MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT A. LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… 1 B. NỘI DUNG…………………………………………………………………… 1 I.LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ…………1 1.1 Khái niệm nội luật hoá điều ước quốc tế…………………………………..…1 1.2 Đặc điểm của nội luật hoá điều ước quốc tế…………………………….……3 1.3 Vị trí Điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam……………..……..………5 AI.VẤN ĐỀ NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM………………………………………………………………………..9 2.1 Phương thức nội luật hóa điều ước quốc tế tại Việt Nam…………….………9 2.2 Thực tiễn nội luật hoá điều ước quốc tế trong một số lĩnh vực tại Việt Nam hiện nay………………………………………………………………………….10 2.3 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác nội luật hóa tại Việt Nam……16 C. KẾT LUẬN……………………………………………………………………… 18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………. 20 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ĐƯQT : Điều ước quốc tế WTO : Tổ Chức Thương Mại Thế giới UNECE : Liên Hiệp Quốc Ủy Ban Kinh Tế Châu Âu CEDAW : Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ A. LỜI MỞ ĐẦU Trong thời đại ngày nay, để dễ dàng tham gia vào các quan hệ quốc tế, các quốc gia ngày càng tích cực thiết lập, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực. Để tạo ra “phản ứng toàn cầu” trong cộng đồng quốc tế các quốc gia nói riêng và chủ thể pháp luật quốc tế nói chung đã cùng nhau xây dựng nhiều công cụ mang tính quốc tế, trong đó pháp luật được xem là công cụ then chốt. Do vậy, việc ký kết điều ước quốc tế ra đời đã phản ánh nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong việc kết nối pháp luật quốc gia và quốc tế. Trong bối cảnh chung đó, Việt Nam cũng đã ký kết, gia nhập và trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương. Sau khi trở thành thành viên của các điều ước quốc tế, VIệt Nam cũng như các quốc gia thành viên sẽ phải thực thi một cách nghiêm túc và có thiện chí các cam kết và yêu cầu trong các điều ước quốc tế bằng nhiều phương thức khác nhau. Một trong những phương thức quan trọng chính là “ nội luật hóa” quy định trong các điều ước quốc tế đó vào pháp luật quốc gia. Chính vì vậy, việc làm rõ nội hàm thuật ngữ “ nội luật hoá” cũng như cách thức nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Nội luật hóa điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam” mang tính cấp thiết không những về lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn hiện nay. Đó cũng chính là lý do mà người viết lựa chọn nghiên cứu đề tài này cho bài tiểu luận của mình. Với tầm hiểu biết còn hạn chế của một sinh viên còn đang học tập và nghiên cứu trong nhà trường nên bài viết của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý của thầy cô Bài viết phân tích rõ khái niệm, các đặc điểm của thuật ngữ nội luật hoá điều ước quốc tế và vị trí của điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, bàn về vấn đề nội luật hoá điều ước quốc tế của Việt Nam hiện nay. Bài tiểu luận của em có kết cấu nội dung gồm 2 phần : I.Lý luận chung về nội luật hóa điều ước quốc tế AI.Vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế ở Việt Nam hiện nay 1 Nguyễn Linh Ngọc 20062040 B. NỘI DUNG I.Lý luận chung về nội luật hoá điều ước quốc tế 1.1 Khái niệm nội luật hoá điều ước quốc tế Ởcác nước trên thế giới , để thi hành điều ước quốc tế thì phải có sự chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế đó thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành điều ước quốc tế trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế đó. Quá trình chuyển hoá đó thường được gọi là chuyển hóa điều ước quốc tế hoặc nội luật hoá các điều ước quốc tế. Cho đến nay, khái niệm này vẫn mang tính ước lệ khá cao. Chúng ta đang thiếu một định nghĩa pháp lý chính thức về “nội luật hóa”. Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 cũng không nhắc trực tiếp đến vấn đề nội luật hóa. Việc tìm kiếm thuật ngữ tương đương trong các ngôn ngữ khác cũng không dễ dàng bởi ngay chính khái niệm “nội luật” hay “luật quốc gia” cũng đã có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau. Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định: “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác”1 “Nội luật hóa điều ước quốc tế” hay “chuyển hóa điều ước quốc tế” được hiểu là chuyển hóa các điều ước quốc tế thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành các điều ước quốc tế đó trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế. Hiện nay, có hai ý kiến khác nhau về nội luật hóa: (1) Nội luật hóa là quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế. Như vậy, theo quan điểm này thì nội luật hóa dường như đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước. Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước chấp nhận sự ràng buộc của điều 1 Khoản 1 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 2 Nguyễn Linh Ngọc 20062040 ước quốc tế thì các quy định của điều ước có giá trị pháp lý và được áp dụng trên lãnh thổ quốc gia (2)Nội luật hóa và quá trình chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế là hai khái niệm pháp lý khác nhau và có mối quan hệ tương đối độc lập với nhau: Việc chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục pháp lý trong nước và thông qua đó thể hiện việc quốc gia tham gia điều ước chấp nhận việc áp dụng các quy định của điều ước đó đối với mình. Trong khi đó, nội luật hóa là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật. 1.2 Đặc điểm của nội luật hoá điều ước quốc tế 1.2.1 Tính thích nghi tuỳ biến Tính thích nghi tùy biến thể hiện ở việc nội luật hóa điều ước quốc tế không diễn ra một cách tuần tự, cố định, đều đặn, lặp đi lặp lại mà nó chỉ xuất hiện khi có yêu cầu nội luật hóa. Điều quan trọng hơn, quá trình ấy không chỉ thuần túy phụ thuộc vào yêu cầu nội luật hóa mà còn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố kinh tế – chính trị, lịch sử – địa lý khác. Nội luật hóa điều ước quốc tế do đó có sự biến động khó lường theo cả không gian và thời gian. Ởbình diện thế giới, cách quan niệm về nội luật hóa và cách tiến hành nội luật hóa ở các quốc gia khác nhau là rất khác nhau. Thậm chí các quốc gia trong cùng một “dòng họ” pháp luật, có hệ thống pháp luật tương tự nhau cũng vẫn có những nét riêng trong việc giải quyết vấn đề này. Ở bình diện quốc gia, vấn đề nội luật hóa pháp luật quốc tế ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cũng được nhìn nhận và giải quyết bởi những cách rất khác nhau. Cùng với thời gian, không chỉ quan niệm của một quốc gia có thể thay đổi mà thậm chí vị thế của quốc gia đó trên trường quốc tế cũng đã có sự thay đổi. Những sự thay đổi này khiến cho nội dung của nội luật hóa cũng như sự cần thiết của nó không thể tồn tại mãi mãi. 1.2.2 Tính đa dạng chủ thể Ởgóc độ quốc tế, chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế phải là quốc gia thành viên của điều ước đó, sự chuyển hóa quy phạm điều ước dù bằng phương thức nào cùng đều nhằm thực thi 3 Nguyễn Linh Ngọc 20062040 một cách thực chất các cam kết mà quốc gia đã chấp nhận sự ràng buộc. Trong một số trường hợp đặc biệt thường rơi vào các điều ước song phương, quốc gia kết ước có thể nhận được đòi hỏi phải tiến hành nội luật hóa theo một hình thức nhất định từ phía chủ thể còn lại bên đối tác. Ởgóc độ quốc gia, chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế là những cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước có thẩm quyền liên quan đến các thao tác nội luật hóa được xác định trong pháp luật quốc gia. Chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế thường là những chủ thể có thẩm quyền lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp nhưng được giao thêm nhiệm vụ nội luật hóa trong phạm vi chức năng của mình chứ không phải là một cơ quan chuyên trách về công tác nội luật hóa. 1.2.3 Tính mâu thuẫn nội tại Một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình nội luật hóa là việc làm triệt tiêu những xung đột nào đó trong việc lựa chọn áp dụng luật quốc tế hay luật quốc gia, nhưng ngược lại nó cũng rất dễ dẫn đến việc tạo ra những xung đột mới. Những xung đột, mâu thuẫn mới vô tình được tạo ra trong quá trình nội luật hóa thậm chí còn có thể xuất hiện ngay trong bản thân hệ thống pháp luật quốc gia. Với nội dung hoàn toàn giống nhau, quy phạm gốc trong điều ước sẽ được áp dụng theo nguyên tắc về sự ưu tiên. Ởmột góc độ khác, nội luật hóa điều ước quốc tế vừa là quá trình làm cho pháp luật quốc gia tương thích với pháp luật quốc tế nhưng đồng thời cũng là quá trình làm cho pháp luật quốc tế tương thích với pháp luật quốc gia. Chuyển hóa nhằm “nghiêm chỉnh” thực thi các quy phạm điều ước theo đó không có nghĩa là chuyển hóa vô điều kiện. Ngược lại, các quốc gia luôn phải tính đến và làm sao cân đối lợi ích của mình với lợi ích của các bên còn lại. 1.2.4 Tính ý chí quốc gia Chuyển hóa các quy phạm điều ước vào pháp luật quốc gia là một quá trình thể hiện rất rõ ý chí của quốc gia. Quốc gia thể hiện ý chí của mình ở việc có đặt ra vấn đề nội luật hóa hay không, có quy định các thủ tục để tiến hành nội luật hóa hay không. Dù chuyển hóa không phải là một nghĩa vụ bắt buộc từ phía quốc tế nhưng thông qua pháp luật quốc gia, mỗi nước có thể tự đặt ra nghĩa vụ cho mình. Một khi thủ tục nội luật hóa đã được quy định trong luật, các cơ quan có thẩm quyền cùng mọi cá nhân, tổ chức liên quan đều bắt buộc phải thực hiện. Tính ý chí được thể hiện ở việc nhà làm luật xác định điều kiện để một ĐƯQT có thể được nội luật hóa. Tính ý chí thể hiện ở việc quốc gia có ý thức trong việc giám sát sự thi hành các quy phạm “sau nội luật hóa” và xử lý các vi phạm. Nói cách khác, tính ý chí nằm ở tính tự giác trong việc 4 Nguyễn Linh Ngọc 20062040 thực hiện pháp luật quốc tế của mỗi quốc gia sau khi đã tiến hành các thao tác nội luật hóa. Cuối cùng, trong quá trình nội luật hóa, quốc gia có thể “uốn nắn” nội dung luật quốc tế ở một chừng mực nhất định nhằm tạo ra sự tương thích tối ưu mặc dù về nguyên tắc, nội dung đó phải được chuyển tải một cách chính xác, phải “chiếm toàn bộ hoặc đa số phần nội dung của quy phạm pháp luật trong nước”2 1.2.5 Tính ảnh hưởng quốc tế Ký kết, gia nhập, thực hiện các ĐƯQT nói chung luôn gắn bó mật thiết với các yếu tố chính trị quốc tế, do vậy, hoạt động nội luật hóa dù được tiến hành bởi các chủ thể trong nước và thông qua các thao tác quy định bởi luật trong nước cũng vẫn luôn đưa tới những tác động vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Về nguyên tắc, một khi quốc gia đã tự quy định nghĩa vụ nội luật hóa cho mình thì phải có những biện pháp tích cực, khả thi để thực hiện nghiêm chỉnh những quy định được chuyển hóa ấy. Trong quá trình nội luật hóa, việc không chuyển tải được chính xác nội dung của quy phạm điều ước (dịch sai, hiểu sai, giải thích sai) cũng có thể dẫn đến việc quốc gia cố ý hoặc vô ý vi phạm luật quốc tế. Nguy cơ này ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Bởi vậy, việc thực hiện điều ước quốc tế nói chung và nội luật hóa điều ước quốc tế nói riêng cần phải được thực hiện một cách khéo léo và thận trọng. 1.3 Vị trí Điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam a, Vị trí của Điều ước quốc tế: Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về việc điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có vị trí như thế nào trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong nước .Tuy nhiên theo quy định tại khoản 1, Điều 6 của Luật ký kết gia nhập và thực hiện điều quốc tế năm 2005 trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế. Do đó các quy định của các điều quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia sẽ được thực thi kể cả trong trường hợp pháp luật Việt 2Hoàng Phước Hiệp và đ.t.g, Nội luật hóa các điều ước quốc tế Việt Nam ký kết và tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ (bản tóm tắt), Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, 2007. 5 Nguyễn Linh Ngọc 20062040 Nam còn chưa quy định đầy đủ… Từ quy định này có thể nhận ra điều ước quốc tế có vị trí sau hiến pháp trên các văn bản luật pháp lệnh. Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng đều thấy rõ giá trị ưu thế của điều quốc tế chẳng hạn : Theo Khoản 2, Điều 759 Bộ luật Dân sự năm 2005 “ Trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”3 Theo Khoản 2, Điều 2 Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em “trong trường hợp điều ước quốc tế mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó’’4 Theo Điều 3, Luật di sản văn hóa “ Luật này áp dụng đối với tổ chức cá nhân Việt Nam tổ chức cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”5 . Có thể thấy rõ công thức chung được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam là nếu pháp luật trong nước có quy định khác hoặc trái với điều ước quốc tế về quyền con người mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập, thì điều ước quốc tế có giá trị ưu tiên áp dụng. Từ đó cho thấy điều ước quốc tế mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có giá trị pháp lý ưu tiên hơn so với pháp luật trong nước. b, Áp dụng điều ước quốc tế Khoản 3, Điều 6 của Luật ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 quy định Quốc hội, Chủ tịch nước, chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quy định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần đi qua công ty đào tạo 3Khoản 2 Điều 759, Bộ luật dân sự năm 2005. 4Khoản 2 Điều 2 Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 5Điều 3, Luật di sản văn hóa 6 Nguyễn Linh Ngọc 20062040 với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều quốc tế đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện, quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi bổ sung, bãi bỏ ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước để thực hiện điều ước quốc tế đó .Quy định này thể hiện Việt Nam chấp nhận cái phương pháp thực hiện điều ước quốc tế : áp dụng trực tiếp vào chuyển hóa điều ước vào văn bản quy phạm pháp luật quốc nội. Một ví dụ điển hình là việc Quốc Hội ban hành nghị quyết số 712006 QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới( WTO ) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong đó quyết định “Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam đã được ghi tại phụ lục đính kèm nghị quyết này và có công ty khác của Việt Nam với tổ chức Thương mại Thế giới được quy định đủ rõ chi tiết trong nghị định thư các phụ lục đính kèm vào báo cáo của ban công tác về việc Việt Nam gia nhập hiệp định thành lập tổ chức Thương mại Thế giới trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy định của hiệp định thành lập tổ chức Thương mại Thế giới nghị định thư và các tài liệu đính kèm thì áp dụng quy định của hiệp định thành lập tổ chức Thương mại Thế giới với điện thư và các tài liệu đính kèm”.6 c, Trình tự thực hiện điều ước quốc tế Khi đề cập đến trình tự thực hiện điều ước quốc tế, vấn đề quan trọng đặt ra đối với Việt Nam là làm cách nào để bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ điều ước . Trên cơ sở quy định tại chương 6 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005, có thể nêu lên một số nội dung quan trọng sau đây liên quan đến trình tự thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam phù hợp với nguyên tắc Pacta sunt servanda như sau Kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế. Theo quy định tại Điều 71, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005, kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế bao gồm những nội dung sau đây: Lộ trình thực hiện điều ước quốc tế, dự kiến phân công trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện điều ước quốc tế, Kiến nghị sửa đổi bổ sung bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế , các biện pháp 6Nghị quyết số 712006 QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới 7 Nguyễn Linh Ngọc 20062040 tổ chức quản lý tài chính và các biện pháp cần thiết khác để thực hiện điều ước quốc tế, tuyên truyền, phổ biến điều ước quốc tế. Việc thực hiện các điều ước quốc tế, trước hết phải xuất phát từ đặc điểm tình hình hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển. Do đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đề ra tiến trình, các biện pháp tổ chức thực hiện điều ước trong từng giai đoạn, phù hợp với tình hình phát triển của đất nước. Đồng thời, phải hoàn thiện cơ chế quản lý việc thực hiện điều ước, quản lý nguồn tài chính, kể cả những đóng góp, tài trợ quốc tế cho việc thực hiện đứa quốc tế cũng phải được đánh giá một cách cụ thể. Xác định cơ quan có trách nhiệm thực hiện điều ước quốc tế. Nghĩa vụ thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người. Trước hết là thuộc về Nhà nước. Nhưng trong bộ máy nhà nước nghĩa vụ này là chủ yếu thuộc về các bộ ngành cơ quan trung ương và chính quyền địa phương các cấp . Trong phạm vi, nhiệm vụ ,và quyền hạn của mình các Bộ, ngành, cơ quan trung ương và chính quyền địa phương các cấp chính quyền có trách nhiệm đề ra kế hoạch cụ thể và biện pháp bảo đảm khả thi các cam kết mà Việt Nam đưa ra trong điều ước quốc tế . Việc thực hiện từng loại điều ước lại phụ thuộc vào chức năng nhiệm vụ của mỗi bộ ngành. Trong trường hợp phát sinh khó khăn bất cập các bộ ngành cơ quan trung ương cần phối hợp với Bộ Ngoại giao kiến nghị Chính phủ những biện pháp cần thiết để khắc phục, nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế phát sinh trên cơ sở điều ước. Đồng thời hằng năm và khi có yêu cầu các Bộ , ngành có trách nhiệm phối hợp với Bộ ngoại giao báo cáo Chính phủ,Chủ tịch nước với tình hình thực tế nếu quốc tế trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của ngành. Qua phân tích pháp luật Việt Nam , có thể kết luận các điều ước quốc tế đã được Việt Nam ký kết và gia nhập thì có hiệu lực pháp lý bắt buộc và được nhà nước đảm bảo thực hiện ngay cả trong trường hợp điều ước quốc tế đó có quy định trái với quy định của pháp luật trong nước. Bằng việc “nội luật hóa” các quy định của Điều quốc tế, thì ở những mức độ khác nhau đã có thể coi các quy định của điều quốc tế là một bộ phận cấu thành của pháp luật trong nước. Chính vì thế ,điều ước quốc tế đã đóng một vai trò , vị trí đặc biệt trong hệ thống các quy phạm pháp luật của quốc gia Việt Nam.
Trang 1KHOA LUẬT - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BỘ MÔN LUẬT QUỐC TẾ
-0-0 -TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC
MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
Giảng viên : TS Nguyễn Thị Xuân Sơn
Th.S Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
A LỜI MỞ ĐẦU……… 1
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ…………1
1.1 Khái niệm nội luật hoá điều ước quốc tế……… …1 1.2 Đặc điểm của nội luật hoá điều ước quốc tế……….……3 1.3 Vị trí Điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam……… …… ………5
II VẤN ĐỀ NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM……… 9
2.1 Phương thức nội luật hóa điều ước quốc tế tại Việt Nam……….………9 2.2 Thực tiễn nội luật hoá điều ước quốc tế trong một số lĩnh vực tại Việt Nam
hiện nay……….10 2.3 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác nội luật hóa tại Việt Nam……16
C KẾT LUẬN……… 18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 20
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- ĐƯQT : Điều ước quốc tế
- WTO : Tổ Chức Thương Mại Thế giới
- UNECE : Liên Hiệp Quốc Ủy Ban Kinh Tế Châu Âu
- CEDAW : Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
Trang 4A LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, để dễ dàng tham gia vào các quan hệ quốc tế, các quốc gia ngàycàng tích cực thiết lập, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực Để tạo ra
“phản ứng toàn cầu” trong cộng đồng quốc tế các quốc gia nói riêng và chủ thể pháp luật quốc
tế nói chung đã cùng nhau xây dựng nhiều công cụ mang tính quốc tế, trong đó pháp luật được xem là công cụ then chốt Do vậy, việc ký kết điều ước quốc tế ra đời đã phản ánh nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong việc kết nối pháp luật quốc gia và quốc tế Trong bối cảnh chung đó, Việt Nam cũng đã ký kết, gia nhập và trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc
tế song phương và đa phương
Sau khi trở thành thành viên của các điều ước quốc tế, VIệt Nam cũng như các quốc gia thành viên sẽ phải thực thi một cách nghiêm túc và có thiện chí các cam kết và yêu cầu trong các điều ước quốc tế bằng nhiều phương thức khác nhau Một trong những phương thức quan trọng chính là “ nội luật hóa” quy định trong các điều ước quốc tế đó vào pháp luật quốc gia Chính vì vậy, việc làm rõ nội hàm thuật ngữ “ nội luật hoá” cũng như cách thức nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận
và thực tiễn Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Nội luật hóa điều ước quốc tế vào pháp luật Việt
Nam” mang tính cấp thiết không những về lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn hiện nay Đó
cũng chính là lý do mà người viết lựa chọn nghiên cứu đề tài này cho bài tiểu luận của mình Với tầm hiểu biết còn hạn chế của một sinh viên còn đang học tập và nghiên cứu trong nhà trường nên bài viết của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý của thầy cô!
Bài viết phân tích rõ khái niệm, các đặc điểm của thuật ngữ nội luật hoá điều ước quốc
tế và vị trí của điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó, bàn về vấn đề nội luật hoá điều ước quốc tế của Việt Nam hiện nay
Bài tiểu luận của em có kết cấu nội dung gồm 2 phần :
I Lý luận chung về nội luật hóa điều ước quốc tế
II Vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế ở Việt Nam hiện nay
1 Nguyễn Linh Ngọc - 20062040
Trang 5B NỘI DUNG
I Lý luận chung về nội luật hoá điều ước quốc tế
1.1 Khái niệm nội luật hoá điều ước quốc tế
Ởcác nước trên thế giới , để thi hành điều ước quốc tế thì phải có sự chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế đó thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành điều ước quốc tế trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế đó Quá trình chuyển hoá đó thường được gọi là chuyển hóa điều ước quốc tế hoặcnội luật hoá các điều ước quốc tế Cho đến nay, khái niệm này vẫn mang tính ước lệ khá cao Chúng ta đang thiếu một định nghĩa pháp lý chính thức về “nội luật hóa” Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 cũng không nhắc trực tiếp đến vấn đề nội luật hóa Việc tìm kiếm thuật ngữ tương đương trong các ngôn ngữ khác cũng không dễ dàngbởi ngay chính khái niệm “nội luật” hay “luật quốc gia” cũng đã có rất nhiều cách diễn đạtkhác nhau
Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định: “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể kháccủa pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác”1
“Nội luật hóa điều ước quốc tế” hay “chuyển hóa điều ước quốc tế” được hiểu là chuyểnhóa các điều ước quốc tế thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành các điều ướcquốc tế đó trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ướcquốc tế Hiện nay, có hai ý kiến khác nhau về nội luật hóa:
(1) Nội luật hóa là quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế Như vậy, theo quan điểm này thì nội luật hóadường như đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước chấp nhận sự ràng buộc của điều
1Khoản 1 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế năm 2016
Trang 6ước quốc tế thì các quy định của điều ước có giá trị pháp lý và được áp dụng trên lãnhthổ quốc gia
(2) Nội luật hóa và quá trình chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế là hai khái niệm pháp lý khác nhau và có mối quan hệ tương đối độc lập với nhau: Việc chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục pháp lý trong nước và thông qua đó thể hiện việc quốc gia tham gia điều ước chấp nhận việc áp dụng các quy định của điều ước đó đối với mình Trong khi đó, nội luật hóa là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật
1.2 Đặc điểm của nội luật hoá điều ước quốc tế
1.2.1 Tính thích nghi tuỳ biến
Tính thích nghi tùy biến thể hiện ở việc nội luật hóa điều ước quốc tế không diễn ra mộtcách tuần tự, cố định, đều đặn, lặp đi lặp lại mà nó chỉ xuất hiện khi có yêu cầu nội luật hóa.Điều quan trọng hơn, quá trình ấy không chỉ thuần túy phụ thuộc vào yêu cầu nội luật hóa màcòn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố kinh tế – chính trị, lịch sử – địa lý khác Nội luật hóađiều ước quốc tế do đó có sự biến động khó lường theo cả không gian và thời gian
Ởbình diện thế giới, cách quan niệm về nội luật hóa và cách tiến hành nội luật hóa ở cácquốc gia khác nhau là rất khác nhau Thậm chí các quốc gia trong cùng một “dòng họ” phápluật, có hệ thống pháp luật tương tự nhau cũng vẫn có những nét riêng trong việc giải quyếtvấn đề này Ở bình diện quốc gia, vấn đề nội luật hóa pháp luật quốc tế ở mỗi thời kỳ, mỗi giaiđoạn cũng được nhìn nhận và giải quyết bởi những cách rất khác nhau Cùng với thời gian,không chỉ quan niệm của một quốc gia có thể thay đổi mà thậm chí vị thế của quốc gia đó trêntrường quốc tế cũng đã có sự thay đổi Những sự thay đổi này khiến cho nội dung của nội luậthóa cũng như sự cần thiết của nó không thể tồn tại mãi mãi
1.2.2 Tính đa dạng chủ thể
Ởgóc độ quốc tế, chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế phải là quốc gia thành viên của điềuước đó, sự chuyển hóa quy phạm điều ước dù bằng phương thức nào cùng đều nhằm thực thi
3 Nguyễn Linh Ngọc - 20062040
Trang 7một cách thực chất các cam kết mà quốc gia đã chấp nhận sự ràng buộc Trong một số trườnghợp đặc biệt thường rơi vào các điều ước song phương, quốc gia kết ước có thể nhận được đòihỏi phải tiến hành nội luật hóa theo một hình thức nhất định từ phía chủ thể còn lại bên đối tác.Ởgóc độ quốc gia, chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế là những cá nhân, cơ quan, tổ chứctrong nước có thẩm quyền liên quan đến các thao tác nội luật hóa được xác định trong phápluật quốc gia Chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế thường là những chủ thể có thẩm quyền lậppháp, hành pháp hoặc tư pháp nhưng được giao thêm nhiệm vụ nội luật hóa trong phạm vi chứcnăng của mình chứ không phải là một cơ quan chuyên trách về công tác nội luật hóa.
1.2.3 Tính mâu thuẫn nội tại
Một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình nội luật hóa là việc làm triệt tiêu nhữngxung đột nào đó trong việc lựa chọn áp dụng luật quốc tế hay luật quốc gia, nhưng ngược lại nócũng rất dễ dẫn đến việc tạo ra những xung đột mới Những xung đột, mâu thuẫn mới vô tìnhđược tạo ra trong quá trình nội luật hóa thậm chí còn có thể xuất hiện ngay trong bản thân hệthống pháp luật quốc gia Với nội dung hoàn toàn giống nhau, quy phạm gốc trong điều ước sẽđược áp dụng theo nguyên tắc về sự ưu tiên
Ởmột góc độ khác, nội luật hóa điều ước quốc tế vừa là quá trình làm cho pháp luật quốc giatương thích với pháp luật quốc tế nhưng đồng thời cũng là quá trình làm cho pháp luật quốc tếtương thích với pháp luật quốc gia Chuyển hóa nhằm “nghiêm chỉnh” thực thi các quy phạmđiều ước theo đó không có nghĩa là chuyển hóa vô điều kiện Ngược lại, các quốc gia luôn phảitính đến và làm sao cân đối lợi ích của mình với lợi ích của các bên còn lại
1.2.4 Tính ý chí quốc gia
Chuyển hóa các quy phạm điều ước vào pháp luật quốc gia là một quá trình thể hiện rất rõ ýchí của quốc gia Quốc gia thể hiện ý chí của mình ở việc có đặt ra vấn đề nội luật hóa haykhông, có quy định các thủ tục để tiến hành nội luật hóa hay không Dù chuyển hóa không phải
là một nghĩa vụ bắt buộc từ phía quốc tế nhưng thông qua pháp luật quốc gia, mỗi nước có thể
tự đặt ra nghĩa vụ cho mình Một khi thủ tục nội luật hóa đã được quy định trong luật, các cơquan có thẩm quyền cùng mọi cá nhân, tổ chức liên quan đều bắt buộc phải thực hiện Tính ýchí được thể hiện ở việc nhà làm luật xác định điều kiện để một ĐƯQT có thể được nội luậthóa Tính ý chí thể hiện ở việc quốc gia có ý thức trong việc giám sát sự thi hành các quy phạm
“sau nội luật hóa” và xử lý các vi phạm Nói cách khác, tính ý chí nằm ở tính tự giác trong việc
Trang 8thực hiện pháp luật quốc tế của mỗi quốc gia sau khi đã tiến hành các thao tác nội luật hóa.Cuối cùng, trong quá trình nội luật hóa, quốc gia có thể “uốn nắn” nội dung luật quốc tế ở mộtchừng mực nhất định nhằm tạo ra sự tương thích tối ưu mặc dù về nguyên tắc, nội dung đóphải được chuyển tải một cách chính xác, phải “chiếm toàn bộ hoặc đa số phần nội dung củaquy phạm pháp luật trong nước”2
1.2.5 Tính ảnh hưởng quốc tế
Ký kết, gia nhập, thực hiện các ĐƯQT nói chung luôn gắn bó mật thiết với các yếu tố chính trịquốc tế, do vậy, hoạt động nội luật hóa dù được tiến hành bởi các chủ thể trong nước và thông quacác thao tác quy định bởi luật trong nước cũng vẫn luôn đưa tới những tác động vượt ra khỏi biêngiới quốc gia Về nguyên tắc, một khi quốc gia đã tự quy định nghĩa vụ nội luật hóa cho mình thìphải có những biện pháp tích cực, khả thi để thực hiện nghiêm chỉnh những quy định được chuyểnhóa ấy Trong quá trình nội luật hóa, việc không chuyển tải được chính xác nội dung của quy phạmđiều ước (dịch sai, hiểu sai, giải thích sai) cũng có thể dẫn đến việc quốc gia cố ý hoặc vô ý viphạm luật quốc tế Nguy cơ này ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, vị thế của quốc gia trên trườngquốc tế Bởi vậy, việc thực hiện điều ước quốc tế nói chung và nội luật hóa điều ước quốc tế nóiriêng cần phải được thực hiện một cách khéo léo và thận trọng
1.3 Vị trí Điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam
a, Vị trí của Điều ước quốc tế:
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về việc điều ước quốc tế mà ViệtNam đã ký kết hoặc gia nhập có vị trí như thế nào trong hệ thống các văn bản quy phạm phápluật trong nước Tuy nhiên theo quy định tại khoản 1, Điều 6 của Luật ký kết gia nhập và thựchiện điều quốc tế năm 2005 trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc
tế mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng mộtvấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế Do đó các quy định của các điều quốc tế
mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia sẽ được thực thi kể cả trong trường hợp pháp luật Việt
2 Hoàng Phước Hiệp và đ.t.g, "Nội luật hóa các điều ước quốc tế Việt Nam ký kết và tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ (bản tóm tắt), Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, 2007.
5 Nguyễn Linh Ngọc - 20062040
Trang 9Nam còn chưa quy định đầy đủ… Từ quy định này có thể nhận ra điều ước quốc tế có vị trí sau hiến pháp trên các văn bản luật pháp lệnh.
Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng đều thấy rõ giá trị ưu thế của điều quốc tế chẳng hạn :
Theo Khoản 2, Điều 759 Bộ luật Dân sự năm 2005 “ Trong trường hợp điều ước quốc tế
mà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác vớiquy định của bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”3
Theo Khoản 2, Điều 2 Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em “trong trường hợp điềuước quốc tế mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy địnhkhác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó’’4
Theo Điều 3, Luật di sản văn hóa “ Luật này áp dụng đối với tổ chức cá nhân Việt Nam tổchức cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang hoạt động tạiViệt Nam trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kýkết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”5 Cóthể thấy rõ công thức chung được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiệnhành của Việt Nam là nếu pháp luật trong nước có quy định khác hoặc trái với điều ướcquốc tế về quyền con người mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập, thì điềuước quốc tế có giá trị ưu tiên áp dụng Từ đó cho thấy điều ước quốc tế mà cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có giá trị pháp lý ưu tiên hơn so với phápluật trong nước
b, Áp dụng điều ước quốc tế
Khoản 3, Điều 6 của Luật ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 quyđịnh Quốc hội, Chủ tịch nước, chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ướcquốc tế đồng thời quy định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần đi qua công ty đào tạo
3Khoản 2 Điều 759, Bộ luật dân sự năm 2005.
4 Khoản 2 Điều 2 Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em
5 Điều 3, Luật di sản văn hóa
Trang 10với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều quốc tế đã đủ rõ, chi tiết đểthực hiện, quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi bổ sung, bãi bỏ ban hành văn bản quy phạmpháp luật trong nước để thực hiện điều ước quốc tế đó Quy định này thể hiện Việt Nam chấpnhận cái phương pháp thực hiện điều ước quốc tế : áp dụng trực tiếp vào chuyển hóa điều ướcvào văn bản quy phạm pháp luật quốc nội Một ví dụ điển hình là việc Quốc Hội ban hànhnghị quyết số 71/2006 QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 về việc Phê chuẩn Nghị định thưgia nhập hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới( WTO ) của nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam trong đó quyết định “Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam đãđược ghi tại phụ lục đính kèm nghị quyết này và có công ty khác của Việt Nam với tổ chứcThương mại Thế giới được quy định đủ rõ chi tiết trong nghị định thư các phụ lục đính kèmvào báo cáo của ban công tác về việc Việt Nam gia nhập hiệp định thành lập tổ chức Thươngmại Thế giới trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy địnhcủa hiệp định thành lập tổ chức Thương mại Thế giới nghị định thư và các tài liệu đính kèmthì áp dụng quy định của hiệp định thành lập tổ chức Thương mại Thế giới với điện thư và cáctài liệu đính kèm”.6
c, Trình tự thực hiện điều ước quốc tế
Khi đề cập đến trình tự thực hiện điều ước quốc tế, vấn đề quan trọng đặt ra đối với ViệtNam là làm cách nào để bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ điều ước Trên cơ sởquy định tại chương 6 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005, có thểnêu lên một số nội dung quan trọng sau đây liên quan đến trình tự thực hiện điều ước quốc tếcủa Việt Nam phù hợp với nguyên tắc Pacta sunt servanda như sau
Kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế Theo quy định tại Điều 71, Luật ký kết, gia nhập vàthực hiện điều ước quốc tế 2005, kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế bao gồm những nộidung sau đây: Lộ trình thực hiện điều ước quốc tế, dự kiến phân công trách nhiệm của cơquan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện điều ước quốc tế, Kiến nghị sửa đổi bổ sung bãi
bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế , các biện pháp
6Nghị quyết số 71/2006 QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới
7 Nguyễn Linh Ngọc - 20062040
Trang 11tổ chức quản lý tài chính và các biện pháp cần thiết khác để thực hiện điều ước quốc tế, tuyên truyền, phổ biến điều ước quốc tế.
Việc thực hiện các điều ước quốc tế, trước hết phải xuất phát từ đặc điểm tình hình hoàncảnh cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển Do đó, các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền phải đề ra tiến trình, các biện pháp tổ chức thực hiện điều ước trong từng giaiđoạn, phù hợp với tình hình phát triển của đất nước Đồng thời, phải hoàn thiện cơ chế quản
lý việc thực hiện điều ước, quản lý nguồn tài chính, kể cả những đóng góp, tài trợ quốc tếcho việc thực hiện đứa quốc tế cũng phải được đánh giá một cách cụ thể
Xác định cơ quan có trách nhiệm thực hiện điều ước quốc tế Nghĩa vụ thực hiện các điềuước quốc tế về quyền con người Trước hết là thuộc về Nhà nước Nhưng trong bộ máy nhànước nghĩa vụ này là chủ yếu thuộc về các bộ ngành cơ quan trung ương và chính quyền địaphương các cấp Trong phạm vi, nhiệm vụ ,và quyền hạn của mình các Bộ, ngành, cơ quantrung ương và chính quyền địa phương các cấp chính quyền có trách nhiệm đề ra kế hoạch
cụ thể và biện pháp bảo đảm khả thi các cam kết mà Việt Nam đưa ra trong điều ước quốc tế Việc thực hiện từng loại điều ước lại phụ thuộc vào chức năng nhiệm vụ của mỗi bộ ngành.Trong trường hợp phát sinh khó khăn bất cập các bộ ngành cơ quan trung ương cần phối hợpvới Bộ Ngoại giao kiến nghị Chính phủ những biện pháp cần thiết để khắc phục, nhằm bảođảm việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế phát sinh trên cơ sở điều ước Đồng thời hằng năm vàkhi có yêu cầu các Bộ , ngành có trách nhiệm phối hợp với Bộ ngoại giao báo cáo Chínhphủ,Chủ tịch nước với tình hình thực tế nếu quốc tế trong phạm vi chức năng nhiệm vụ củangành
Qua phân tích pháp luật Việt Nam , có thể kết luận các điều ước quốc tế đã được Việt Nam
ký kết và gia nhập thì có hiệu lực pháp lý bắt buộc và được nhà nước đảm bảo thực hiệnngay cả trong trường hợp điều ước quốc tế đó có quy định trái với quy định của pháp luậttrong nước Bằng việc “nội luật hóa” các quy định của Điều quốc tế, thì ở những mức độkhác nhau đã có thể coi các quy định của điều quốc tế là một bộ phận cấu thành của phápluật trong nước Chính vì thế ,điều ước quốc tế đã đóng một vai trò , vị trí đặc biệt trong hệthống các quy phạm pháp luật của quốc gia Việt Nam
Trang 12II.Vấn đề nội luật hoá điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam 2.1
Phương thức nội luật hoá điều ước quốc tế tại Việt Nam
Tại Việt Nam, việc nội luật hoá được thực hiện thông qua cách hiểu thứ hai Theo
đó, việc nội luật hoá thể hiện qua phương thức sau:
- Thứ nhất, sửa đổi bổ sung , ban hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 căn cứ vào nội dung , yêu cầu , tính chất của ĐƯQT Quốc hội- Chủ tịch nước- Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của Điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc
một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó Trong công tác xây dựng pháp luật , theo quy định của Khoản 5, Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2016, một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bảnquy phạm pháp luật là “không làm cản trở việc thực hiện Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”7.Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp Do đó, những quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
sẽ được thực thi kể cả trong trường hợp pháp luật Việt Nam chưa có quy định đầy đủ Trường hợp pháp luật trong nước (từ luật trở xuống) có quy định khác hoặc trái với Điều ước quốc tế, thì các văn bản quy phạm pháp luật thường ghi nhận việc ưu tiên áp dụng Điều ước quốc tế8 Đối với quyết định của Thủ tướng chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ nghiên cứu điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hay đối với dự thảo thông tư, trongquá trình thẩm định một trong các nội dung mà cơ quan chủ trì thẩm định phải tập trung thẩm định là tính tương thích với điều ước quốc tế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
7 K hoản 5 Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2016
8 Khoản 4 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế; Khoản 3 Điều 2 Luật Tố tụng hành chính năm 2015…
9 Nguyễn Linh Ngọc - 20062040