1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyen Thi Thu Huong.pdf

12 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận học phần Năng suất Lao Động Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Giai Đoạn 2015 - 2019
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hương
Trường học Trường Đại Học Lao Động – Xã Hội
Chuyên ngành Kinh tế lao động
Thể loại Tiểu luận học phần
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 414,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ II, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG –XÃ HỘI KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC Số báo danh 085 HỌ VÀ TÊN NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG Mã sinh viên 1953404040912 Lớp Đ19NL3 TIỂU LUẬN HỌC PHẦN NGUỒN NHÂN LỰC NĂNG SUẤT L[.]

Trang 1

CƠ SỞ II, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG –XÃ HỘI

KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC

Số báo danh:085

HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

Mã sinh viên: 1953404040912

Lớp: Đ19NL3

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN NGUỒN NHÂN LỰC NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

GIAI ĐOẠN 2015 -2019

Điểm chữ Cán bộ chấm thi 2

Trang 2

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Năng suất là thước đo mức độ hiệu quả do con người và các đơn vị sản xuất ( doanh nghiệp) chuyển đổi nguồn lực sản xuất để tạo ra sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ cho

xã hội

Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm hay lượng giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động được tính bằng số sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra cho một đơn vị lao động tham gia vào hoạt động sản xuất Hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế là tổng sản phẩm trong nước (GDP) Lao động tham gia vào hoạt động sản xuất tạo ra GDP phản ánh thời gian, công sức và kỹ năng của lực lượng lao động và thường được tính bằng lao động đang làm việc, giờ công lao động, hay lực lượng lao động được điều chỉnh theo chất lượng (OECD, 2001) Năng suất lao động có tầm quan trọng trong việc phát triển kinh tế của nước Năng suất lao động thức đẩy tăng trưởng kinh tế Một nền kinh tế có năng suất cao nghĩa là nền kinh tế đó có thể sản xuất ra nhiều hàng hóa hoặc dịch vụ Năng suất lao động ảnh hưởng đến tất cả mọi người Đối với người lao động tăng năng suất lao động dẫn tới lương cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn Về lâu dài, tăng năng suất lao động có ý nghĩa quan trọng đối với tạo việc làm Đối với Chính phủ, tăng năng suất lao động giúp tăng nguồn thu từ thuế Thực tế năng suất lao động của thành phố hiện nay là một yếu

tố quan trọng Hồ Chí Minh là một thành phố lớn của nước Việt Nam, năng suất lao động của thành phố Hồ Chí Minh cũng đã ảnh hưởng một phần đến sự phát triển của nước Việt Nam Vì vậy, nếu giữ nguyên tốc độ tăng năng suất lao động gần đây, thành phố sẽ ảnh hưởng một phần không nhỏ đến nước, Việt Nam sẽ mất nhiều thời gian hơn nữa để bắt kiệp với nhiều nước khác

Những năm qua thành phố Hồ Chí Minh đã chú ý tăng cường công tác, quản lý, đầu

tư phát triển khoa học công nghệ để khai thác sử dụng có hiệu quả các điều kiện tự nhiên nhằm nâng cao năng suất góp phần đảm bảo kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc

độ tương đối khá, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Để tiếp tục nâng cao năng suất lao động, tăng thêm tỷ phần đóng góp của tăng năng suất vào tăng trưởng kinh tế, thì ta phải tìm hiểu sâu hơn về tốc độ tăng trưởng năng suất lao động của thành phố Hồ Chí Minh

Trang 3

2 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

2.1 Thực trạng về năng suất lao động

Năng suất là thước đo mức độ hiệu quả do con người và các đơn vị sản xuất chuyển đổi nguồn nhân lực sản xuất để tạo ra sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ cho xã hội Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm hay lượng giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Ở thành phố Hồ Chí Minh, theo hệ thống chỉ tiêu thống kê, năng suất lao động phản ánh hiệu suất làm việc của lao động, được đo bằng GRDP tính bình quân một lao động trong thời kì Chỉ tiêu NSLĐ thường được phân tổ theo ngành kinh tế và loại hình kinh

tế Tăng NSLĐ đóng vai trò quyết định đới với tăng trưởng kinh tế

Từ số liệu về GRDP của thành phố Hồ Chí Minh theo giá thực tế và số lao động làm việc thực tế bình quân năm, ta tính mức năng suất lao động của thành phố năm

2018 đạt 138,8 triệu đồng/người; năm 2019 đạt 148,1 triệu đồng/người

Những năm qua, NSLĐ ở thành phố liên tục gia tăng, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế- xã hội của đất nước Theo Niên giám thống kê của thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua tuy có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều quan các năm và là thành phố có tốc độ tăng NSLĐ cao nhất cả nước

Về việc làm, Năm 2019, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của Thành phố đạt 4,84 triệu người, tăng 2,4% so với năm 2018 Trong đó, lực lượng lao động tại khu vực thành thị chiếm 77,46%, khu vực nông thôn chiếm 22,54%, lực lượng lao động là nam giới chiếm 54,75% và nữ giới chiếm 45,25% Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế của Thành phố đạt 4,71 triệu lao động, chiếm 97,33% tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên và tăng 2,4% số lao động so với năm 2018 Trong đó, lao động trong khu vực nhà nước chiếm 7,40%; lao động trong khu vực tư nhân chiếm 84,49% và trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 8,11%

Năm 2019, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 37,30%, tăng 0,56 điểm phần trăm so với năm 2018 Trong đó, tại khu vực thành thị có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 41,01%, tăng 1,25 điểm phần trăm so năm 2018; tại khu vực nông thôn, tỷ lệ lao động

đã qua đào tạo đạt 24,54%, tăng 0,38 điểm phần trăm; lao động là nam giới có tỷ lệ đã qua đào tạo chiếm 39,21%, giảm 0,29 điểm phần trăm; lao động là nữ giới chiếm 34,99%, tăng 1,6 điểm phần trăm so với năm 2018

Trang 4

Biểu đồ 2.1 : Lao động đã qua đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh qua các năm

Đơn vị: %

(Nguồn: Tổng cục thống kê) Nông, lâm nghiệp và thủy sản : Diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 37.985

ha, giảm 1,7% so với năm 2018 Trong đó, diện tích lúa 16.762 ha, giảm 0,9% so với năm trước; rau các loại 8.065 ha, tăng 4,8%; hoa lan 658 ha, tăng 1,9% Sản lượng lúa đạt 81.145 tấn, tăng 2,6%; rau các loại đạt 265.309 tấn, tăng 9,1%; hoa lan 50.895 ngàn cành, tăng 5,9% Hoạt động chăn nuôi trong năm 2019 có nhiều khó khăn do dịch tả lợn Châu Phi, giá cả thịt lợn tăng cao, người dân chậm tái đàn do tâm lý lo dịch bệnh quay lại Ngay từ ban đầu dịch bệnh xảy ra ở các tỉnh lân cận, thành phố đã tăng cường công tác phòng chống dịch, kiểm soát, giám sát tình hình dịch tễ đàn gia súc, gia cầm

và các hộ nuôi heo nhập cư, đặc biệt các địa bàn giáp ranh, vì vậy, thành phố đã khống chế thành công bệnh dịch tả lợn Châu Phi Năm 2019, đàn trâu có 4.863 con, tăng 7,5%

so với cùng thời điểm năm 2018 Đàn bò 130.989 con, giảm 3,6%; trong đó, đàn bò sữa là 88.727 con, tăng 3,8% Đàn lợn có 223.716 con, giảm 27,6% Đàn gia cầm có 416.392 con, tăng 10,1%, gia cầm có vai trò quan trọng giúp bù đắp sản lượng thịt hơi xuất chuồng cho thị trường do thiếu hụt từ dịch bệnh tả lợn Châu Phi Sản lượng thủy sản đạt 60.529 tấn, tăng 5,9% so với năm 2018 Trong đó, sản lượng thủy sản khai thác

32

33

34

35

36

37

38

Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019

lao động đã qua đào tạo

lao động đã qua đào tạo

Trang 5

đạt 18.244 tấn, chiếm 31,5% tổng số, tăng 4,4%; sản lượng nuôi trồng đạt 42.285 tấn, chiếm 68,5%, tăng 6,6% Sản lượng cá 19.567 tấn, tăng 7,7%; tôm 14.176 tấn, tăng 2%

và thủy sản khác 26.786 tấn, tăng 6,9%

Công nghiệp: Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2019 tăng 7,58% so với năm 2018 Trong đó, ngành khai khoáng giảm 44,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,6%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,9% Trong năm 2019 có 8 ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số sản xuất tăng cao so với chỉ số sản xuất chung của toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 20,7%; Sản xuất thiết bị điện tăng 15%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 11,8%; sản xuất kim loại tăng 44,8%; sản xuất giường tủ bàn ghế tăng 33,1%

Bảng 2.1 Chỉ số sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp

Đơn vị tính: %

Công nghiệp chế biến, chế tạo 108,02 107,28 107,54 108,07 107,95 Sản xuất và phân phối điện, khí

đốt, nước nóng, hơi nước và

điều hoà không khí 107,25

109,30 105,15

107,89

107,60

Cung cấp nước; hoạt động

quản lý và xử lý rác thải, nước

thả

112,84 114,68 106,26 105,58 102,85

(Nguồn: Tổng cục thống kê) Thương mại và dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2019 đạt 1.141.984 tỷ đồng, tăng 13% so với năm 2018 Phân theo ngành kinh tế, doanh thu bán lẻ hàng hóa chiếm 59,1% trong tổng mức, đạt 674.732 tỷ đồng, tăng 13,8% so với năm 2018 Trong đó, doanh thu nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 100.059 tỷ đồng, tăng 12,6%; hàng may mặc đạt 38.648 tỷ đồng, tăng 9,7%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị 112.062 tỷ đồng, tăng 12,1%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 16.312

tỷ đồng, tăng 13,3%; Ô tô con 12 chỗ ngồi trở xuống và phương tiện đi lại đạt 40.668

tỷ đồng, tăng 14,0%; xăng dầu các loại và nhiên liệu đạt 63.571 tỷ đồng, tăng 14,5% Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống chiếm 10,2% trong tổng mức, đạt 116.559 tỷ đồng, tăng 14,2% so với năm 2018 Doanh thu lữ hành đạt 31.777 tỷ đồng, chiếm 2,8%, tăng 33,8% Dịch vụ khác có doanh thu đạt 318.916 tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm 2018 Trị giá xuất khẩu hàng hóa đạt 39.714 triệu USD, tăng 17,4% so với năm 2018; trị giá

Trang 6

nhập khẩu hàng hóa đạt 44.090 triệu USD, tăng 11% Vận tải hành khách đạt 1.036,8 triệu lượt khách, tăng 15,9% so với năm 2018 và 26.774,1 triệu lượt khách.km, tăng 11,2% Vận tải hàng hóa đạt 265,9 triệu tấn, tăng 10,9% và 159.980,1 triệu tấn.km, tăng 11,9%

Bảng 2.2 Tổng mức bán lẻ hàng hoá theo giá hiện hành phân theo loại hình kinh tế

và phân theo nhóm hàng

Đơn vị tính: tỷ đồng Phân theo loại hình kinh

tế

Lương thực, thực phẩm 70.221 78.787 88.902 100.059 111.185 Hàng may mặc 27.248 30.946 35.243 38.648 43.087

Đồ dùng trang thiết bị 79.326 89.105 99.953 112.062 125.780

Gỗ và vật liệu xây dựng 11.188 12.729 14.399 16.312 18.726

Ô tô con 12 chỗ ngồi 27.982 31.252 35.663 40.668 47.302 Xăng dầu các loại và

Nhiên liệu khác

43.633 48.472 55.507 63.571 73.184

(Nguồn: Tổng cục thống kê) Cục thống kê đã báo cáo chi tiết về kết quả khảo sát chỉ tiêu đo lường tốc độ tăng năng suất nền kinh tế thành phố dựa vào năng suất lao động, vốn và sự tiến bộ khoa học công nghệ Qua đó cho thấy, lao động chưa qua đào tạo chuyên môn vẫn chiếm tỷ

lệ cao, lao động có trình độ cao đang tập trung ở những ngành đào tạo ra giá trị thấp, trong khi những ngành tạo ra giá trị gia tăng cao lại có ít lao động có trình độ Các doanh nghiệp cho rằng, hoạt đông đào tạo không gắn với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp Thành phố luôn đặt mục tiêu phải tập trung đầu tư vào các ngành có năng suất cao, thế nhưng đến nay chưa có một đánh giá nào cho từng ngành kinh tế để biết ngành nào có năng suất cao để mà đầu tư Thành phố luôn đặt mục tiêu phải tập trung đầu tư vào các ngành có năng suất cao, thế nhưng đến nay chưa có một ánh giá nào cho từng ngành kinh tế để biết ngành nào có năng suất cao mà đầu tư

2.2 Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân khiến cho năng suất lao động của thành phố Hồ Chí Minh khát triển không đồng đều qua các ngành nghề, trong đó tập trung vào nguyên nhân chủ yếu đó là: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực nhưng còn chậm Các ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ mang tính chất

Trang 7

động lực của nền kinh tế tài chính, ngân hàng, du lịch của thành phố còn chiếm tỷ trọng thấp

Ngoài ra, thay đổi năng suất lao động còn được xem sét ảnh hưởng của yếu tố: quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, thay đổi năng suất lao động trong nội bộ các ngành, do tác động đồng thời của chuyển dịch cơ cấu lao động và thay đổi năng suất lao động trong nội bộ ngành Đối với một thành phố phát triển như Hồ Chí Minh thì yếu tố chuyển dịch cơ cấu lao động đóng vai trò khá quan trọng vào tăng năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế Qua nghiên cho thấy, đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động vào tăng trưởng của NSLĐ ở thành phố vẫn ở mức cao nhưng vẫn có xu hướng giảm Đến nay chưa co thay đổi đáng kể trong bản chất tăng trưởng của ngành, chủ yếu vẫn nhừ vào mở rộng quy mô những ngành sử dụng nhiều lao động, hàm lượng công nghệ thấp, làm cho mục tiêu tăng nhanh giá trị tăng của sản phẩm chưa đạt được Công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành dẫn dắt tăng trưởng NSLĐ nhưng tập trung cao ở những sản phẩm xuất khẩu dựa trên nền tảng công nghệ thấp đến trung bình Trong khi đó, ngành công nghệ cao tập trung ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại hoạt động ở khâu lắp ráp, nhập khẩu linh kiện, có giá trị trong nước tương đối thấp Đồng thời, ngành công nghệ cao chủ yếu tận dụng lao động chi phí giá rẻ, chưa có nhiều tác động lan tỏa đối với khu vực trong nước nên chưa tạo đột phá về tăng trưởng NSLĐ Đó là chưa kể, chuyển dịch cơ cấu lao động tuy diễn ra khá nhanh nhưng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản hiện nay còn lớn, đa số lao động trong khu vực này là lao động giản đơn, công việc có tính thời vụ, không ổn định nên giá trị gia tăng tạo ra thấp, dẫn đến NSLĐ thấp

Máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ còn lạc hậu Trình độ khoa học công nghệ

và đổi mới sáng tạo còn thấp, nhiều doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, tụt hậu 2-3 thế hệ so với mức trung bình của thế giới

Chất lượng nguồn nhân lực hạn chế Điều này thể hiện rõ ở tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý, thiếu hụt lao động có tay nghề cao, khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động còn lớn Tỷ

lệ lao động 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo đang làm việc trong nền kinh tế tăng dần qua các năm nhưng văn còn thấp Ngoài ra, cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo còn bất hợp lý

Năng suất lao động thấp còn phải kể dến chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn nhiều bất cập Năng lực quản lý, quản trị doanh nghiệp còn hạn chế Khu vực doanh nghiệp chưa thực sự là động lực quyết định tăng trưởng năng

Trang 8

suất lao động của nền kinh tế Phần lớn các doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực về vốn hạn hẹp, khả năng đầu tư công nghệ hạn chế, kinh nghiệm quản lý sản xuất yếu và kém năng lực cạnh tranh

Trang 9

3 GIẢI PHÁP CHO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo điều kiện và môi trường kinh doanh thuận lợi nhất cho doanh nghiệp Theo đó, cần tập trung tiếp tục sử dụng chuẩn mực toàn cầu và thực tiễn quốc tế tốt của kinh tế thị trường hiện đại trong thiết kế, giám sát và đo lường kết quả của cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh Các giải pháp cải cách thế chế, cải thiện môi trường kinh doanh, cần hướng đến phát triển các loại thị trường, đảm bảo cạnh tranh công bằng và tăng mức độ cạnh tranh thị trường nhằm tăng hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bố và hiệu quả động năng, là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế; Đồng thời, làm cho hoạt động kinh doanh tự do hơn, thuận lợi hơn, an toàn hơn, rủi ro giảm và chi phí giảm ; Tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư và doanh nghiệp

Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tham gia phân bổ như đầu tư công, đất đai, tài nguyên Đẩy mạnh sắp xếp, cơ cấu lại, giao quyền tự chủ đầy đủ đi đôi với giao trách nhiệm rõ ràng cho các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập

Tăng năng suất nội ngành, nâng cấp chuỗi giá trị trong phát triển ngành đối với cả 3 ngành, nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, từ đó thúc đẩy năng suất nội ngành Các chính sách công nghiệp cần phải được kết hợp, điều phối một cách chặt chẽ và đồng bộ

để có hiệu quả cao và đạt được mục tiêu cụ thể trong nâng cấp chuỗi giá trị của các ngành, chú trọng các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, thúc đẩy liên kết ngành và liên kết vùng

Tập trung phát triển sản xuất sản phẩm có gái trị gia tăng cao, giá trị xuất khẩu lớn,

sử dụng công nghệ cao, tự động hóa, giảm dần các ngành sử dụng nhiều tài nghuyên, khoáng sản và lao động giản đơn Phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

và dịch vụ; chuển dịch trong nội bộ ngành công nghiệp từ sản xuất dựa vào lao động sang , dựa vào công nghệ, hàng hóa có gái trị gia tăng cao

Ổn định kinh tế vĩ mô và tạo điều kiện thuận lợi cho tăng năng suất Thực hiện cơ cấu lại ngân sách, trong đó tập trung quản lý nợ công theo hướng bảo đảm an toàn, bền vững; Siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách; Củng cố và phát triển hệ thống tài chính tín dụng lành mạnh, tập trung xử lý có hiệu quả các tổ chức tín dụng yếu kém, tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu của nền kinh tế căn bản và triệt để, phát triển thị trường tài chính cân bằng hơn; Điều hành chủ động, linh hoạt và phối hợp tốt chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách khác, nhất là chính sách điều chỉnh các loại giá

Trang 10

Khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới, sáng tạo, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu từ các hoạt động có giá trị gia tăng thấp sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao bằng cách tăng cường nguồn vốn con người và tăng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển; Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học và công nghệ là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm… Tập trung đào tạo kỹ năng cho người lao động; tổ chức lại lao động, trong đó chú trọng kết hợp hiệu quả giữa lao động và người máy theo từng công đoạn sản xuất, giúp tăng năng suất lao động Doanh nhiếp cần nâng cao chất lượng và đổi mới biện pháp quản lý, điều hành doanh nghiệp….Các doanh nhân phải chủ động nâng cao trình độ, cập nhật tri thức, nâng cao năng lực và kỹ năng quản lý, năng động, sáng tạo tìm kiếm phương pháp làm việc mới và hiệu quả, nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trường trong nước Cung cấp cấp sản phẩm hướng tới nhu cầu của người tiêu dùng, thúc đẩy phát triển những giải pháp sản xuất và kinh doanh dựa trên số hóa, tích hợp công nghệ tiên tiến

Cần xác định chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế và sở trường, năng lực tài chính của doanh nghiệp Lựa chọn quy mô phù hợp, phát triển những sản phẩm có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao Tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu Giữ vững các thị trường truyền thống và từng bước xâm nhập vào các thị trường hoặc những phân đoạn thị trường cao cấp

Đổi mới tư duy để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động thông qua việc ứng dụng các công nghệ quản lý tiên tiến có điều chỉnh phù hợp với đặt thù văn hóa của doang nghiệp Cắt giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Có chiến lược và thực thi chiến lược năng cao năng suất lao động thông qua chú trọng tăng trưởng dựa vào tri thức và công nghệ; tập trung đầu tư nâng cao năng lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất quản trị doanh nghiệp

Giảm nhanh số lao động giản đơn, gia tăng số lao động có trình độ, tay nghề phù hợp bằng cách đổi mới phương thức, chương trình đào tạo, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, dạy nghề theo hướng hiện đại

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chia sẻ thông tin về các nguồn lực của nền kinh tế để sử dụng hiệu quả và tối ưu, tái sử dụng nguồn lực dư thừa và làm tăng giá trị các nguồn lực của nền kinh tế Đẩy nhanh tiến độ xây dựng thành phố thành dô thị thông minh, năng động, hiện đại với khả năng kết cấu sâu rộng vào chuỗi giá trị khu

Ngày đăng: 25/05/2023, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w