1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

070_Phan Thi Thu Hoa_ Đ19Nl4.Pdf

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn Nhân Lực Trình Độ Chuyên Môn Kỹ Thuật Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Giai Đoạn 2019 - 2020
Trường học Trường Đại Học Lao Động Xã Hội
Chuyên ngành Khoa Quản Lý Nguồn Nhân Lực
Thể loại Tiểu luận học phần
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 755,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ II, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC Số báo danh 070 PHAN THỊ THU HÒA Mã số sinh viên 1953404040903 Lớp Đ19NL4 Sáng thứ 3 TIỂU LUẬN HỌC PHẦN NGUỒN NHÂN LỰC NGUỒN NHÂN L[.]

Trang 1

CƠ SỞ II, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI

KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC

Số báo danh: 070 PHAN THỊ THU HÒA

Mã số sinh viên: 1953404040903 Lớp: Đ19NL4 _ Sáng thứ 3

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN NGUỒN NHÂN LỰC NGUỒN NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT TẠI THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2019 - 2020

Điểm chữ Cán bộ coi thi 2

Trang 2

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ cách mạng 4.0 đã làm thay đổi nhanh chóng những đòi hỏi về việc làm, thị trường lao động Những ngành nghề sử dụng nhiều lao động, kỹ năng thấp,… sẽ mất lợi thế cạnh tranh Xu hướng thị trường lao động hiện nay chú trọng lao động có kinh nghiệm làm việc, trình độ ngoại ngữ, một số kỹ năng khác Việt Nam đang trên đà phát triển đòi hỏi môi trường làm việc cũng phải trở nên chuyên nghiệp hơn, khi môi trường làm việc chuyên nghiệp chúng ta lại càng đòi hỏi hơn ở người lao động phải trang bị cho mình những kiến thức cần thiết, kỹ năng phù hợp để có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh

là thành phố lớn của Việt Nam, đồng thời là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng của Việt Nam Vì vậy, các doanh nghiệp luôn đòi hỏi ở người lao động phải có bằng bấp hoặc chứng chỉ nghề, tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, Cao Đẳng, Đại Học, trên Đại Học,… nói ngắn gọn hơn là các doanh nghiệp đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật Nếu Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu cho mình nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì không lâu sau Việt Nam sẽ đuổi kịp các nước phát triển,nền kinh tế Việt Nam được cải thiện, không còn lạc hậu Các doanh nghiệp đang rất tích cực phát triển năng động, quan tâm các chính sách thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ chuyên môn kỹ thuật Ông Lê Minh Tấn, Giám đốc Sở Lao động- Thương binh xã hội Thành phố Hồ Chí Minh cho biết bình quân hàng năm Thành phố đã giải quyết việc làm cho 295805 lượt lao động, có đến 124249 chỗ làm việc mới Cụ thể hơn là từ đầu năm 2019, Trung tâm dịch vụ việc làm Thành phố Hồ Chí Minh đã giới thiệu việc làm

127867 trong số 155000 lượt người tức đạt được 82,49% kế hoạch năm Còn người nhận việc làm là có 72252 trong 87000 người đạt với số liệu này đã đạt được 82,05%

kế hoạch năm Tính đến hết tháng 8 năm 2019 thì số bộ đội xuất ngũ nhận được việc là

480 người Hiện nay, với cách mạng 4.0 thì lực lượng lao động chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của thành phố, nhu cầu xã hội; Tình trạng thiếu lao động tại mốt số

Trang 3

tạo nhân lực có trình độ trong bốn ngành công nghiệp trọng yếu, chín nhóm ngành dịch

vụ chủ yếu, tám ngành dịch chuyển lao động tự do trong khối ASEAN và ngành công nghiệp hỗ trợ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội

Trang 4

2 THỰC TRẠNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN

KỸ THUẬT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2019-2020

Biểu đồ 1: Nhu cầu tìm việc làm theo cơ cấu trình độ chuyên môn

Nguồn: Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM Theo biểu đồ trên chúng ta có thể thấy được là nhu cầu tìm việc qua các bậc trình

đồ như đại học trở lên thì chiếm 57,53%, Cao đẳng chiếm 22%, trung cấp thì chiếm 6,62%, cuối cùng sơ cấp nghề lại chiếm phần trăm ít hơn là 2,91% Nguồn lao động qua đào tạo tập trung vào các ngành tài chính- ngân hàng, kế toán - tài chính, hành chính văn phòng, quản trị kinh doanh,…

Còn về lao động chưa qua đào tạo chiếm 19,94%, thường các nguồn nhân lực sẽ tập trung vào các ngành dịch vụ- phục vụ, dệt may, lao động bán thời gian, kinh doanh-bán hàng,… đây là những công việc mà các doanh nghiệp không đòi hỏi bằng cấp, chứng chỉ hoặc kinh nghiệm cũng như chuyên môn nghiệp vụ

Mới nhất đây, Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã hội cập nhật lao động thị trường

ở quý 4 năm 2020, về xu hướng tuyển dụng từ mẫu 15.096 doanh nghiệp đăng tuyển

Trang 5

dụng lao động trên mạng với số lượng cần tuyển là 82.816, cho thấy nhu cầu đối với người lao động tuyển dụng về trình độ được thể hiện qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2: Nhu cầu tuyển lao động theo trình độ

Nguồn: Bản tin Cập nhật thị trường lao động hằng quý, số 28, quý 4 năm 2020 Qua biểu đồ trên cho thấy, nhu cầu tuyển dụng đối với có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 56.23% cụ thể là chứng chỉ chiếm 2,58%, trung cấp chiếm 26,48%, cao đẳng chiếm 20,05%, còn từ đại học trở lên chiếm 7,12% Còn nhu cầu tuyển dụng đối với không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 43,78%

Về xu hướng tìm việc làm, thông tin từ 39.723 người lao động tìm việc qua mạng trong quý 4/2020, cho thấy người lao động có các đặc điểm và nhu cầu công việc về trình độ như sau:

Biểu đồ 3: Cơ cấu trình độ của người tìm việc

Trang 6

Nguồn: Bản tin Cập nhật thị trường lao động hằng quý, số 28, quý 4 năm 2020 Qua biểu đồ, cho thấy được rằng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm

tỷ lệ cao hơn so với lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật 78,76% Cụ thể hơn là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 9,74% Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 88,5% trong đó bao gồm trung cấp chiếm 5,67%, cao đẳng chiếm 22,42% và cuối cùng là đại học trở lên chiếm 60,41%

Với bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng 4.0 thì các doanh nghiệp ngày càng chú trọng hơn đối với lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, và các lao động qua đào tạo còn mong muốn tìm được một công việc phù hợp với trình độ, bằng cấp của mình Thông qua hai biểu đồ trên có thể thấy rất rõ tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật Các lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật họ thường tập trung vào các nghề như là lao động phổ thông, kinh doanh tự do,… Đối với lao động đã qua đào tạo, họ đã có bằng cấp, chứng chỉ phù hợp với trình độ chuyên môn của họ nên đã tìm kiếm việc làm qua mạng

xã hội để có thể liên hệ được với các doanh nghiệp, công ty để tuyển dụng vào vị trí cần tìm

Trang 7

Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra kết quả phân tích nhu cầu nhân lực năm 2019, đã cho thấy nhu cầu các doanh nghiệp chú trọng tuyển dụng các lao động qua đào tạo chiếm 83,99% Trong đó, nhu cầu nhân lực có trình độ đại học trở lên thì chiếm 21,72%, Cao đẳng thì chiếm 19,03%, trung cấp thì chiếm 28,44% và cuối cùng là sơ cấp nghê chiếm 14,8% Tập trung ở một số ngành như là Tài chính - ngân hàng, Cơ khí, Kế toán , Công nghệ thông tin, hành chính văn phòng, Kiến trúc kỹ thuật xây dựng,… Còn nhu cầu lao động chưa qua đào tạo chiếm 16,01%, tập trung ở các ngành lao động phổ thông, kinh doanh, dịch vụ phục vụ,…

Biểu đồ 4:Nhu cầu nhân lực năm 2019 theo cơ cấu trình độ

Nguồn: Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM Nguồn nhân lực trình độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo, nâng cao chất lượng trong cơ cấu ngành Đối với nhu cầu nhân lực 4 nhóm ngành công nghiệp chủ yếu thì chiếm 19,12% tổng nhu cầu nhân lực Trong đó nhu cầu nhân lực qua đào tạo chiếm 82,15%, cụ thể hơn là đại học trở lên chiếm 20,96%, cao đẳng chiếm 14,33%, trung

Trang 8

cấp chiếm 18,92%, sơ cấp nghề và CNKT lành nghề chiếm 27,94% Đối với nhu cầu nhân lực 9 nhóm ngành kinh tế dịch vụ thì chiếm 44,29%, trong đó nhu cầu nhân lực qua đào tạo chiếm 81,32% Cụ thể hơn là trình độ Đại học trở lên là chiếm 17,16%, Cao đẳng chiếm 19,79%, Trung cấp chiếm 36,75%, Sơ cấp nghề và CNKT lành nghề chiếm 7,62%

Biểu đồ 5: Nhu cầu nhân lực 4 ngành công nghiệp trọng yếu và 9 ngành kinh tế dịch vụ theo cơ cấu trình độ (%)

Nguồn: Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM

Và cuối cùng là nhu cầu nhân lực các nhóm ngành có 8 ngành nghề dịch chuyển lao động tự do trong khối Asean thì chiếm 36,93% tổng nhu cầu nhân lực, trong đó nhu cầu nhân lực qua đào tạo chiếm 86,81% Cụ thể, trình độ đại học trở lên chiếm 23,6%, Cao đẳng chiếm 14,51%, Sơ cấp chiếm 40,7%

Năm 2020, Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh cho biết nhu cầu tìm việc của người lao động qua đào tạo chiếm 94,12% Trong đó:

Trang 9

- Đại học trở lên chiếm 63.21%, nhu cầu tìm việc ở các vị trí: kế toán trưởng, kỹ sư

cơ khí, nhân viên pháp lý, trưởng phòng kinh doanh, trưởng phòng hành chính nhân sự, marketing manager, lập trình viên, giám đốc kinh doanh, chuyên viên quản lý chất lượng,…

- Cao đẳng chiến 22,28%, tập trung ở các vị trí như là kế toán viên, chuyên viên kinh doanh, nhân viên thu mua, nhân viên chứng từ xuất nhập khẩu, quản lý cửa hàng, nhân viên Digital Marketing, nhân viên kỹ thuật điện, nhân viên IT, quản lý kho,…

- Trung cấp chiếm 6,75% tập trung ở các vị trí là nhân viên kế toán, nhân viên chăm sóc khách hàng, nhân viên văn phòng, lễ tân, thu ngân, kỹ thuật viên điện - điện lạnh, nhân viên kỹ thuật điện tử, nhân viên thiết kế đồ họa, nhân viên thiết kế rập,…

- Sơ cấp chiếm 1,88%, tập trung ở các vị trí như là tài xế lái xe, nhân viên bán hàng, nhân viên hành chính văn phòng, cộng tác viên bán hàng, thủ kho, nhân viên bảo

vệ, nhân viên bếp bánh, tổng đài viên,…

Biểu đồ 6: Nhu cầu tìm việc theo cơ cấu trình độ năm 2020 (%)

Nguồn: Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM Đối với nhu cầu nhân lực theo trình độ chuyên môn lỹ thuật, theo khảo sát của Trung

Trang 10

cho biết nhu cầu tuyển dụng ở lao động qua đào tạo chiếm 85,6% tổng nhu cầu nhân lực Trong đó trình độ đại học trở lên chiếm 20,9%, Cao đẳng chiếm 17,62%, Trung cấp chiếm 21,56%, Sơ cấp chiếm 25,52% Tập trung ở một số nhóm nghề như là quản

lý điều hành, công nghệ thông tin, tài chính - tín dụng - ngân hàng - bảo hiểm, marketing, kế toán - kiểm toán, cơ khí - tự động hóa, kỹ thuật điện - điện lạnh - điện công nghiệp - điện tử, y dược, an toàn lao động - quản lý kiểm định chất lượng, hành chính - văn phòng - biên phiên dịch, kiến trúc kỹ thuật công trình xây dựng, dịch vụ vận tải kho bãi dịch vụ cảng, nhân sự, công nghệ chế biến công nghiệp lương thực -thực phẩm,…

Nhu cầu nhân lực ở lao động chưa qua đào tạo chiếm 14,4% tập trung ở các ngành, lĩnh vực thâm dụng lao động như: Dệt may - giày da, nhựa - bao bì, chế biến thực phẩm và các nghề kinh doanh - thương mại, dịch vụ phục vụ cá nhân, bảo vệ, in ấn, kinh doanh quản lý tài sản - bất động sản,…

Biểu đồ 7: Nhu cầu nhân lực theo cơ cấu trình độ chuyên môn lỹ thuật năm 2020 (%)

Nguồn: Trung tâm dự báo nhu cầu

Trang 11

Đối với nhu cầu nhân lực 4 ngành công nghiệp trọng yếu tuyển dụng lao động qua đào tạo chiếm 85,02% Cụ thể là đại học trở lên chiếm 18,96%, Cao đẳng chiếm 20,05%, Trung cấp chiếm 23,19% và sơ cấp chiếm 22,82%

Nhu cầu nhân lực 9 ngành kinh tế - dịch vụ tuyển dụng đối với lao động qua đào tạo chiếm 85,95% Trong đó, Đại học chiếm 20,17%, cao đẳng chiếm 23,58%, trung cấp chiếm 30,14% và sơ cấp thì chiếm 12,06%

Từ năm 2019 đến năm 2020, nguồn nhân lực trình độ chuyên môn kỹ thuật có một

số chuyển biến tích cực tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế Với nhu cầu tìm việc làm của lao động qua đào tạo ngày tăng cao

+ Đại học trở lên tăng từ 57,53% (2019) lên 63,21% (2020)

+ Cao đẳng tăng từ 22% (2019) lên 22,28% (2020)

+ Trung cấp tăng từ 6,62% (2019) lên 6,75% (2020)

+ Sơ cấp thì ngược lại, có tỷ lệ giảm từ 2,91% (2019) xuống 1,88% (2020)

Có thể thấy đối với nhu cầu tìm việc của lao động qua đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh tăng cao, số lượng lao động qua đào tạo ngày càng có nhu cầu tìm việc cao Điều này cũng có thể dẫn đến việc thừa lao động, tình trạng thất nghiệp có nguy cơ tăng cao Tuy vậy cũng có thể thấy nguồn nhân lực qua đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh được đào tạo chất lượng, cho Thành phố Hồ Chí Minh nguồn nhân lực đã qua đào tạo chất lượng để phục vụ cho nên kinh tế Việt Nam

Còn đối với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp với nguồn nhân lực có trình

độ chuyên môn kỹ thuật thì

+ Đại học trở lên giảm từ 21,72% (2019) xuống 20,9% (2020)

+ Cao đẳng thì giảm từ 19,03% (2019) xuống 17,62% (2020)

+ Trung cấp và sơ cấp tăng lần lượt là 18,92% (2019) lên 21,56% (2020) và 14,8% (2019) lên 25,52% (2020)

Nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp đối với trình độ đại học trở lên và cao đẳng

có tỷ lệ giảm so với trung cấp và sơ cấp Qua đó chúng ta nhìn ra được rằng thị trường

Trang 12

các doanh nghiệp tập trung phát triển lao động có trình độ từ trung cấp và sơ cấp để họ

có điều kiện học hỏi, để có thể phát huy hết được năng lực của mình Tuy là một bộ phận nhỏ trong các ngành nghề nhưng vẫn có thể đóng góp vào công cuộc xây dựng nền kinh tế Việt Nam

3 NHỮNG HẠN CHẾ VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN

KỸ THUẬT

Nguồn nhân lực trình độ chuyên môn kỹ thuật hiện nay được đào tạo với điều kiện môi trường ổn định, đội ngũ giáo viên, giảng viên chất lượng có trình độ có về chuyên môn, cơ sở vật chất ở các trung tâm dạy nghề, trường học đều được trang bị tốt

để phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, nguồn nhân lực hiện nay có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp nhưng đó là về mặt lý thuyết, họ còn thiếu hụt về sự thực tế, thực hành Trình độ tay nghề vẫn còn thấp so với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Khả năng thích ứng với môi trường cạnh tranh công nghiệp vẫn còn hạn chế, sai sót Không những thế, về mặt ngoại ngữ, việc làm nhóm, tính chuyên nghiệp về mặt giao tiếp vẫn còn hạn chế

Ngoài ra, có thể thấy chương trình giảng dạy của các trường, trung tâm còn thấp, còn thiếu nhiều sai sót Khi chưa đào tạo các nguồn nhân lực kỹ năng làm việc thực tế, các sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp khi ra trường vẫn thiếu kinh nghiệm làm việc, kỹ năng mềm khi làm với các doanh nghiệp

Chưa có cơ quan chuyên trách, kiểm định chất lượng đào tạo, cấp giấy phép hành nghề cho các lao động qua đào tạo Chính sách đối với công tác đào tạo vẫn còn lạc hậu, kém hiệu quả

Với những hạn chế trên tuy là các nguồn nhân lực đã được ra trường với bằng cấp, chứng chỉ đại học, cao đẳng,… nhưng vẫn bị hạn chế bởi những điều trên cũng sẽ làm cho tình trạng thất nghiệp tăng cao, thừa lao động đã qua đào tạo Điều này cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế

Trang 13

4 GIẢI PHÁP ĐỂ CÓ MỘT NGUỒN NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN

KỸ THUẬT CAO HƠN VÀ CHẤT LƯỢNG

Đối với người lao động qua đào tạo, người lao động cần bổ sung cho mình những kỹ năng mềm, cần phải học thêm các thứ tiếng để có thể dễ dàng giao tiếp với các doanh nghiệp các nước, mang nền kinh tế Việt Nam hội nhập quốc tế Nâng cao tinh thần đoàn kết, khả năng làm việc nhóm cùng nhau chung tay phát triển nền kinh tế Việt Nam Chủ động học hỏi, tham gia các hoạt động giao lưu với các doanh nghiệp, các hoạt động do nhà trường, doanh nghiệp tổ chức để tạo cho bản thân khả năng giao tiếp tốt, hiểu được các doanh nghiệp cần gì, mong muốn gì để đáp ứng được nhu cầu của xã hội Nâng cao tinh thần học hỏi, trung thực, chủ động trong mọi hoạt động và nâng cao khả năng xử lý tình huống để có thể giải quyết các vấn đề một cách hợp lý và hoàn nhiệm vụ một cách tốt nhất có thể Giữ tinh thần thật thoải mái, vui vẻ, luôn làm việc với tinh thần là hết sức mình, vận dụng các kiến thức đã học vào công việc phát huy tốt năng lực, năng khiếu của bản thân

Đối với các cơ sở đào tạo, trung tâm dạy nghề, trường đại học, cao đẳng thì cần bổ sung các chính sách đào tạo nguồn nhân lực kết hợp lý thuyết với thực hành để cho lao động khi ra trường có kinh nghiệm, tạo điều kiện cho lao động giao lưu với các doanh nghiệp để lao động có thể thích ứng được với môi trường làm việc của các doanh nghiệp Xây dựng kế hoạch cụ thể dài hạn, hướng đến thị trường lao động, tạo cho sinh viên khả năng tư duy, kỹ năng và tinh thần đạo đức tốt khi tham gia vào thị trường lao động Việt Nam Cập nhật các ngành nghề mới, bổ sung vào chương trình đào tạo để có thể đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động hiện nay

Đối với các doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần phải tạo điều kiện cho nguồn nhân lực môi trường làm việc thoải mái, phát huy khả năng tư duy, khoa học, khả năng tương tác và kết nối, thể hiện năng lực cạnh tranh khi tham gia thị trường lao động hội nhập Bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ chuyên môn kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực đã qua đào tạo

Ngày đăng: 25/05/2023, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w