1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THẢO LUẬN MÔN: KINH TẾ NGUỒN NHÂN LỰC ĐỀ TÀI: Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam giai đoạn 2019 – 2021 và các khuyến nghị nâng cao năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam

46 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam giai đoạn 2019 – 2021 và các khuyến nghị nâng cao năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam
Tác giả Trần Thị Phúc Hạnh, Nguyễn Phúc Lương, Nguyễn Tuấn Bảo, Phương Dung, Trần Như Ngân, Tô Thiện Mỹ, Trần Diệu Linh, Đỗ Thùy Linh, Nguyễn Thị Minh Ngọc
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Công Đoàn
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kinh Tế Nguồn Nhân Lực
Thể loại bài thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA SAU ĐẠI HỌC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

-🙞🙜🕮🙞🙜 -

BÀI THẢO LUẬN MÔN:

KINH TẾ NGUỒN NHÂN LỰC

ĐỀ TÀI: Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của ngành Dệt

may Việt Nam giai đoạn 2019 – 2021 và các khuyến nghị nâng cao năng suất lao

động của ngành Dệt may Việt Nam

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS Phạm Công Đoàn NGƯỜI THỰC HIỆN: Nhóm 01

LỚP HÀNH CHÍNH: CH28AQTNL

Hà Nội, 9/2022

Trang 2

BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ ĐIỂM THÀNH VIÊN NHÓM

STT Họ và tên Chức vụ Công việc thực hiện Tự

đánh giá

Nhóm đánh giá

Kết luận

1 Trần Thị Phúc Hạnh Thành viên - Những vấn đề đặt ra

đối với tăng năng suất lao động ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2019-2021

- Rà soát nội dung

2 Nguyễn Phúc Lương Thành viên - Rà soát, hiệu chỉnh

toàn bộ nội dung và format

- Mở đầu, kết luận

- Đề xuất tài liệu tham khảo

3 Nguyễn Tuấn Bảo Thành viên - Giải pháp chủ yếu

nâng cao năng suất lao động ngành dệt may

- Nhóm giải pháp về các nguồn lực, Nhóm giải pháp về công tác quản trị doanh nghiệp, Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách

- Một số kiến nghị với Chính phủ, Bộ, Ngành, Địa phương

4 Phương Dung Thành viên - Thực trạng năng suất

lao động của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2019-2021

- Đề xuất tài liệu tham khảo

5 Trần Như Ngân Thành viên - Xu hướng phát triển

ngành dệt may; Cơ hội

và thách thức đối với tăng năng suất lao động

6 Tô Thiện Mỹ Thành viên - Khái niệm, ý nghĩa,

các chỉ tiêu tăng năng suất lao động

7 Trần Diệu Linh Thành viên Xây dựng, hoàn thiện

Slide

Trang 3

8 Đỗ Thùy Linh Thành viên Đánh giá các nhân tố,

điều kiện tăng năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2019-2021

9 Nguyễn Thị Minh

Ngọc

Trưởng nhóm

- Lên timeline và phân công

- Khái quát về ngành dệt may Việt Nam, quá trình ra đời, phát triển, đánh giá thực trạng nguồn lực

- Rà soát nội dung

Trang 4

MỤC LỤC

I KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 5

1 Khái niệm năng suất lao động 5

2 Ý nghĩa tăng năng suất lao động 5

3 Các chỉ tiêu đo lường năng suất lao động 6

3.1 Chỉ tiêu theo năng suất lao động: 6

3.2 Chỉ tiêu năng suất lao động tính theo bình quân đầu người lao động: 7

4 Các nhân tố và điều kiện nâng cao năng suất lao động 8

4.1 Nhân tố cơ sở vật chất, công nghệ kỹ thuật: 8

4.2 Nhân tố tổ chức sản xuất, quản lý, lao động: 9

4.3 Nhân tố điều kiện tự nhiên, Kinh tế - xã hội, Chính sách, Pháp luật về lao động 9

4.4 Điều kiện tăng năng suất lao động 10

II THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 11 1 Khái quát về ngành Dệt may Việt Nam 11

1.1 Ngành Dệt may có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 Việt Nam và là ngành thâm dụng lao động 11

1.2 Xếp vị trí thứ hai về xuất khẩu quần áo trong chuỗi cung ứng toàn cầu 12

1.3 Ba thị trường xuất khẩu lớn nhất là Mỹ, EU và Nhật Bản 12

1.4 Tỷ lệ nội địa hoá đã cải thiện những nguyên liệu đầu vào vẫn chủ yếu được nhập từ Trung Quốc 13

2 Đánh giá thực trạng nguồn lực của ngành Dệt may 14

2.1 Nguồn Nhân lực 14

2.2 Nguồn lực Vốn 16

2.3 Nguồn lực Công nghệ, cơ sở vật chất, kỹ thuật 17

3 Thực trạng năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2019-2021 17

3.1 Ảnh hưởng bởi đại dịch Covid 17

3.2 Năng suất lao động chưa cao 20

3.3 Nỗ lực vượt khó và phát triển 21

4 Đánh giá các nhân tố, điều kiện tăng năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2019-2021 22

5 Những vấn đề đặt ra đối với tăng năng suất lao động ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2019-2021 24

5.1 Thu nhập của công nhân thấp 25

5.2 Thiếu sự quan tâm, hỗ trợ và quyết tâm của quản lý cấp cao 26

5.3 Chiến lược và mục tiêu của doanh nghiệp chưa thực sự phù hợp 27

5.4 Tổ chức quản lý và kế hoạch sản xuất chưa khoa học, hiệu quả 27

5.5 Chưa phát triển nguồn nhân lực tối ưu 28

III XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỀ TĂNG NĂNG SUẤT CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 29

1 Xu hướng phát triển của ngành Dệt may Việt Nam 29

Trang 5

1.1 Xu hướng thị trường 29

1.2 Xu hướng về khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực dệt may 30

2 Cơ hội và thách thức đối với tăng năng suất lao động ngành Dệt may 30

2.1 Nâng cao năng suất ngành Dệt may 30

2.2 Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 31

IV GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG NGÀNH DỆT MAY 32

1 Nhóm giải pháp về các nguồn lực 32

1.1 Giải pháp về vốn 32

1.2 Giải pháp về tiền lương 33

1.3 Giải pháp về lao động 34

1.4 Giải pháp về công nghệ 35

1.5 Giải pháp về sản phẩm 36

2 Nhóm giải pháp về công tác quản trị doanh nghiệp 37

2.1 Giải pháp về tổ chức sản xuất 37

2.2 Giải pháp về chiến lược và mục tiêu của doanh nghiệp 38

2.3 Giải pháp về quản lý đơn hàng, lệnh sản xuất, tiến độ sản xuất và kiểm kê kho hàng 39

2.4 Giải pháp về quản lý công nhân viên 39

3 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 40

3.1 Giải pháp về nâng cao vai trò quản lý nhà nước ngành Dệt may 40

3.2 Giải pháp về chính sách hỗ trợ phát triển ngành Dệt may 40

3.3 Giải pháp về quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ Dệt may 41

V KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CHO NGÀNH DỆT MAY 41

1 Cơ quan quản lý Nhà nước 41

2 Người sử dụng lao động 41

VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trước những năm 50 của thế kỷ XX, nguồn nhân lực chưa được nhìn nhận và coi trọng đúng đắn do ảnh hưởng của quan điểm kỹ trị, vốn là một hình thức quản trị đề cao năng lực, chuyên môn và kỹ năng về khoa học - kỹ thuật Tiềm năng phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia được xem xét ở các khía cạnh như tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực kỹ thuật, lượng vốn tích lũy, v.v., chủ yếu liên quan đến nguồn lực vật chất và tài chính Tuy nhiên, sau khoảng thời gian này, nhiều quốc gia dù sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất và tài chính hạn hẹp đã trở thành những nền kinh tế mới nổi hùng mạnh, phát triển

về nhiều mặt Điều này đặt ra vấn đề cần xem xét lại vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế xã hội Cụ thể, Nhật Bản, một quốc gia sớm nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực đã xây dựng chiến lược về phát triển con người từ thế kỷ XVII – XVIII Bên cạnh đó, cuối thế kỷ XX, sự xuất hiện của hàng loạt các nước công nghiệp mới

ở châu Á đã chứng minh được vị thế quan trọng của nguồn nhân lực, khoa học và việc quản

lý con người trong sản xuất kinh doanh Vì vậy, có thể khẳng định nguồn nhân lực là tài sản quý giá bậc nhất không chỉ trong một tổ chức, doanh nghiệp mà còn cả xã hội

Trong giai đoạn gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích ấn tượng về kinh

tế xã hội đã được cả thế giới công nhận Tuy nhiên, một vấn đề đáng lo ngại vẫn còn tồn tại, tác động tiêu cực đến cục diện của cả nền kinh tế Việt Nam đến từ hiện trạng năng suất người lao động vẫn còn thấp Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, do đó, nâng cao năng suất lao động là một trong các điều kiện tiên quyết

để đất nước ta tiệm cận với trình độ của các quốc gia phát triển trên thế giới Do đó, cần tiến hành nghiên cứu về nguyên nhân cốt lõi của hiện tượng trên, các yếu tố ảnh hưởng cũng như các phương pháp cải tiến, nâng cao năng suất Đây là một phần trong số các mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của bộ môn Kinh tế nguồn nhân lực

Để có thể phân tích chuyên sâu và làm rõ hơn các nội dung này, nhóm nghiên cứu

đã lựa chọn đề tài “Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam giai đoạn 2019 – 2021 và các khuyến nghị nâng cao năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam” Nói cách khác, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn một ngành nghề

cụ thể, trong một khoảng thời gian xác định gần nhất để đưa ra các nhận xét, đánh giá và giải pháp mang tính toàn diện, sâu sắc và khách quan Có thể thấy, dệt may luôn nằm trong danh sách một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng góp lớn vào nền kinh tế của đất nước, tạo ra giá trị hàng hóa xuất khẩu, vừa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và ở nước ngoài Tuy nhiên, đây vẫn là một ngành thâm dụng lao động với hạn chế

về năng suất, vốn, năng lực, kinh nghiệm và công nghệ - kỹ thuật Nhờ đề tài này, người đọc sẽ hiểu rõ hơn, có cái nhìn khái quát về cơ sở lý luận, các khái niệm cơ bản, hiện trạng của ngành Dệt may, các yếu tố tác động đến năng suất cũng như các đề xuất cải thiện năng

Trang 7

suất của ngành Dệt may tại Việt Nam

Trang 8

I Khái niệm, ý nghĩa tăng năng suất lao động

1 Khái niệm năng suất lao động

Trong quá trình sản xuất, các nhà sản xuất phải luôn xem xét hiệu quả kinh tế, tức

là phải luôn so sánh kết quả đầu ra với các chi phí đầu vào Các nguồn lực đầu vào có thể

kể đến là nguồn lực tài chính (tiền tệ), vật chất (máy móc thiết bị, nguyên, nhiên liệu) và nguồn lực con người Kết quả giữa đầu ra (dưới dạng hiện vật và giá trị) và đầu vào được gọi là năng suất Đối với nguồn nhân lực, việc so sánh kết quả đầu ra và đầu vào, tức lực lượng lao động, được gọi là năng suất lao động

Do đó, năng suất lao động là hiệu quả hoạt động có ích của con người trong một

đơn vị thời gian, được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Nói đến năng suất là nói đến kết quả hoạt động của con người trong một đơn vị thời gian nhất định Còn theo C Mác, năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích

Công thức xác định: W = Q/T hoặc t = T/Q

Trong đó:

W: Năng suất lao động

Q: Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ra

T: Tổng khối lượng thời gian hao phí

t: Lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

2 Ý nghĩa tăng năng suất lao động

Tăng năng suất lao động là sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất lao động, là

sự thay đổi trong cách thức lao động, làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, sao cho lượng lao động ít hơn mà lại sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn Điều này có nghĩa là trong một đơn vị thời gian như cũ, khi năng suất lao động tăng, số lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ nhiều hơn hoặc thời gian lao động hao phí cho một đơn vị sản phẩm giảm đi Khi tăng năng suất lao động, quan hệ giữa phần lao động sống và vật hóa để sản xuất ra đơn vị sản phẩm thường xuyên có sự thay đổi Theo C Mác, giá trị của hàng hóa được quy định bởi tổng số thời gian lao động, lao động quá khứ và lao động sống, đã nhập vào hàng hóa ấy Năng suất lao động tăng biểu hiện ở phần lao động sống giảm, còn phần lao động quá khứ tăng, nhưng lượng lao động sống phải giảm đi nhiều hơn lao động quá khứ tăng lên Do đó, có thể kết luận, lao động sống càng có năng suất cao hơn đòi hỏi sư kết hợp với nhiều lao động vật hóa hơn

Tăng năng suất lao động có nhiều ý nghĩa, trong đó ý nghĩa quan trọng nhất nằm ở chỗ con đường tăng tổng sản phẩm xã hội không có giới hạn, con đường làm giàu cho mỗi

Trang 9

quốc gia và từng thành viên trong xã hội Để tăng tổng sản phẩm xã hội, cần tăng thêm thời gian lao động hoặc tiết kiệm chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm (tăng năng suất lao động) Việc tăng thời gian lao động có giới hạn về tâm sinh lý con người và các điều kiện kinh tế xã hội, tuy nhiên, con đường tăng năng suất lao động là vô hạn do nó phụ thuộc vào tiến bộ của khoa học kỹ thuật Do đó, tăng năng suất lao động không phải là một hiện tượng kinh tế thông thường, mà là một quy luật kinh tế chung cho mọi hình thái kinh tế xã hội,

hay còn gọi là quy luật tiết kiệm thời gian

Ý nghĩa thứ hai của tăng năng suất lao động đến từ việc giảm thời gian hao phí lao

động vào quá trình sản xuất vật chất, làm tăng khả năng thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, tạo

cơ hội cho con người phát triển toàn diện

Cuối cùng, năng suất lao động tăng lên là cơ sở vật chất cho sự tiến bộ của xã hội

Một xã hội mới ra đời chỉ có thể tồn tại, phát triển bền vững khi xã hội đó có năng suất lao động cao hơn các xã hội trước, do năng suất lao động tăng lên là cơ sở cho tích lũy tái sản xuất xã hội, tăng cường quỹ tiêu dùng, qua đó thỏa mãn nhu cầu của xã hội Việc giảm năng suất lao động sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế, ảnh hưởng lớn đến mức sống, lạm phát và thị trường

3 Các chỉ tiêu đo lường năng suất lao động

Tùy thuộc vào việc lựa chọn phương pháp đo lường kết quả sản phẩm đầu ra và chi phí đầu vào, có thể sử dụng các chỉ tiêu khác nhau để biểu hiện, lượng hóa năng suất lao động

3.1 Chỉ tiêu theo năng suất lao động:

Cách tính: W = Q/T, W = VA/T, W = P/T

Trong đó:

Q: Sản lượng tính bằng hiện vật (m, tấn,…) hay giá trị (doanh thu, giá trị sản lượng) VA: Giá trị gia tăng được tạo ra

P: Lợi nhuận được tạo ra

T: Tổng thời gian hao phí để SX sản lượng Q (giờ, ngày hoặc người)

Khi áp dụng cách tính này, có thể đánh giá được hiệu quả lao động chính xác, trực quan, phản ánh chính xác kết quả lao động trong tổ chức và có thể so sánh trực tiếp trong doanh nghiệp cùng một loại sản phẩm Đồng thời, cách tính này cũng không chịu ảnh hưởng của giá cả và các yếu tố khác Tuy vậy, chỉ tiêu này chỉ áp dụng được với sản phẩm hoàn chỉnh, không thể so sánh các sản phẩm hoặc những ngành khác nhau và không phản ánh được chất lượng sản phẩm Điều này đặc biệt bất lợi với các doanh nghiệp có tỷ lệ sản phẩm

dở dang lớn như chế phẩm, chế tác Để khắc phục nhược điểm này, chỉ tiêu hiện vật quy

Trang 10

ước được đưa ra, trong đó lựa chọn một sản phẩm làm đơn vị đo lường chung và tiến hành quy đổi các sản phẩm còn lại ra sản phẩm được chọn làm đơn vị đo lường chung Cũng cần lưu ý về các đặc điểm về trọng lượng, khối lượng, công suất, thời gian, v.v và chọn sản phẩm thuận lợi cho việc tính toán, so sánh

3.2 Chỉ tiêu năng suất lao động tính theo bình quân đầu người lao động: Cách tính: W = Q/L, W= VA/L, P/L

Trong đó:

Q: Sản lượng/giá trị (doanh thu, giá trị gia tăng, lợi nhuận)

VA: Giá trị gia tăng được tạo ra

P: Lợi nhuận được tạo ra

L: Tổng số lao động

Ưu điểm của cách tính này là khả năng phản ánh, tổng hợp hiệu quả của lao động, cho phép tính cho các loại sản phẩm khác, bao gồm phế phẩm, khắc phục được nhược điểm chi tiêu tính bằng hiện vật Ngoài ra, cách tính chỉ tiêu năng suất lao động tính theo bình quân đầu người lao động cho phép tổng hợp chung được sản phẩm doanh nghiệp đã tạo ra trong kỳ (thành phẩm, bán thành phẩm, các công việc và dịch vụ, v.v.) Phạm vi sử dụng của cách tính này cũng rộng rãi và có thể áp dụng, so sánh năng suất lao động giữa các ngành, nghề và quốc gia, Tuy nhiên, nhược điểm của cách tính trên là chịu sự chi phối lớn của giá cả, của phương pháp tính công xưởng (cộng dồn từ dưới lên nên dễ bị trùng lặp), cũng như không khuyến khích tiết kiệm vật liệu do doanh nghiệp càng dùng nguyên liệu đắt tiền thì năng suất lao động càng cao Bên cạnh đó, doanh nghiệp thay đổi kết cấu mặt hàng cũng có thể ảnh hưởng đến năng suất lao động Do đó, để khắc phục ảnh hưởng trên, người ta loại trừ chúng bằng cách nhân với hệ số hao phí lao động theo công thức sau:

Cách tính: I w1 = I w x H lđ

Trong đó:

I w1: Chỉ số năng suất lao động sau khi trừ ảnh hưởng

I w: Chỉ số năng suất lao động trước khi trừ ảnh hưởng

H lđ : Hệ số hao phí lao động

3.3 Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng thời gian lao động:

Cách tính: t = T/Q

Trong đó:

Trang 11

t: Lượng thời gian hao phí cho một sản phẩm

T: Tổng thời gian hao phí

Q: Sản lượng (hiện vật/giá trị)

Lượng lao động hao phí (t) được tính bằng cách tổng hợp tất cả thời gian lao động của các bước công việc để sản xuất ra các chi tiết sản phẩm và lắp ráp chúng

L cn : Lượng lao động công nghệ là lượng lao động của công nhân chính

L pvs : Lượng lao động của công nhân phục vụ quá trình sản xuất

L dd : Lượng lao động đầy đủ gồm lượng lao động của công nhân sản xuất và lượng

4 Các nhân tố và điều kiện nâng cao năng suất lao động

Năng suất lao động chịu sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó có nhân tố làm tăng,

có nhân tố làm giảm năng suất lao động Theo nội dung và bản chất của năng suất lao động, tất cả các nhân tố được phân chia thành ba nhóm cơ bản sau:

4.1 Nhân tố cơ sở vật chất, công nghệ kỹ thuật:

Nhân tố này bao gồm trình độ phát triển của kỹ thuật, công nghệ, điện tử, tin học; tự động hoá; tạo ra vật liệu mới; năng lượng; công nghệ sinh học Việc trang bị năng lượng cho lao động, điện khí hóa, hóa học hóa sản xuất trong mỗi ngành công nghiệp và nông nghiệp sẽ tạo ra công nghệ mới, làm giảm chi phí lao động sống, tiết kiệm các nguồn vật chất; chuyên môn hóa máy móc và thiết bị, v.v Kết quả của sự tác động của các nhân tố vật chất kỹ thuật là năng suất lao động tăng lên và lượng lao động giảm thấp

Tác động của nhân tố vật chất kỹ thuật tới Năng suất lao động được tính bằng công

Trang 12

thức sau:

Cách tính W= (L ct x 100)/(100 – L ct )

Trong đó:

W: % tăng NSLĐ

L ct : % giảm hao phí lao động trên một đơn vị sản phẩm

4.2 Nhân tố tổ chức sản xuất, quản lý, lao động:

Nhân tố này bao gồm trình độ lành nghề; chế độ sở hữu; điều kiện lao động; cường

độ lao động; phân công, hợp tác lao động; trình độ quản lý lao động; trình độ lành nghề, thái độ, tạo động lực lao động Việc nâng cao năng suất lao động trong ngành hoặc toàn bộ nền kinh tế đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý các doanh nghiệp theo lãnh thổ, việc chuyên môn hóa và hiệp tác hóa chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, v.v Các nhân tố tổ chức nói chung

và tổ chức lao động khoa học nói riêng đều tác động đến tăng giảm thời gian lao động Tổ chức tốt sẽ cho phép rút ngắn thời gian làm việc hay tiết kiệm thời gian, trên cơ sở đó năng suất lao động sẽ được nâng cao

Tác động của nhân tố mức độ sử dụng ngày công tới năng suất lao động được tính toán như sau:

Cách tính W= T/T 0 x 100 - 100 hay W= (100-T ni )/(100-T n ) x 100 - 100

Trong đó:

W: % tăng NSLĐ do giảm tổn thất thời gian

T: quỹ thời gian làm việc sau khi áp dụng biện pháp tổ chức

T o : quỹ thời gian làm việc trước khi áp dụng biện pháp tổ chức

T ni : % thời gian làm việc còn lại theo kế hoạch

T n : % hao phí thực tế thời gian làm việc trước khi thực hiện các giải pháp

4.3 Nhân tố điều kiện tự nhiên, Kinh tế - xã hội, Chính sách, Pháp luật về lao

động

Nhân tố này bao gồm một số thành phần nhỏ hơn như sau:

1 Các điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết, địa hình, đất đai, nguồn tài nguyên, v.v

2 Các điều kiện kinh tế - xã hội như mức độ đảm bảo lợi ích vật chất, tinh thần của

cá nhân và tập thể lao động; trình độ lành nghề của công nhân, chất lượng đào tạo và trình độ văn hóa kỹ thuật lao động; sự thay đổi hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất

3 Các điều kiện về Chính sách, Pháp luật về lao động gồm các chính sách phát triển Kinh tế - xã hội của Nhà nước; Môi trường kinh doanh và pháp luật trong nước;

Trang 13

Mức độ ổn định kinh tế - chính trị trên thế giới và sự hợp tác kinh tế giữa các nước và môi trường đầu tư quốc tế, v.v

Bên cạnh các nhân tố cơ sở vật chất, công nghệ kỹ thuật và tổ chức sản xuất, quản

lý, lao động, các nhân tố trên cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định, tính toán

và lượng hóa năng suất lao động

Hiện nay, các nhân tố tăng năng suất được chia thành ba nhóm như đã trình bày Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, cần mở rộng thêm cách phân loại truyền thống và bổ sung thêm các nhân tố liên quan đến lao động quá khứ, như sử dụng hiệu quả, tiết kiệm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu và năng lượng Sử dụng tiết kiệm và hợp lý các yếu tố đầu vào, tăng tỷ lệ khấu hao đều góp phần tăng năng suất lao động xã hội

4.4 Điều kiện tăng năng suất lao động

Dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động, theo các nguyên tắc cơ bản, những điều kiện để tăng năng suất lao động là hạn chế tác động tiêu cực và phát huy tác động tích cực của các nhân tố năng suất lao động

Thứ nhất, đối với nhân tố cơ sở vật chất, công nghệ kỹ thuật cần ứng dụng thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ, v.v vào quản lý và sản xuất Thực tế trong thời gian qua đã cho thấy, nhờ nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ đã thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực chủ lực, nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam, không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà còn dùng để xuất khẩu Điều này gián tiếp nâng cao giá trị cho cả nền kinh tế đất nước

Thứ hai, đối với nhân tố tổ chức sản xuất, quản lý, lao động cần thực hiện các tổ chức quản lý nguồn nhân lực khoa học hiệu quả; xây dựng hệ thống kích thích lao động, đảm bảo quyền lợi vật chất, tinh thần cho người lao động, v.v Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các con người Quản trị nguồn nhân lực cần hướng đến niềm tin cho rằng, nhân lực đóng vai trò quan trọng nhất đến thành bại của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có thể tăng lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách sử dụng người lao động hiệu quả Quản trị nguồn nhân lực nhằm mục đích phát hiện, giữ gìn, phát triển nhân tài, nhanh nhạy

và thúc đẩy sự cống hiến trong công việc

Cuối cùng, đối với nhân tố điều kiện tự nhiên, Kinh tế - xã hội, Chính sách, Pháp luật về lao động, cần thực hiện thích ứng các điều kiện tự nhiên, đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ lành nghề, hoàn thiện cơ cấu cán bộ, thực hiện cơ chế chính sách ổn định, phát triển kinh tế - chính trị và tăng cường hợp tác kinh tế thế giới, thu hút đầu tư Vì điều kiện

tự nhiên rất khó thay đổi hay can thiệp, do đó, phải tìm ra các biện pháp khắc phục, giảm nhẹ rủi ro, hậu quả của các điều kiện tự nhiên tiêu cực Xét đến các yếu tố còn lại, đảm bảo một môi trường kinh doanh, đầu tư lành mạnh, với các chính sách khuyến khích hỗ trợ,

Trang 14

hướng đến phát triển kinh tế, xã hội là công tác vô cùng quan trọng

II Thực trạng năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam

1 Khái quát về ngành Dệt may Việt Nam

Ngành Dệt may tồn tại ở Việt Nam ít nhất hơn một thế kỷ tính đến nay Tuy nhiên, đây là mốc thời gian được chọn khi dệt may được xem là một ngành công nghiệp, còn khi xét về lịch sử với những hoạt động truyền thống như thêu thùa, dệt lụa, may vá thì chúng

đã có từ xa xưa Vào thời kỳ Bắc thuộc, chúng ta đã có thể dệt và cống nạp nhiều loại vải quý cho các triều đại Trung Quốc, đây có thể được xem là cái nôi của ngành công nghiệp dệt may hiện nay Tuy công nghiệp ngày một phát triển, nhưng những làng nghề truyền thống ngày ấy được bảo tồn và vẫn hoạt động cho tới bây giờ như làng lụa Vạn Phúc – Hà Tây, làng Mẹo – Thái Bình hay làng Triều Khúc – Hà Nội Lịch sử ngành dệt may Việt Nam được tính là bắt đầu năm 1897 khi thành lập nhà máy dệt Nam Định Ở miền Nam, các doanh nghiệp được thành lập và sử dụng máy móc Châu Âu, còn ở miền Bắc, các doanh nghiệp nhà nước do Trung Quốc, Liên Bang Xô Viết cũ và Đông Âu cung cấp thiết bị máy móc cũng được thành lập trong giai đoạn này Sau khi trải qua nhiều biến động và thay đổi lịch sử, từ đầu TK XXI đến nay, ngành dệt may Việt Nam nhanh chóng phát triển trở lại và trở thành một ngành công nghiệp quan trọng bậc nhất của đất nước Dưới đây là nội dung trình bày về ngành Dệt may Việt Nam, trong đó làm rõ một số đặc điểm nổi bật

1.1 Ngành Dệt may có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 Việt Nam và là

ngành thâm dụng lao động

Cùng với sản phẩm của các ngành Công nghệ thông tin, Công nghiệp điện tử, các sản phẩm của ngành Dệt may - Da giày cũng mang lại giá trị xuất khẩu cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia Năm 2021, ngành dệt may xuất khẩu ước đạt 39 tỷ USD, tăng 11,2% so với năm 2020 và tăng 0,3% so với năm 2019, theo số liệu của Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) Đây là nỗ lực của toàn ngành trong bối cảnh tốc độ phục hồi của kinh

tế thế giới có xu hướng chậm lại do ảnh hưởng dịch Covid-19 Hơn nữa ngành Dệt may -

Da giày còn giải quyết một số lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2021, ngành Dệt May Việt Nam đóng góp 10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc, tạo công ăn việc làm cho gần 3 triệu lao động, chiếm tỷ lệ 25% tổng

số lao động trong ngành công nghiệp và chiếm 5% tổng số lao động Theo số liệu của Hiệp hội Dệt May Việt Nam, tính đến năm 2021, tổng số doanh nghiệp dệt may đạt trên 10.000 doanh nghiệp

Trang 15

Báo cáo 6 tháng đầu năm 2021 - Nguồn Tổng cục thống kê

1.2 Xếp vị trí thứ hai về xuất khẩu quần áo trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Theo Chánh Văn phòng Hội đồng quản trị kiêm Người phát ngôn Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX), thị phần dệt may Việt Nam năm 2021 đã vươn lên đứng thứ 2 thế giới Cụ thể, Trung Quốc chiếm thị phần 38%, tiếp đến là Việt Nam với 5,1% và đứng thứ

3 là Bangladesh, với 5% Có thể nói, ngành Dệt may ghi nhận sự tăng trưởng nhanh chóng

và đạt được vị trí hàng đầu trên thế giới và trong khu vực

1.3 Ba thị trường xuất khẩu lớn nhất là Mỹ, EU và Nhật Bản

Dựa trên số liệu từ Tổng cục Hải Quan, thị trường Mỹ vẫn chiếm vị trí xuất khẩu chính ở Việt Nam với 16 tỷ USD vào năm 2021, tăng 15% so với năm 2020 Tiếp theo đó

là các thị trường khác như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc

Kim ngạch xuất khẩu được hưởng lợi từ việc ký kết các hiệp định FTA và do Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Đầu tiên, với Hiệp định EVFTA (Hiệp định thương mại tự

do Liên minh châu Âu - Việt Nam), số liệu ghi nhận ở 6 tháng năm 2021, sản lượng xuất khẩu may mặc sang EU tăng 19% so với cùng kỳ, đạt 1,4 tỷ USD Xuất khẩu xơ, sợi đạt 18 triệu USD, tăng mạnh gần 80% so với cùng kỳ Trong đó, các thị trường khác ghi nhận sự

Trang 16

tăng mạnh, như Pháp 40%, Hà Lan 21%, Tây Ban Nha 20% Đối với Hiệp định CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), số liệu ghi nhận lũy kế

ở 6 tháng năm 2021, sản lượng xuất khẩu may mặc sang các nước thành viên CPTPP tăng 2,0%, đạt gần 2 tỷ USD Trong đó đáng chú ý các thị trường đạt tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước như Canada (31%), Úc (60%) và New Zealand (67%) Cuối cùng, Hiệp định RCEP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực), Việt Nam nằm trong nhóm các nước sản xuất dệt may lớn nhất thế giới như Trung Quốc, VN, Campuchia và Myanmar (Hiệp định này không có Bangladesh)

1.4 Tỷ lệ nội địa hoá đã cải thiện những nguyên liệu đầu vào vẫn chủ yếu

được nhập từ Trung Quốc

Trong tám tháng đầu năm 2022, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tổng giá trị nhập khẩu nguyên vật liệu, phụ liệu cho ngành dệt may rơi vào khoảng độ 13 tỷ USD (sau khi trừ khoảng 1,5 tỷ USD phụ liệu cho ngành giày da) Như vậy, ngành dệt may đã tạo ra

17 tỉ USD, thặng dư thương mại từ xuất khẩu và trong số này khoảng 6,5 tỷ USD là tiền

Trang 17

lương cho người lao động Còn lại, gần 11 tỷ USD là việc mua các nguồn nguyên liệu, phụ liệu ở trong nước Tức là bên cạnh việc tạo kim ngạch, ngành dệt may còn tạo động lực để phục hồi nhiều doanh nghiệp ở các loại hình khác nhau Đặc biệt, từ trước đến nay, dệt may chỉ đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 50%, tuy nhiên tám tháng đầu năm nay đã đạt 57%, tức gần đạt mục tiêu 60% của năm 2025 và cũng trong nhiều năm, theo thống kê, tuy dệt may chỉ

có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ tư trong các ngành nhưng thặng dư thương mại của dệt may luôn đứng thứ nhất

Như vậy ngành Dệt may Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi và biến động, đồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức trong tương lai cũng như một số hạn chế hiện tại, nhưng bằng đường lối chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ, ngành dệt may Việt Nam đã gặt hái được những thành tựu được thế giới công nhận và đang trên đà phát triển mạnh mẽ

2 Đánh giá thực trạng nguồn lực của ngành Dệt may

2.1 Nguồn Nhân lực

2.1.1 Nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ, thâm dụng lao động nữ, lao động trẻ

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2021, cả nước ta có trên 10 nghìn doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong ngành Dệt may Đây luôn là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và sử dụng nhiều lao động Do đặc thù công việc trong ngành dệt may cần sự tỉ mỉ, khéo léo nên tỷ trọng lao động nữ nhiều hơn nam (chiếm 73,80%) Theo nhóm tuổi, số lao động trong ngành Dệt May chủ yếu ở nhóm lao động trẻ (15- 35 tuổi) chiếm 71,92%

Với lợi thế nhân công rẻ giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành, giúp các doanh nghiệp dệt may cạnh tranh về giá nhân công so với các ngành nghề khác và các nước Hơn nữa, chi phí lao động ngành Dệt may Việt Nam hiện nay tương đối thấp so với nhiều nước trong khu vực Theo một nghiên cứu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cứ 1 tỷ USD hàng Dệt May Việt Nam xuất khẩu sẽ tạo thêm khoảng 250.000 việc làm Đặc biệt với dân

số gần 100 triệu người (2021), trong đó 49% dân số trong độ tuổi lao động đã cung cấp cho ngành Dệt may nguồn lao động dồi dào

2.1.2 Thiếu hụt nhân lực có trình độ, dẫn đến năng suất lao động thấp

Tuy nhiên, một hạn chế của ngành Dệt may Việt Nam là sự thiếu hụt nguồn nhân lực sở hữu kỹ năng và lành nghề về kỹ thuật trong lĩnh vực dệt, nhuộm Hơn nữa, chi phí lao động rẻ nhưng chi phí bình quân cho 1 đơn vị sản phẩm vẫn cao hơn của Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia đến từ 30% đến 40% Năng suất lao động nước ta thấp và chỉ bằng 2/3 so với các nước trong khu vực

Trang 18

Nguồn: Bộ LĐ-TB XH

Biểu đồ cho thấy tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm đến 83%, điều này đồng nghĩa với việc đa số lao động thiếu kỹ năng cứng và cả kỹ năng mềm cần thiết không những cho công việc hiện tại mà còn cho những công việc đòi hỏi kỹ năng cao của công nghiệp 4.0 Đối với các công việc như khả năng vận hành máy kỹ thuật số phức hợp, kỹ thuật lập trình, phân tích dữ liệu, v.v Do đó lao động phổ thông chưa qua đào tạo khó có thể đảm nhận được

Nguồn: Bộ LĐ-TB XH

Trang 19

Biểu đồ trên cho thấy sự phân bổ về trình độ có độ lệch trái rất lớn trong cả 4 nhóm ngành, trong đó trình độ phổ thông chưa qua đào tạo chiếm ít nhất 81% Mặc dù có giá trị xuất khẩu cao nhất trong toàn bộ các nhóm ngành, nhưng tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo lại chiếm đa số, trong khi các chỉ số về tỷ lệ trình độ trung cấp, cao đẳng, và đại học lại thấp hơn các nhóm ngành khác Do đó, đây sẽ là 1 rào cản lớn để chuyển đổi hình thức gia công sang may theo đơn, thiết kế, v.v Điều này cho thấy, ngành dệt may Việt Nam đang bị mất cân đối trầm trọng trong cơ cấu trình độ lao động, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm quá lớn (chiếm ⅘ lực lượng lao động), dẫn đến chuyển đổi mô hình sản xuất, tăng năng suất gặp rất nhiều hạn chế, điều này cũng giải thích tại sao năng suất lao động của người Việt Nam luôn ở trong nhóm các nước có năng suất thấp, theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO)

2.1.3 Dần mất lợi thế của nhân công giá rẻ

Vốn đang sở hữu lợi thế về chi phí nhân công, bên cạnh việc chịu ảnh hưởng nặng

nề nhất từ dịch bệnh Covid, nhiều quốc gia có giá nhân công rẻ chỉ bằng một nửa của Việt Nam Để thu hút đơn hàng, các nước này đã áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp dệt may của họ như giảm nhiều loại thuế, khiến nguy cơ mất đơn hàng của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng cao Ngoài ra, ngành dệt may đang chịu sức ép về nguồn cung khi phải trả chi phí cao hơn để mua vải từ Trung Quốc, trong khi áp lực giảm giá từ các đơn hàng xuất khẩu để cạnh tranh không nhỏ Cuối cùng, việc đầu tư, áp dụng khoa học công nghệ cho ngành dệt may còn hạn chế, dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (với trình độ tự động hóa cao, sử dụng robot), ngành Dệt may Việt Nam có thể mất lợi thế về nhân công giá rẻ 85% lao động trong Ngành có thể sẽ bị máy móc công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 thay thế

2.2 Nguồn lực Vốn

Nhìn chung, việc huy động vốn vào ngành Dệt may đang gặp nhiều khó khăn Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, đa số doanh nghiệp dệt may có quy mô nhỏ, sản xuất manh mún, vốn mỏng, chủ yếu thực hiện gia công (chiếm gần 70%) cho các thương hiệu lớn Trong khi đó, khả năng huy động nguồn vốn của doanh nghiệp dường như rất yếu, từ việc vay vốn của các tổ chức tín dụng, tín dụng thương mại cho đến việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu đều gặp nhiều trở ngại, khó khăn khi thực hiện Từ đầu năm 2020, những

dự án FDI mới trong lĩnh vực dệt may, xơ sợi, dệt nhuộm tại Việt Nam không còn tấp nập như thời gian trước

Nhờ năng lực kiểm soát thành công dịch bệnh được cộng đồng quốc tế đánh giá cao

và môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện, Việt Nam được xem là điểm đến của nhiều dòng vốn ngoại sau đại dịch Covid-19 Tuy nhiên, làn sóng dịch chuyển đầu tư vào ngành

Trang 20

dệt may chưa xảy ra khi tổng cầu dệt may toàn cầu chưa tăng lên, diễn biến thị trường vẫn khó đoán định Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tổng vốn FDI đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 19,54 tỷ USD, giảm 13,7% so với cùng kỳ năm 2019

2.3 Nguồn lực Công nghệ, cơ sở vật chất, kỹ thuật

Điểm mạnh của nguồn lực này thể hiện ở thực tế đến 90% các thiết bị trong ngành may mặc được hiện đại hóa, đáp ứng các yêu cầu của các nhà nhập khẩu dệt may nước ngoài Thứ hai, nhiều doanh nghiệp dệt may được tổ chức tốt và có quy mô lớn, có kinh nghiệm trong sản xuất và xuất khẩu, có thể tuân thủ các tiêu chuẩn quản lý và xã hội Hơn nữa các công ty này còn có mối quan hệ chặt chẽ và ổn định với rất nhiều nhà nhập khẩu

và bán lẻ trên thế giới Thứ ba, Việt Nam có vị trí địa lý gần với các nguồn nguyên liệu (vải, phụ kiện chính cho ngành) trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ

Tuy nhiên, xét về điểm yếu, ngành công nghiệp phụ trợ cho Dệt may cho ngành còn yếu Hơn 70% nguyên liệu phục vụ cho ngành được nhập khẩu từ nước ngoài, dẫn đến việc công việc sản xuất còn thụ động, hạn chế khả năng phản ứng nhanh chóng, đặc biệt trong các thời điểm gián đoạn chuỗi cung ứng như Covid Ngoài ra, khả năng quản lý sản xuất

và công nghệ vẫn còn yếu, năng suất lao động còn thấp, và các sản phẩm không đa dạng Hầu hết các doanh nghiệp trong ngành là doanh nghiệp vừa và nhỏ với các nguồn vốn đầu

tư thấp và hạn chế khả năng về đổi mới công nghệ và thiết bị Năng lực đào tạo nguồn nhân lực quản lý trung và cao cấp, thiết kế thời trang vẫn còn thấp Cuối cùng, công tác marketing, xúc tiến thương mại, thiết kế thời trang, xây dựng và phát triển thương hiệu chưa được quan tâm đúng mức Các doanh nghiệp chủ yếu vẫn thực hiện gia công nhỏ lẻ, với giá trị thu về chưa cao, do đó, kinh phí triển khai quảng bá và sáng tạo sản phẩm chưa nhiều và được chú trọng

3 Thực trạng năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2019-2021

3.1 Ảnh hưởng bởi đại dịch Covid

Trong những năm qua, ngành Công nghiệp Dệt may Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng của nền kinh

tế Giai đoạn 2019-2020, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang bùng phát tại Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam gặp không ít khó khăn Phần lớn nguyên phụ liệu ngành Dệt may nhập khẩu từ nước ngoài nên khi dịch bệnh bùng phát, chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào bị gián đoạn Thêm vào đó, 2 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Mỹ và EU hạn chế nhập khẩu để đối phó với dịch bệnh khiến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm giảm, nhà máy bị phong tỏa, công nhân bị cách ly, v.v từ tháng 4/2020, người tiêu dùng trên thế giới chỉ tập trung vào đồ dùng thiết yếu và phòng chống

Trang 21

dịch bệnh khiến các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã phải đối mặt với tình trạng khan hiếm đơn hàng Các đơn hàng nhỏ giọt, số lượng và giá trị thấp chỉ duy trì sản xuất trong thời gian ngắn theo từng tháng, thậm chí từng tuần, nhiều doanh nghiệp phải giãn ca, cho công nhân nghỉ việc luân phiên, ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu và năng suất lao động của ngành

Đối với mặt hàng dệt may, vào năm 2020, xuất khẩu hàng dệt, may của Việt Nam đạt 29,81 tỷ USD, giảm 9,2% so với năm 2019 Hoa Kỳ là thị trường đạt kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 13,99 tỷ USD, giảm 5,8% so với năm 2019 và chiếm tỷ trọng 46,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, may của cả nước Đứng thứ hai là thị trường EU, đạt 3,08 tỷ USD, giảm 11,7% so với năm trước, chiếm tỷ trọng 10,3% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, may Tiếp đến là thị trường Nhật Bản đạt 3,53 tỷ USD, giảm 11,4% so với năm trước và chiếm 11,9% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, may Lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, Việt Nam chiếm trên 20% thị phần hàng may mặc vào Hoa Kỳ

Đối với mặt hàng xơ, sợi dệt, giá trị xuất khẩu sợi đạt 3,74 tỷ USD, giảm 10,5% về giá trị nhưng tăng 1,2% về số lượng so với năm 2019 Giá xuất khẩu bình quân năm đạt khoảng 2.150 USD/tấn, giảm 11,6% so với năm 2019 Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt gần 1,2 triệu tấn, tương đương 2,7 tỷ USD, tăng 5,1% về số lượng nhưng giảm 7,2% về trị giá Năm 2020 là năm khó khăn cho ngành xơ sợi, ngoài việc phải chịu tác động tiêu cực từ đại dịch toàn cầu, ngành xơ sợi còn phải chịu ảnh hưởng do các vụ việc điều tra

và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại từ các nước nhập khẩu Ngành xơ sợi đã bị Hoa Kỳ và Ấn Độ tiến hành điều tra chống bán phá giá và Thổ Nhĩ Kỳ điều tra tự vệ toàn cầu Xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ giảm do tác động tiêu cực từ các vụ việc áp thuế chống lẩn tránh đối với sợi POY và chống bán phá giá đối với sợi dún polyester và sợi nhân tạo Ngoài ra, từ cuối năm 2020, hầu hết các doanh nghiệp xơ sợi đều không có đơn hàng mới

từ thị trường Trung Quốc hoặc khách trả giá thấp

Đối với nguyên phụ liệu ngành Dệt may, xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt may đạt 1,0

tỷ USD, giảm 16% và vải mành, vải kỹ thuật khác đạt 456 triệu USD, giảm 22,6%

Tình hình xuất khẩu các sản phẩm của ngành dệt may

Trang 22

Nguyên phụ liệu dệt may 1.012 -16,0

Vải mành, vải kỹ thuật

khác

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan

Đối với Dệt sợi, sản lượng không bị ảnh hưởng quá nhiều do tác động của dịch Covid Tuy nhiên, so với năm 2019, sản lượng kéo sợi hàng tháng năm 2020 đã giảm, lần lượt từ 103 nghìn tấn và 11.9 cọc xuống 97.08 nghìn tấn và 10.2 cọc Đây vẫn được coi là một mức giảm nhẹ Đến năm 2021, cùng với sự hồi phục của kinh tế Việt Nam và thế giới, Dệt sợi dần lấy lại được phong độ và bứt tốc ở mọi chỉ số về sản lượng tổng, trung bình theo số cọc và khối lượng

Tình hình sản xuất của ngành dệt sợi

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục thống kê

Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng sản xuất công

nghiệp tạo ra trong kì hiện tại với khối lượng sản xuất công nghiệp kỳ gốc Theo đúng xu thế dịch bệnh phức tạp trên toàn thế giới, mức độ tăng trưởng của ngành dệt và may đều ghi nhận đà giảm trong năm 2020 so với năm 2019 Tuy nhiên, năm 2021 cũng là năm hồi phục của sản xuất ngành may và thời trang, do đó, các chỉ số tăng trưởng của kéo sợi, dệt

và may đều tăng mạnh trở lại, trong khoảng từ 8% đến 9% so với năm 2020

Chỉ số tăng trưởng sản xuất công nghiệp ngành dệt may (IIP)

Trang 23

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục thống kê

Một thống kê khác về Tổng kim ngạch xuất khẩu cũng đã minh họa cho mức độ ảnh hưởng lớn của dịch Covid đối với ngành Dệt may So với kế hoạch đã đề ra, tổng kim ngạch toàn ngành Dệt may năm 2020 chỉ đạt 83.36%, tương đương với 35.01 tỷ USD Tuy vậy, đến năm 2021, nhờ vào sự hồi phục của nền kinh tế, cũng như các thị trường xuất khẩu của Việt Nam dần mở cửa và nhu cầu về hàng hóa may mặc tăng trở lại, tổng kim ngạch xuất khẩu đã vượt chỉ tiêu đề ra, đạt 102.63%, tương đương với 39 tỷ USD

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục thống kê

Có thể thấy, Covid 19 ảnh hưởng khá lớn đến năng lực sản xuất và kinh doanh của ngành Dệt may, đặc biệt ở trong giai đoạn 2020 Do tính chất phức tạp chưa từng có của dịch bệnh, nhu cầu, thu nhập và sự sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng toàn cầu giảm Dù vậy, đến năm 2021, ngành Dệt may đã ghi nhận nhiều con số tích cực hơn, dù vẫn phải chịu tác động tiêu cực do dịch bệnh chưa hoàn toàn kết thúc, thậm chí tại Việt Nam và nhiều quốc gia, dịch bệnh quay trở lại bùng phát với quy mô và mức độ nghiêm trọng hơn nhiều

3.2 Năng suất lao động chưa cao

Sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong 10 năm trở lại

Ngày đăng: 01/10/2022, 20:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Lương Bằng. Mỗi lao động Việt làm ra 102 triệu/năm, bằng 1/30 Singapore. https://vietnamnet.vn/moi-lao-dong-viet-lam-ra-102-trieunam-bang-130-singapore-556163.html. Trích dẫn ngày 25/09/2022 Link
5. Nguyễn Thị Thu Trang. Kết quả nghiên cứu: Thực trạng năng suất lao động của Việt Nam và một số giải pháp tăng năng suất lao động. https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/thuc-trang-nang-suat-lao-dong-cua-viet-nam-va-mot-so-giai-phap-tang-nang-suat-lao-dong-73305.html. Trích dẫn ngày 25/09/2022 Link
6. Thanh Thương. JICA: Năng suất lao động của Việt Nam rất thấp trong khu vực. https://vietstock.vn/2022/09/jica-nang-suat-lao-dong-cua-viet-nam-rat-thap-trong-khu-vuc-761-998654.htm. Trích dẫn ngày 24/09/2022 Link
1. Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu. Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2008 Khác
2. C. Mác; Ph. Ăngghen; V. I. Lênin: Tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2005 Khác
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê. Năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và Giải pháp, năm 2019 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tình hình sản xuất của ngành dệt sợi - BÀI THẢO LUẬN MÔN: KINH TẾ NGUỒN NHÂN LỰC ĐỀ TÀI: Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam giai đoạn 2019 – 2021 và các khuyến nghị nâng cao năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam
nh hình sản xuất của ngành dệt sợi (Trang 22)
Trên cơ sở công thức tính khấu hao nh trên, cuối tháng kế toán lập bảng kê trích khấu hao TSCĐ - BÀI THẢO LUẬN MÔN: KINH TẾ NGUỒN NHÂN LỰC ĐỀ TÀI: Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam giai đoạn 2019 – 2021 và các khuyến nghị nâng cao năng suất lao động của ngành Dệt may Việt Nam
r ên cơ sở công thức tính khấu hao nh trên, cuối tháng kế toán lập bảng kê trích khấu hao TSCĐ (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w