Microsoft Word Nguyá»–n Thỉ Liá»–u BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ LIỄU THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VỀ NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT CỦA NGƯỜI NHÀ NGƯỜI BỆNH TẠI VIỆN SỨC KHOẺ TÂM THẦ[.]
Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm và lịch sử nghiên cứu Tâm thần phân liệt
Thuật ngữ “schizophrenia” hay “Tâm thần phân liệt” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, trong đó “Schizo” có nghĩa là chia tách và “Phrenia” có nghĩa là tâm thần Đây là một nhóm bệnh tâm thần với bệnh sinh đa dạng, tương đối phổ biến nhưng nguyên nhân vẫn chưa được làm rõ Bệnh thường khởi phát ở lứa tuổi trẻ và có tiến triển cũng như tiên lượng rất khác nhau.
Bệnh TTPL lần đầu tiên được mô tả bởi nhà tâm thần học người Đức Griesinger vào thế kỷ XVII với tên gọi “Sa sút tiên phát” Nhà tâm thần học người Pháp Morel B.A đã sử dụng thuật ngữ “Sa sút sớm” để chỉ những bệnh nhân mắc bệnh ở tuổi trẻ, dẫn đến sa sút tâm thần Năm 1871, Hecker E mô tả thể bệnh “Thanh xuân”, trong khi Kalbaum K.L vào năm 1874 gọi là “Căng trương lực” Đến năm 1882, nhà tâm thần học Nga Candinxki đã đưa ra khái niệm bệnh tâm thần tư duy, được xem là một bệnh độc lập với triệu chứng học tương đồng với bệnh tâm thần phân liệt hiện nay.
Vào năm 1898, nhà tâm thần học người Đức Kraepelin E đã thống nhất các thể bệnh độc lập dưới tên gọi Bệnh sa sút sớm (Demence précoce) Đến năm 1911, Bleuler D.E, nhà tâm thần học người Thụy Sỹ, đã phân tích sa sút sớm và kết luận rằng rối loạn chủ yếu là sự chia cắt, phân liệt trong các hoạt động tâm thần, từ đó đề xuất tên gọi mới là “tâm thần phân liệt - schizophrenia” Tên gọi “Tâm thần phân liệt” đã được chấp nhận và sử dụng cho đến ngày nay.
Trước đây, các tác giả Liên Xô cũ thường chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt dựa vào các triệu chứng âm tính như tự kỷ và thế năng tâm thần giảm sút Tuy nhiên, những triệu chứng này dễ bị nhầm lẫn với triệu chứng của hội chứng trầm cảm và sa sút trí tuệ.
Theo ICD-10, bệnh tâm thần được xác định qua các triệu chứng dương tính như rối loạn tư duy, hoang tưởng, ảo thanh và hiện tượng tâm thần tự động Ngoài ra, các triệu chứng âm tính như vô cảm, ngôn ngữ nghèo nàn và phản ứng cảm xúc không phù hợp cũng góp phần quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh.
Tâm thần phân liệt là một rối loạn tâm thần nặng, có xu hướng tiến triển mạn tính và nguyên nhân chưa được làm rõ Bệnh gây ra các triệu chứng rối loạn tư duy, nhận thức, cảm xúc và tri giác, làm khó khăn trong giao tiếp Các biểu hiện đặc trưng bao gồm hoang tưởng, ảo giác, và hội chứng tâm thần tự động Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến biến đổi nhân cách sâu sắc, ảnh hưởng đến khả năng học tập, lao động và tự lập của người bệnh.
1.2 Dịch tễ học bệnh TTPL
TTPL là một bệnh phổ biến trên toàn cầu, với tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 0,3% đến 1,5% dân số theo thống kê của nhiều quốc gia Tuy nhiên, tỷ lệ này có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia và phụ thuộc vào từng nghiên cứu của các tác giả khác nhau.
Tỷ lệ mắc bệnh TTPL ở các quốc gia như Italia là 0,8%, Anh, Áo và Canada từ 1-2%, Đan Mạch 0,8%, Pháp 0,65 - 0,83% và Đức 0,85% Tại Mỹ và Canada, theo tiêu chuẩn DSM-IV, khoảng 0,25 - 0,5% dân số được điều trị TTPL hàng năm, trong đó 2/3 bệnh nhân được điều trị nội trú Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh TTPL là 0,7%, với Hà Bắc 1%, Biên Hòa 1,2% và Đà Nẵng 0,52% Bệnh có xu hướng phát triển kéo dài và gia tăng 1,5/10.000 dân mỗi năm Các nghiên cứu tâm thần tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc TTPL dao động từ 0,3 - 1% dân số.
Bệnh thường xuất hiện ở độ tuổi trẻ, đặc biệt từ 20 đến 40, với 48% trường hợp khởi phát trong độ tuổi 20 - 29 Theo thống kê của ngành tâm thần học Việt Nam năm 2002, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) là 0,47% trong số 67.380 dân được điều tra, và 90% người bệnh TTPL được điều trị trong độ tuổi từ 15 đến 54.
Tỷ lệ mắc bệnh ở cả nam và nữ là tương đương nhau, song nữ có xu hướng khởi phát muộn hơn nam (Ở nam từ 15 - 25 tuổi, ở nữ từ 25 - 35 tuổi)
1.3 Các giả thuyết bệnh nguyên, bệnh sinh của TTPL
1.3.1 Giả thuyết về di truyền học
Nghiên cứu về miễn dịch và di truyền học chỉ ra rằng TTPL là một bệnh có nguồn gốc sinh học Yếu tố di truyền trong TTPL không tuân theo quy luật di truyền cổ điển của Mendel, mà là do nhiều gen gây ra các hậu quả phức tạp.
Theo Kallman, nếu một trong hai cha mẹ mắc bệnh TTPL, tỷ lệ con cái mắc bệnh này là 16,4%; khi cả cha mẹ đều mắc, tỷ lệ này tăng lên 68,1% Ngoài ra, 14,3% anh chị em ruột của người mắc bệnh TTPL cũng bị ảnh hưởng Đối với trẻ sinh đôi cùng trứng, nếu một trẻ mắc bệnh TTPL, có tới 86,2% khả năng trẻ còn lại cũng mắc bệnh Trong khi đó, tỷ lệ này ở trẻ sinh đôi hai trứng chỉ giảm xuống còn 16,4%.
Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh Thalassemia phổ biến trong cộng đồng chỉ là 1%, nhưng nguy cơ mắc bệnh ở những người họ hàng cùng huyết thống mức độ I (bao gồm bố, mẹ, ông, bà, anh chị em ruột) của bệnh nhân Thalassemia lại cao hơn, dao động từ 3% đến 7%.
1.3.2 Giả thuyết các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển trong thời kỳ thai sản
Các yếu tố nguy cơ trong thời kỳ mang thai bao gồm nhiễm virus và thiếu dinh dưỡng, có thể dẫn đến suy thai, gây ra các bệnh như liệt hoặc chậm phát triển tâm thần Thai phụ bị tiền sản giật có nguy cơ cao hơn nhiều về việc sinh con mắc bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) so với những người bình thường Ngoài ra, cân nặng thấp của trẻ sơ sinh cũng liên quan đến việc gia tăng nguy cơ mắc bệnh TTPL.
1.3.3 Giả thuyết về yếu tố môi trường văn hóa
Nhiều tác giả cho rằng môi trường gia đình có tác động qua lại là yếu tố quan trọng trong bệnh sinh của bệnh TTPL Sự công kích lẫn nhau giữa bố mẹ và mối quan hệ lạnh lùng, không khăng khít giữa các thành viên gia đình đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của bệnh này.
Môi trường văn hóa ảnh hưởng đến sự phát sinh bệnh tiểu đường type 2 (TTPL) đã được nghiên cứu khác nhau giữa khu vực thành thị và nông thôn Có ý kiến cho rằng người dân ở thành phố có nguy cơ mắc bệnh TTPL cao gấp đôi so với nông thôn Tuy nhiên, một số tác giả cho rằng các yếu tố như điều kiện kinh tế, dinh dưỡng, vệ sinh và chăm sóc sức khỏe mới là nguyên nhân chính, chứ không phải môi trường văn hóa.
1.3.4 Các giả thuyết về sinh hóa
Cơ sở thực tiễn
2.1 Tình hình nghiên cứu về tâm thần phân liệt trên thế giới
Rối loạn tâm thần, đặc biệt là TTPL, đang gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Theo các nghiên cứu gần đây, khoảng 30% dân số Mỹ mắc các rối loạn tâm thần, trong đó TTPL chiếm 1,5% Tại Bangkok, tỷ lệ mắc TTPL trong đời là 1,3%, và ở Úc, bệnh này ảnh hưởng đến 200.000 người, gây tổn thất thu nhập lên đến 488 triệu USD, cùng với 88 triệu USD chi phí cho người chăm sóc.
Theo WHO, 1 trong 4 người trên thế giới sẽ mắc rối loạn tâm thần hoặc thần kinh trong đời, với 450 triệu người hiện đang bị ảnh hưởng, trong đó có 24 triệu người mắc chứng bệnh TTPL.
Năm 1999, EJarvis đã thực hiện một cuộc điều tra về điều kiện sinh hoạt và kết luận rằng các bệnh loạn thần có liên quan đến sự chăm sóc của người nhà Những người được chăm sóc tốt từ đầu sẽ nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng.
Nghiên cứu của điều dưỡng viên người Úc, Margaret và Brenda Happell, đã thực hiện một nghiên cứu định tính về tác dụng của chương trình tập luyện thể chất đối với 6 người được chẩn đoán là TTPL, với mỗi người tham gia có một chương trình tập luyện được thiết kế riêng Sau khi hoàn thành chương trình, những người tham gia đã chia sẻ rằng chương trình này mang lại nhiều lợi ích cho họ.
+ Đem đến cảm giác đạt được thành tựu
+ Mang lại phương pháp giúp giảm cân và tăng cường sức khỏe
+ Tạo ra tinh thần khích lệ và hỗ trợ đồng đội
Thúc đẩy người tham gia tích cực kết hợp hoạt động thể chất vào cuộc sống hàng ngày là rất quan trọng Việc áp dụng liệu pháp chăm sóc lao động, hoạt động và tái thích ứng xã hội phù hợp sẽ hỗ trợ người bệnh trong việc tái hòa nhập cộng đồng một cách dễ dàng hơn.
Nghiên cứu của Lara G và cộng sự (2017) nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ trị liệu trong điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân TTPL Để đạt được hiệu quả trong mối quan hệ này, y tá cần có sự chân thực, đồng cảm, và hiểu biết sâu sắc về bệnh tật cũng như con người Những đặc điểm này là cần thiết để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
2.2 Tình hình nghiên cứu về tâm thần phân liệt ở Việt Nam
Sự phát triển của nền kinh tế mở cửa và tiến bộ kỹ thuật thông tin đã ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe tâm thần của người dân.
Qua điều tra dịch tễ lâm sàng 10 bệnh tâm thần tại 8 địa điểm khác nhau trên cả nước, với tổng dân số điều tra là 67.380 người trong khoảng thời gian 3 năm (2000 - 2002), đã thu được những kết quả đáng chú ý.
Công tác bảo vệ sức khỏe tâm thần không chỉ là chữa bệnh mà còn bao gồm phòng ngừa, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời các rối loạn tâm thần trong cộng đồng Việc can thiệp kết hợp với phục hồi chức năng tâm lý xã hội giúp người bệnh nhanh chóng hòa nhập, giảm tỷ lệ mãn tính và tàn phế, đồng thời hạn chế những rủi ro mà bệnh loạn thần nặng có thể gây ra, từ đó giảm bớt gánh nặng cho gia đình, cộng đồng và xã hội.
Nghiên cứu tại Bệnh viện Quân Y 103 năm 2015 cho thấy kiến thức về bệnh tâm thần phân liệt của bệnh nhân và người chăm sóc còn hạn chế Đặc biệt, sự hiểu biết về bản chất của bệnh và việc tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ cũng chưa được đảm bảo.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Hải, tại thị trấn Vĩnh An, có 75% người bệnh TTPL tuân thủ việc uống thuốc đều đặn Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 20,4% người bệnh uống thuốc không đều và 4,06% người bệnh bỏ điều trị.
Theo Đinh Quốc Thắng và Trần Hữu Bình đã đánh giá thực hành chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) ở Bình Xuyên, Vĩnh Phúc Tỷ lệ gia đình đưa người bệnh đi khám và nhận thuốc tại trạm đạt 91%, trong khi tỷ lệ cho người bệnh uống thuốc đúng cách là 90% và đúng liều là 85% Tuy nhiên, tỷ lệ giúp người bệnh hòa nhập cộng đồng chỉ đạt 60%, cho thấy cần chú trọng hơn vào công tác hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người bệnh.
2.3 Vai trò của người nhà, điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh TTPL:
* Vai trò của người nhà:
Để hỗ trợ người bệnh hiệu quả, trước tiên cần chấp nhận họ như một thành viên trong gia đình Gia đình không nên tranh luận với người bệnh, đồng thời cũng phải tránh để họ cảm thấy bị đối xử khác thường Thay vào đó, cần dành cho họ tình cảm, sự yêu thương và sự quan tâm chăm sóc chu đáo.
Hiểu rõ về bệnh và nguyên nhân gây ra bệnh là do những biến đổi sinh học phức tạp Do đó, thay vì đưa người bệnh đi cúng bái hay đến đền chùa, cần đưa họ đến cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.
Trừng phạt người bệnh thể hiện sự thiếu hiểu biết và có thể làm tình trạng của họ trở nên nghiêm trọng hơn Việc xa lánh, không giao tiếp, hoặc không lắng nghe người bệnh chỉ khiến họ cảm thấy cô đơn và khổ sở Thay vì thể hiện sự chán ghét, chúng ta nên tạo ra một môi trường thân thiện và hỗ trợ để giúp họ vượt qua khó khăn.
Khái quát Viện Sức Khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai
Địa điểm: Tòa nhà T4, T5, T6 Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai
Điện thoại: 024.35765344 Fax: 024.35765346 - Email: nimhvn@gmail.com
Cơ cấu tổ chức và nhân sự của đơn vị bao gồm tổng cộng 91 cán bộ nhân viên, trong đó có 02 phó giáo sư, 07 tiến sỹ, 04 bác sỹ chuyên khoa cấp II, 22 thạc sỹ, 01 bác sỹ, 16 cử nhân đại học (chuyên ngành điều dưỡng và tâm lý), 03 điều dưỡng cao đẳng, 28 điều dưỡng trung cấp, 05 hộ lý và 03 nhân viên khác (bao gồm lái xe và kỹ thuật viên).
- Viện trưởng -Bí thư Chi bộ- chủ nhiệm bộ môn: PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn
- Các Phó Viện trưởng: TS BSCKII Nguyễn Văn Dũng và TS Trần Thị Hà An
Quá trình hình thành và phát triển:
- Năm 1911, Khoa Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai (tiền thân của Viện Sức khoẻ Tâm thần ngày nay) được thành lập
- Năm 1959, Khoa Tâm thần sát nhập với Khoa Thần kinh thành Khoa Tâm Thần kinh
- Năm 1969, Khoa Tinh Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai được tách ra thành hai khoa: Khoa Tâm thần và Khoa Thần Kinh
Vào ngày 08/08/1991, Viện Sức khoẻ Tâm thần được thành lập theo Quyết định số 784/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế, dựa trên sự kết hợp giữa Khoa Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai, Bộ môn Tâm thần - Trường Đại Học Y Hà Nội và Bệnh viện Tâm thần Trung Ương I.
- Năm 2012: Thực hiện chuyên khoa hoá Phân loại cơ sở khám chữa bệnh theo WHO, ngành tâm thần học Việt Nam hướng tới nền Tâm thần học phát triển
Chức năng của đơn vị bao gồm tiếp nhận hành chính, bảo quản và lưu trữ thông tin, thư viện, tài chính kế toán, quản lý trang thiết bị vật tư, và quản lý nhân lực.
* Phòng khám và điều trị ngoại trú (M2)
Chức năng của chúng tôi bao gồm khám và điều trị bệnh ngoại trú, thực hiện các kỹ thuật như đo lưu huyết não, điện tâm đồ, điện não đồ, cùng với việc áp dụng kỹ thuật TMS trong điều trị.
* Phòng điều trị các rối loạn liên quan tới stress (M3)
Chức năng của chương F4x bao gồm điều trị các rối loạn lo âu như lo âu trầm cảm, hoảng sợ và ám ảnh, cũng như các rối loạn dạng cơ thể và rối loạn sự thích ứng.
PTSD…và là đơn vị thực hành lâm sàng của học viên
* Phòng điều trị tâm thần nhi (M4)
Chức năng của chúng tôi là điều trị các rối loạn F7x-F9x, bao gồm ADHD, rối loạn phổ tự kỷ, chậm phát triển tâm thần, và các vấn đề giao tiếp Chúng tôi cũng tập trung vào rối loạn tâm thần và hành vi ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cùng với việc thực hành lâm sàng hiệu quả.
* Phòng điều trị tâm thần phân liệt (M5)
- Chức năng: Các mặt bệnh F2x: Tâm thần phân liệt, rối loạn loại phân liệt, rối loạn loạn thần, hoang tưởng…và thực hành lâm sàng
* Phòng điều trị rối loạn cảm xúc (M6)
- Chức năng: Điều trị các mặt bệnh F3x: Rối loạn trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, các rối loạn khí sắc khác…và thực hành lâm sàng
* Phòng điều trị nghiện chất (M7)
Chức năng của chúng tôi là điều trị các rối loạn F1x, bao gồm rượu, heroin, các loại ma túy mới như ATS và cần sa, cũng như các rối loạn nghiện khác như game và mua sắm, đồng thời thực hành lâm sàng hiệu quả.
* Phòng điều trị rối loạn tâm thần ở người già (M8)
Chức năng của điều trị bao gồm việc hỗ trợ các rối loạn tâm thần, sa sút trí tuệ, lo âu và trầm cảm ở người già, đồng thời can thiệp vào các tổn thương thực tổn não bộ và thực hành lâm sàng.
* Phòng tâm lý lâm sàng (M9)
Chức năng của chúng tôi bao gồm trị liệu tâm lý như CBT, thực hành trắc nghiệm tâm lý và thư giãn luyện tập Chúng tôi chuyên điều trị các bệnh lý phổ biến như rối loạn lo âu, trầm cảm và suy giảm nhận thức.
Viện hiện có 258 giường bệnh nội trú, phục vụ trung bình từ 250-280 bệnh nhân mỗi ngày, cùng với 7 khoa lâm sàng Số lượt bệnh nhân khám ngoại trú dao động từ 300-350 mỗi ngày Từ năm 2015 đến 2019, bệnh tâm thần phân liệt chiếm tỷ lệ nhập viện cao nhất với 32,8%, tiếp theo là các rối loạn tâm căn liên quan đến stress (23,4%), rối loạn khí sắc (18,8%), rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất tác động tâm thần (13,9%), và rối loạn tâm thần thực tổn (7,7%) Những con số này đặt ra thách thức lớn cho đội ngũ y bác sĩ trong việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân, nhằm giúp họ ổn định và sớm hòa nhập với cộng đồng.
Viện Sức khỏe Tâm thần đóng vai trò quan trọng trong đào tạo và nghiên cứu khoa học cho sinh viên Đại Học Y Hà Nội và Cao đẳng Y tế Bạch Mai Lãnh đạo bệnh viện luôn chú trọng đến công tác nghiên cứu khoa học, tổ chức nhiều hội nghị với các đề tài nghiên cứu đa dạng Tuy nhiên, hiện tại chưa có nghiên cứu nào khảo sát kiến thức của người chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt (TTPL) Do đó, nghiên cứu này nhằm khảo sát kiến thức của người nhà bệnh nhân được chẩn đoán TTPL, từ đó xác định những hạn chế và đề xuất biện pháp nâng cao nhận thức cho người chăm sóc, góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân TTPL.
2.2 Thực trạng kiến thức về NB tâm thần phân liệt của người nhà NB tại Viện Sức khoẻ tâm thần- Bệnh viện Bạch Mai năm 2022
2.2.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Tất cả người nhà của bệnh nhân được chẩn đoán TTPL theo ICD 10 đang điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai, đã chăm sóc bệnh nhân liên tục từ 2 tuần trở lên, và có đủ năng lực để tham gia trả lời các câu hỏi khảo sát.
- Người nhà đi chăm sóc người bệnh mắc bệnh TTPL lần đầu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm những người dưới 18 tuổi, những người không có đủ năng lực nhận thức để trả lời các câu hỏi khảo sát, và những người không đồng ý tham gia hợp tác nghiên cứu.
* Thời gian nghiên cứu: Giờ hành chính các ngày trong tuần từ tháng 9/2022 đến tháng 10/2022
* Địa điểm nghiên cứu: Viện Sức Khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai
- Thiết kế nghiên cứu: phương pháp mô tả cắt ngang
- Phương pháp chọn mẫu: Số người nhà người bệnh đã được phỏng vấn tại thời điểm nghiên cứu là: 108 người
Kỹ thuật thu thập số liệu bao gồm việc thông báo cho đối tượng nghiên cứu về mục đích của nghiên cứu, sau đó tiến hành phỏng vấn họ bằng bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn.
* Xử lý số liệu bằng phương pháp: thống kê thông thường, sử dụng tính toán bằng phần mềm Excel
* Đạo đức trong nghiên cứu:
Trong nghiên cứu, các đối tượng được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi bắt đầu Việc tiến hành nghiên cứu chỉ diễn ra khi có sự đồng ý và hợp tác từ các đối tượng tham gia.
- Mọi thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu phải đảm bảo được giữ kín
- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được sự cho phép của ban lãnh đạo bệnh viện, được sự giúp đỡ ủng hộ từ các phòng ban có liên quan
2.2.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Thực trạng kết quả chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt
Viện chúng tôi cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng cao và chuyên nghiệp, luôn nỗ lực đổi mới và hoàn thiện mọi hoạt động để mang lại sự hài lòng tối đa cho bệnh nhân.
Môi trường làm việc đoàn kết và chuyên môn cao, nơi mọi người không ngừng phấn đấu và coi trọng đạo đức nghề nghiệp Chúng tôi chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng, cống hiến tài năng cho sự nghiệp chữa bệnh cứu người và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Phấn đấu là nơi mà người bệnh có thể hoàn toàn tin tưởng, nhận được sự thân thiện, tận tâm và chu đáo từ đội ngũ y bác sĩ cùng cán bộ nhân viên của Viện.
Viện xác định hợp tác quốc tế là nhiệm vụ chiến lược được Bộ Y tế giao phó Trong nhiều thập kỷ qua, Viện đã xuất sắc hoàn thành vai trò cầu nối giữa ngành Tâm thần học Việt Nam và cộng đồng Tâm thần học toàn cầu.
Công tác thông tin truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc hợp tác với các cơ quan truyền thông như truyền hình, báo điện tử và báo giấy để truyền tải thông tin giáo dục về việc phát hiện sớm bệnh tâm thần, đồng thời giảm thiểu yếu tố kỳ thị đối với người bệnh tâm thần.
Viện chú trọng đến đời sống sinh hoạt của bệnh nhân bằng cách cung cấp sân cầu lông, bàn bóng bàn, và trang bị dụng cụ thể thao Ngoài ra, còn có khu vực xem tivi và đọc sách báo, tạo điều kiện cho bệnh nhân điều trị nội trú có thể tập luyện và giải trí.
Viện y tế được trang bị cơ sở vật chất và thiết bị y tế hiện đại, cập nhật các kỹ thuật mới nhất, đáp ứng hiệu quả nhu cầu khám và điều trị của bệnh nhân.
Đa số cán bộ, viên chức và người lao động trong đơn vị đều trẻ tuổi, điều này giúp họ tràn đầy tâm huyết với nghề nghiệp và luôn nỗ lực học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn.
Các khoa lâm sàng chú trọng vào việc chăm sóc và quản lý người bệnh, đặc biệt là đảm bảo người bệnh uống thuốc đầy đủ Họ cũng hướng dẫn cụ thể cho người nhà về cách uống và thời gian uống thuốc.
- Quy trình khám bệnh rõ ràng, hợp lý và được thực hiện tương đối đầy đủ
* Về phía người bệnh và gia đình người bệnh
- Người nhà người bệnh đã quan tâm đến người bệnh nhiều hơn
- Người nhà người bệnh đã hiểu được điều trị người bệnh TTPL phải được uống thuốc đều và các tác dụng phụ của thuốc
- Nhận thức về thời gian điều trị bệnh TTPL là phải điều trị suốt đời đạt tỷ lệ cao
- 100% người bệnh bị TTPL điều trị ngoại trú đều có bảo hiểm y tế hoặc có sổ cấp thuốc điều trị ngoại trú
- Số lượng người bệnh đông, nhân lực lại thiếu nên thời gian tư vấn của cán bộ y tế cho người bệnh chưa nhiều
- Chưa thực hiện được công tác gọi điện thăm hỏi, nhắc nhở tất cả người bệnh và người nhà tuân thủ điều trị ngoại trú
Điều dưỡng cần được đào tạo nhiều hơn về bệnh TTPL và các phương pháp giáo dục sức khoẻ cho người nhà bệnh nhân Nội dung tư vấn và giáo dục sức khoẻ hiện tại còn sơ sài, mang tính hình thức và chưa đáp ứng được nhu cầu cụ thể của từng trường hợp bệnh nhân.
- Trình độ hiểu biết của mỗi người nhà người bệnh khác nhau nên điều dưỡng chưa xây dựng được cách tư vấn, GDSK phù hợp với từng đối tượng
* Về phía người bệnh và gia đình người bệnh
- Người nhà người bệnh hạn chế hiểu biết về bệnh và tầm quan trọng của việc sử dụng thuốc đúng hướng dẫn
+ Người bệnh và gia đình sợ các tác dụng phụ của thuốc như: Ảnh hưởng đến chức năng gan, thận, ngủ nhiều, làm người chậm chạp, nghiện thuốc
+ Người bệnh biết bệnh tình của mình nhưng không tuân thủ đúng hướng dẫn sử dụng thuốc, chế độ ăn uống, tập luyện
- Do người bệnh không đủ điều kiện kinh tế
Nhiều bệnh nhân sống xa và gặp khó khăn về kinh tế thường phải đối mặt với gánh nặng chi phí cho cuộc sống và thuốc men trong suốt quá trình điều trị bệnh Điều này khiến họ luôn cảm thấy lo lắng, mặc dù đã nhận được một phần hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh từ quỹ bảo hiểm y tế.
+ Nhiều người nhà người bệnh khi đi tái khám phải có từ 1 đến 3 người nhà đi cùng, phải thuê xe đi lại tốn kém
Sự hỗ trợ từ người thân là yếu tố quan trọng giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị và sử dụng thuốc hiệu quả Thiếu sự hỗ trợ này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình điều trị.
- Chưa được cán bộ Y tế tập huấn, tư vấn nhiều về bệnh tâm thần nói chung và bệnh TTPL nói riêng
3.2 Nguyên nhân của hạn chế
Số lượng bệnh nhân đến khám và chữa bệnh ngày càng gia tăng, trong khi đội ngũ nhân lực y tế vẫn thiếu hụt Nhiều cán bộ y tế phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác, và một số người nghỉ thai sản, đi công tác hoặc học tập Điều này dẫn đến thời gian tư vấn của cán bộ y tế cho người nhà bệnh nhân chưa đủ.
- Người nhà người bệnh còn phải đi lại nhiều do thủ tục hành chính nhiều khâu, chưa triển khai được bệnh án điện tử ở các khoa lâm sàng
Kỹ năng tư vấn và giáo dục sức khỏe (GDSK) của điều dưỡng trẻ còn hạn chế, dẫn đến việc tư vấn cho người nhà bệnh nhân chưa đạt hiệu quả cao.
Do hạn chế về nhân lực, phòng tư vấn của bệnh viện không thể đáp ứng nhu cầu tư vấn sức khỏe của đa số bệnh nhân và người nhà Việc tư vấn chỉ diễn ra nhanh chóng trong quá trình khám tại phòng khám, mà không có buổi tư vấn cụ thể nào, dẫn đến hiệu quả tư vấn và giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân chưa cao.
- Công tác chăm sóc, tư vấn cho người bệnh sau khi điều trị chưa đạt hiệu quả cao
* Về phía người bệnh và gia đình người bệnh
- Một số người nhà người bệnh còn thiếu kiến thức về bệnh TTPL và tầm quan trọng của việc tuân thủ sử dụng thuốc
- Hiểu biết về bệnh TTPL còn hạn chế nên người bệnh bị bỏ điều trị chiếm tỷ lệ cao, dẫn đến nguy cơ tái phát bệnh TTPL.