàng cho vay trên mức 21,875%/năm (hay1,82%/tháng) là phạm luật Đây là những quan điểm của các luật sư và các nhàchuyên môn mà những quan điểm này được đánh giá rất cao và là cơ sở để thế

Trang 8

hệ chúng tôi học tập Một điều luật có thểdẫn đến nhiều cách hiểu khác nhaunhưng với cách hiểu của mình tôi thiết nghĩ nếu hiểu nội dung của điều 476BLDS 2005 là quy định lãi suất không được vượt quá 250% lãi suất cơ bản thìkhông ổn Vì khi quy định như thế chẳng khác nào là khuyến khích cho vaynặng lãi Một đòi hỏi bức thiết là cần phải giải thích luật một cách rõ ràng, cụthể để tránh tình trạng có những quan điểm khác nhau

Các hợp đồng dân sự luôn mang trong nó tính chất “thoả thuận giữa các bên”tuy nhiên pháp luật cũng hạn chế quyền của người cho vay trong hợp đồng vaytiền có lãi suất bằng cách “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng khôngđược vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đốivới loại cho vay tương ứng” Nhưng “quy định vẫn chỉ là quy định”, không cóchế tài áp dụng thì việc đưa ra các quy định này cũng không mang lại kết quảnhư ý muốn Nếu có chế tài áp dụng đối với việc quy định lãi suất cũng chỉ làchế tài hành chính, trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại một khoản

tiền mà bên vay chứng minh được việc vay với lãi suất vượt qua mức quy địnhcủa pháp luật của bên cho vay gây thiệt hại cho mình Hơn nữa, nhu cầu đi vaycủa người vay thường trong những trường hợp cấp bách và cần thiết, việc tuyên

bố hợp đồng vô hiệu của Toà án đôi khi làm ảnh hưởng đến công việc củangười đi vay Cần phải có những quy định và chế tài cụ thể để hạn chế tình hìnhtrên Việc quy định lãi suất quá cao sẽ không chỉ gây ảnh hưởng cho nền kinh

tế mà còn ảnh hưởng đến chính bên cho vay Khi lãi suất của bên cho vay cao sẽkhiến các doanh nghiệp, các cá nhân… (bên vay) không vay dẫn đến tình trạngtiền bị đọng lại và không phát huy được giá trị sinh lời của nó Doanh nghiệpvay tiền là để đầu tư nhưng với mức lãi suất cao sẽ dự tính việc đầu tư không cólãi nên các doanh nghiệp không vay là đương nhiên Còn cá nhân, họ cần tiềncũng có thể để đầu tư, cũng có thể vay để chi trả cho một công việc nào đó hay

để đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày… lãi suất cao khiến những người nàykhông có khả năng trả cả gốc lẫn lãi nên họ “không dám” vay Và như vậy

Trang 9

nguồn tiền trong các Ngân hàng, nguồn tiền dự trữ trong nhân dân không nhữngkhông đem lại hiệu quả mà còn gây khó khăn cho các doanh nghiệp, các cánhân… muốn vay

Việc quy định lãi suất thấp so với sự phát triển và tốc độ tăng trưởng củanền kinh tếcũng không ổn Việc quy định lãi suất thấp chỉ áp dụng cho các đốitượng ưu tiên mà pháp luật quy định còn mặt bằng chung phải phù hợp với mọinhân tố ảnh hưởng đến lãi suất (lạm phát hay giảm phát, kinh tế phát triển haychậm phát triển…) Lãi suất thấp sẽlàm giảm hiệu quả của đồng tiền, làm giảm

sự phát triển kinh tế, làm giảm nguồn thu của bên cho vay Nhìn một cáchkhách quan, lãi suất thấp chỉ có lợi trước mắt cho bên vay Nhưng cái lợi trướcmắt không phải là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới Như vậy, việc quy định lãisuất quá cao hay quá thấp đều không mang lại hiệu quả Nhà nước tính toán làmsao để pháp luật có những quy định hợp lý không làm giảm hiệu quảcủa giá trịđồng tiền mang lại cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng vay, đem lại sự phát triển bền vững và lâu dài cho nền kinh tế

Hơn nữa có thể thấy sự bất cập và thiếu chặt chẽ còn thể hiện ở chỗ: lãi suấtđược quy định trong BLDS 2005 phải ≤ (nhỏ hơn hoặc bằng) 150% lãi suất cơbản do Ngân hàng

Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng Trong trường hợp A cho

B vay với lãi suất là 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bốtrong thời gian 1 năm nhưng hết 1 năm B vẫn chưa trả cho A, lúc này phát sinhlãi suất quá hạn và lãi suất này được tính như thế nào? Nếu A và B có thoảthuận về mức lãi suất quá hạn nhưng mức lãi suất này lại vượt quá 150% mứclãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố (vì lãi suất đúng hạn mà A và Bthoả thuận đã bằng 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước) thì lúc nàyhậu quả sẽ ra sao? Việc áp dụng Điều 476 BLDS 2005 có thực sự hiệu quả?Nếu trường hợp A và B không thoả thuận về lãi suất quá hạn thì việc tính lãisuất này sẽ theo quy định của pháp luật, tức là vẫn ≤ (nhỏ hơn hoặc bằng) 150%lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, như vậy việc phân loại lãi suất

Trang 10

đúng hạn và lãi suất quá hạn không còn ý nghĩa bởi vì cách tính lãi suất đúnghạn và lãi suất quá hạn là như nhau Hiện nay, lãi suất huy động vốn bằng tiềnđồng tại một số ngân hàng đã bắt đầu cán đích 10%, trong khi lãi suất cơ bảnvẫn giữ nguyên 7% và trần cho vay tối đa không quá 10,5%/năm Bằng phéptính đơn giản cũng có thể nhận ra rằng không có lý do gì để ngân hàng đẩy lãisuất lên để gánh lấy thua lỗ, trừ khi lâm vào tình huống gặp khó khăn trong thanh khoản Thật ra, nguyên nhân chính ở đây là do một số ngân hàng đangchuyển hướng mạnh sang cho vay tiêu dùng theo cơ chế lãi suất thỏa thuận, vớimức lãi suất bình quân từ 12-15%/năm, chênh lệch giữa đầu ra – đầu vào lênđến 4-5 điểm phần trăm/năm, một tỷ lệ thực sự hấp dẫn nếu chúng ta biết rằngtrong tín dụng nếu duy trì chênh lệch khoảng 3,5 điểm phần trăm/năm là có thểtạm yên tâm về tài chính Việc điều hành thông qua cơ chế “hai giá”, vừa duy trìlãi suất trần vừa áp dụng lãi suất thỏa thuận, tưởng chừng là lối thoát tài chínhhợp lý cho các ngân hàng thương mại, nhưng vô hình trung đã nắn dòng chảytín dụng ngày càng trở nên bất cập Do sức hấp dẫn của chênh lệch lãi suất, vốntín dụng tất yếu chảy dồn vào các kênh tiêu dùng, đáng kể nhất hiện nay là bất động sản và chứng khoán Mặc dù Ngân hàng Nhà nước vẫn đang khẳng định

dư nợ cho vay chứng khoán và bất động sản hạch toán trên sổ sách nhìn chungchưa có biến động lớn vượt tầm kiểm soát, đây là ý kiến đáng lưu ý vì nhiều nhàquan sát cho rằng sở dĩ thịtrường chứng khoán thời gian qua nóng lên bấtthường phần lớn là do sự tiếp sức nhanh và mạnh từ các luồng tiền ngân hàng Hiện tại, các NHNN đang tổ chức lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Luật NHNNViệt Nam (sửa đổi) và Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) Một trongnhững điểm mới mà luật đưa ra là TCTD và khách hàng có thể tự thỏa thuậnmức lãi suất

Việc thỏa thuận lãi suất sẽ khiến việc huy động vốn dễ hơn Dự thảo LuậtNgân hàng Nhà Nước và Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng sẽ chính thức trìnhQuốc hội thông qua vào năm2010 Dự thảo Luật Các TCTD sửa đổi gồm 10

Trang 11

chương, 164 điều Nhận được nhiều ý kiến đồng tình khi trao quyền cho TCTD

và khách hàng thỏa thuận mức lãi suất trong các hoạt

động ngân hàng, không phụ thuộc vào quy định của Bộ luật Dân sự vì bản chấthoạt động kinh doanh ngân hàng của TCTD khác về bản chất với hoạt động chovay trong quan hệdân sự thông thường Đặc biệt, việc áp dụng trần lãi suất cóthể làm cho lãi suất trên thịtrường liên ngân hàng không phản ánh đúng và đầy

đủ tình trạng thanh toán của các ngân hàng, qua đó đã vô hiệu hóa một tín hiệuquan trọng nhất để điều hành chính sách tiền tệ…

Như vậy chiếu theo Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 “Lãi suất cho vay do cácbên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNNcông bố đối với loại cho vay tương ứng” thì rất nhiều Ngân hàng đang vi phạmluật bởi lãi suất cơ bản do NHNN công bố hiện chỉ 7%/năm tức lãi suất cho vaykhông được vượt quá 10,5%/năm Dường như, thời gian qua nắm được điểmyếu này, các Ngân hàng tha hồ nâng lãi suất, ký những hợp đồng phạm luật màkhông e ngại Một vấn đề cũng rất cần quan tâm đó là hiện tượng các Ngânhàng hiện nay cho vay với các điều kiện vô lý Ví dụ: muốn vay 10.000.000đồng (mười triệu đồng) để đầu tư phải thoả mãn điều kiện có 10 héc ta (ha) đấtkhông thì phải trả lãi suất cao mới được vay Nhưng rất ít hộ dân có tới 10 hađất Tác giả cho rằng không nên quy định hạn mức mà điều kiện cho vay cầnphụ thuộc nhiều yếu tố Vì nếu hộ dân có 1, 2 sào thì chỉ được vay 1, 2 triệuđồng như vậy không đủ để đầu tư Hơn nữa, nếu trên mảnh đất “1, 2 sào” đó lại

có tiềm năng phát triển thì như vậy quy định của các ngân hàng lại gián tiếp làmảnh hưởng đến nền kinh tế Nếu chấp nhận vay thì người dân phải chấp nhậnmột lãi suất cao “ngút trời” Các ngân hàng đã vin vào các điều kiện vô lý này

để tiến hành cho vay nặng lãi Dư luận đang chờ các cơ quan có thẩm quyềngiải bài toán “cho vay nặng lãi” của các ngân hàng

III Một số vấn đề cơ bản về hợp đồng vay tiền

1 Khái niệm hợp đồng vay tiền

Ngày đăng: 29/01/2016, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w