Mục lục MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 4 1.1. Tổng quan về điều ước quốc tế 4 1.1.1. Khái niệm 4 1.1.2. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia ở Việt Nam 5 1.1.2.1. Thuyết nhất nguyên luận 6 1.1.2.2. Thuyết nhị nguyên luận 6 1.2. Lý luận chung về vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế 7 1.2.1. Khái niệm nội luật hóa 7 1.2.2. Hình thức nội luật hóa 7 1.2.3. Đặc điểm nội luật hóa điều ước quốc tế 8 CHƯƠNG II. THỰC HIỆN NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 9 2.1. Các mô hình nội luật hóa các điều ước quốc tế ở Việt Nam 9 2.2. Cách thức nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam …………………………………………………………………………………..10 2.3. Tình hình nội luật hóa điều ước quốc tế trong các lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay …………………………………………………………………………………..12 2.3.1. Kinh tế, thương mại, ngoại thương 12 2.3.2. Hình sự 13 2.3.3. Các vấn đề về quyền con người 14 CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VÀ CÁC KIẾN NGHỊ 15 3.1. Nhận xét 15 3.2. Kiến nghị 16 KẾT LUẬN 16 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 Tài liệu tham khảo nước ngoài 18 2 MỞ ĐẦU Trong thời gian gần đây, giai đoạn Xã hội chủ nghĩa, Luật quốc tế đang phát triển một cách mạnh mẽ đi cùng với đó việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế đã trở thành nhu cầu bức xúc của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng. Các hiệp định thương mại tự do, liên minh, liên kết kinh tế khu vực và song phương đã và đang thu hút sự quan tâm rất lớn của các quốc gia. Để thúc đẩy quá trình phát triển, các nước đã xây dựng một hệ thống những văn bản pháp lý quan trọng làm cơ sở cho việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế. Công ước Viên về luật điều ước quốc tế, thực tiễn giải thích và áp dụng các điều ước quốc tế tại các cơ chế giải quyết tranh chấp như Tòa án Quốc tế, Liên Hợp quốc, WTO ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình đó. Tuy nhiên, do pháp luật của các quốc gia đa dạng nên thực tiễn thi hành các điều ước quốc tế tại các quốc gia có khác nhau. Đối với Việt Nam, hiện nay đang trong quá trình chủ động đẩy nhanh tiến trình hội nhập hóa với việc tích cực ký kết và gia nhập vào các điều ước quốc tế song và đa phương trong khu vực cũng như trên thế giới nhằm thể hiện rõ chính sách mở cửa, hội nhập toàn diện và sâu rộng của Đảng và Nhà nước. Hệ thống pháp luật quốc gia đã có những thay đổi cơ bản nhằm đảm bảo tương thích với những cam kết quốc tế mà Việt Nam có nghĩa vụ thi hành. Công tác ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế có một vai trò rất quan trọng, là cơ sở pháp lý trong việc tăng cường và mở rộng các quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó, công tác ký kết và thực hiện điều ước quốc tế cũng có những đóng góp tích cực đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. Làm tốt công tác này sẽ góp phần đáng kể vào sự phát triển toàn diện của đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong bối cảnh khu vực và thế giới hiện nay. Để phục vụ tốt hơn công tác hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc nghiên cứu pháp luật và thực tiễn của Việt Nam cùng các nước trong lĩnh vực điều ước quốc tế có ý nghĩa quan trọng. Một trong những vấn đề phức tạp ở đây cần nghiên cứu là vấn đề nội luật hóa các điều ước quốc tế vào pháp luật của Việt Nam trong điều kiên cụ thể của đất nước. Nhận thức được vấn đề này, em xin chọn đề tài “Nội luật hóa điều ước quốc tế trong Pháp Luật Việt Nam” để làm bài tiểu luận kết thúc học phần của mình. Đề tài có mục tiêu tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở khoa học pháp lý về điều ước quốc tế và nội luật 3 hóa các điều ước quốc tế, đánh giá thực trạng khuôn khổ pháp luật Việt Nam và thực tiễn nội luật hóa các điều ước quốc tế vào pháp luật của Việt Nam hiện nay. Bài tiểu luận được thực hiện kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn dịch và phương pháp so sánh. Do còn hạn chế về mặt kiến thức, kinh nghiệm nên bài tiểu luận không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nên em rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp của các thầy cô để bài tiểu luận của em có thể hoàn thiện hơn nữa. CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.1. Tổng quan về điều ước quốc tế 1.1.1. Khái niệm Điều ước quốc tế là một trong các nguồn chính của luật pháp quốc tế và là nguồn quan trọng nhất xét về số lượng các quy phạm chứa đựng. Hiện tại đang tồn tại một số lượng lớn các điều ước quốc tế trong luật pháp quốc tế. Riêng Việt Nam, chỉ trong giai đoạn 10 năm thực hiện Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2006 đã ký kết khaonrg 2000 điều ước.1 Định nghĩa về điều ước quốc tế đã được ghi nhận trong Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 và Công ước Viên và Luật điều ước quốc tế giữa quốc gia và tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế năm 1986. Theo Khoản 1 Điều 2 Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế (Công ước Viên năm 1969), “điều ước là một thỏa thuận quốc tế được kí kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, được thể hiện thông qua một văn kiện hoặc hai hay nhiều văn kiện có liên quan, không phân biệt tên gọi của các văn kiện này là gì”. Năm 1957, Giáo sư James L. Brierly – báo cáo viên đặc biệt đầu tiên của LLC trong tiến trình xây dựng Công ước Viên năm 1969, đã đệ trình bản dự thảo Công ước, trong đó Điều 1(a) 1Tờ trình của Chính phủ gửi Quốc hội về sự án Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (sửa đổi). số 573TTrCP, ngày 26202015, xem tại 4 quy định: “ Một điều ước là một thỏa thuận được ghi lại bằng văn bản giữa hai hoặc nhiều Quốc gia hoặc tổ chức quốc tế từ đó thiết lập mối quan hệ theo Luật quốc tế giữa các bên”2. Điều ước quốc tế là một nguồn của luật pháp quốc tế, chứa đựng quyền và nghĩa vụ của các quốc gia do đó chỉ có thể được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế nếu thỏa thuận giữa các quốc gia hay tổ chức quốc tế mà ghi nhận luật điều chỉnh là một hệ thống pháp luật khác, ví dụ như pháp luật của một quốc gia nào đó, thì thỏa thuân này không phải là điều ước quốc tế. Các thỏa thuận giữa các quốc gia hay tổ chức quốc tế thường được mặc nhiên xem như chịu điều chỉnh của luật pháp quốc tế, trừ khi có quy định hay thỏa thuận khác. ỞViệt Nam, luật điều ước quốc tế 2016 quy định: “Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác”.3 1.1.2. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia ở Việt Nam Điều ước quốc tế là một trong các nguồn chính của luật pháp quốc tế bên cạnh tập quán quốc tế và các nguyên tắc pháp luật chung.4 Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế (mà chủ yếu là các quốc gia) được luật pháp quốc tế điều chỉnh bất kể tên gọi, hình thức của văn bản đó.5 Mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia thường được xem xét theo hai học thuyết về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật quốc gia: thuyết nhất nguyên luận (Moniste) và thuyết nhị nguyên luận (Dualise). Học thuyết thứ nhất coi pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống tách biệt hoàn toàn với nhau và chỉ có mối liên hệ với nhau ở một 2Yearbook of the international law commission 1950, (volume 2), UN Doc ACN. 4SER.A1950Add. 1 (6 June 1957), tr.223: “Article 1. As the term is used in this Convention (a) A treaty is an agreement recorded in writing between two or more States or international organizations which establishes a relation under international law between the parties thereto.” 3Khoản 1, Điều 2 Luật Điều ước Quốc tế 2016. 4Điều 38(1) Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) 5Điều 2(1)(a) Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 (Việt Nam phê chuẩn năm 2001), Điều 2(1)(a) Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế giữa quốc gia và tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau năm 1986. 5 mức độ nhất định, còn học thuyết thứ hai thì cho rằng, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai bộ phận cấu thành của một hệ thống thống nhất. 1.1.2.1. Thuyết nhất nguyên luận Theo thuyết nhất nguyên luận, Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia là hai bộ phận của cùng một hệ thống pháp lý, do đó các quy định của luật pháp quốc tế sẽ được áp dụng trực tiếp vào bên trong các quốc gia. Nói cách khác, Điều ước quốc tế trở thành một nguồn chính thức của pháp luật quốc gia, có thể được viện dẫn, áp dụng trực tiếp bởi các cơ quan, tổ chức, các nhân hay trước tòa án quốc gia. Học thuyết về sự ưu tiên của pháp luật quốc gia đặt chủ quyền của quốc gia lên trên hết. Pháp luật quốc tế chỉ có giá trị áp dụng, nếu một quốc gia tự công nhận là nó có giá trị hiệu lực đối với mình. Chủ nghĩa nhất nguyên luận sau này dựa trên quan điểm cho rằng, Luật quốc tế có trước Luật quốc gia. Do đó, Luật quốc tế có vị trí ưu tiên hơn Luật quốc gia.6 1.1.2.2. Thuyết nhị nguyên luận Khác với thuyết nhất nguyên luận, thuyết nhị nguyên luận cho rằng luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp lý riêng biệt.7 Sự tách biệt này là do cách thức hình thành, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của luật pháp quốc tế khác biệt hẳn so với pháp luật quốc gia. Do dây là hai hệ thống pháp lý riêng biệt nên không thể so sánh hiệu lực pháp lý của luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia. Từ góc độ luật quốc tế thì pháp luật quốc gia có vị trí thấp hơn, ngược lại luật pháp quốc gia có thể công nhận hoặc không công nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế. Luật pháp quốc tế nói chng chỉ quan tâm đến kết quả thực hiện các cam kết và xem các biện pháp cụ thể được áp dụng là hai vấn đề nội bộ của từng quốc gia.8 Các quốc gia có thể tự do lựa chọn việc chp phép điều ước quốc tế có hiêu lực pháp lý trong hệ thống pháp luật quốc gia và được áp dụng trực tiếp hoặc không công nhận hiệu lực pháp lý của Điều ước quốc tế và thực hiện Điều ước quốc tế thông qua nội luật hóa các quy định này vào trong hệ thống pháp luật quốc gia. 6Xem Nguyễn Bá Diến, Việc áp dụng điều ước quốc tế và quan hệ thứ bậc giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, Tạp chí Khoa học Kinh tế Luật, số 3 (2003). 7Malcolm N. Shaw, International Law, 6th ed., Cambridge University Press, Cambridge, 2008, tr. 131 8Malcolm N. Shaw, International Law, 1st ed., Cambridge University Press, Cambridge, 2003, tr. 419 6 1.2. Lý luận chung về vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế 1.2.1. Khái niệm nội luật hóa Ởcác nước, để thi hành điều ước quốc tế, người ta thường phải chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế đó thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành điều ước quốc tế trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế đó. Quá trình chuyển hóa đó thường được gọi là chuyển hóa điều ước quốc tế hoặc nội luật hóa các điều ước quốc tế. ỞViệt Nam, có nhiều cách hiểu về nội luật hóa. Cách hiểu thứ nhất cho rằng nội luật hóa là quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế. Như vậy, theo quan điểm này thì nội luật hóa đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước. Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước chấ nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế thì các quy định của điều ước có giá trị pháp lý và được áp dụng trên lãnh thổ quốc gia. Cách hiểu thứ hai cho rằng nội luật hóa và quá trình chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế là hai khái niệm pháp lý khác nhau và có mối quan hệ tương đối độc lập với nhau: việc chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục pháp lý trong nước và thông qua đó thể hiện việc quốc gia tham gia điều ước chấp nhận việc áp dụng các quy định của điều ước đó đối với mình. Trong khi đó, nội luật hóa là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cầm thiết để chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật trong nước để cho nội dung của các quy định của điều ước quốc tế chiếm toàn bộ hoặc đa số phần nội dung của quy phạm pháp luật trong nước. 1.2.2. Hình thức nội luật hóa Thực chất, nội luật hóa điều ước quốc tế là quá trình chuyển hóa hiệu lực, cụ thể hóa quy định ghi trong điều ước quốc tế mà quốc gia đã kí kết để áp dụng không chỉ đối với quốc gia, mà còn đối với cả pháp nhân, thể nhân thuộc quốc gia đó. Do đó, tùy thuộc vào từng điều ước quốc tế mà quốc gia thành viên có thể áp dụng nhiều hình thức để nội luật hóa điều ước quốc tế, cụ thể có các hình thức 7 Hình thức ban hành văn kiện nhà nước quy định các quy định trong điều ước quốc tế có hiệu lực áp dụng ở quốc gia thành viên. Hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc sửa đổi, bổ sung quy định trong các văn bản pháp luật cụ thể hóa các quy định trong điều ước quốc tế. Hình thức này tạo ra văn bản quy phạm pháp luật mới trong hệ thống pháp luật quốc gia hoặc làm thay đổi nội dung điều chỉnh của một số quy định trong văn bản pháp luật hiện hành. Hình thức bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật hoặc một số quy định trong văn bản pháp luật quốc gia để phù hợp với yêu cầu của điều ước quốc tế. Hình thức này khắc phục sự mâu thuẫn trong nội dung điều chỉnh của pháp luật quốc gia theo yêu cầu của quy định trong điều ước quốc tế. Cùng với tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã kí kết nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương. Các điều ước này thường được nội luật hóa dưới nhiều hình thức, trong đó phần lớn được thực hiện bằng cách bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung quy định trong văn bản pháp luật để phù hợp với yêu cầu của điều ước quốc tế. 1.2.3. Đặc điểm nội luật hóa điều ước quốc tế Đặc điểm về thời gian xuất hiện Quá trình nội luật hóa có thể diễn ra sớm hoặc muộn hơn quá trình thực hiện điều ước quốc tế. Nó có thể được diễn ở các giai đoạn cụ thể như sau: Giai đoạn tạo lập thỏa thuận ý chí của các quốc gia hay các chủ thể khác nhau của luật quốc tế. Giai đoạn công nhận hiệu lực bắt buộc của các quy phạm điều ước Giai đoạn thực hiện điều ước quốc tế Đặc điểm của văn bản nội luật hóa Văn bản nội luật hóa là văn bản quy phạm pháp luật trong nước, nhưng có một số nội dung pháp lý vốn là nội dung pháp lý của điều ước quốc tế có liên quan. Nếu xét về mặt bản chất thì nội dung pháp lý của văn bản nội luật hóa đó có cội nguồn từ nội dung pháp luật của các can kết cần được thi hành của các nước liên quan.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
|| Tiểu luận: Công Pháp Quốc Tế NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 4
1.1 Tổng quan về điều ước quốc tế 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia ở Việt Nam 5
1.1.2.1 Thuyết nhất nguyên luận 6
1.1.2.2 Thuyết nhị nguyên luận 6
1.2 Lý luận chung về vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế 7
1.2.1 Khái niệm nội luật hóa 7
1.2.2 Hình thức nội luật hóa 7
1.2.3 Đặc điểm nội luật hóa điều ước quốc tế 8
CHƯƠNG II THỰC HIỆN NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 9
2.1 Các mô hình nội luật hóa các điều ước quốc tế ở Việt Nam 9
2.2 Cách thức nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam ……… 10
2.3 Tình hình nội luật hóa điều ước quốc tế trong các lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay ……… 12
2.3.1 Kinh tế, thương mại, ngoại thương 12
2.3.2 Hình sự 13
2.3.3 Các vấn đề về quyền con người 14
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VÀ CÁC KIẾN NGHỊ 15
3.1 Nhận xét 15
3.2 Kiến nghị 16
KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Tài liệu tham khảo nước ngoài 18
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong thời gian gần đây, giai đoạn Xã hội chủ nghĩa, Luật quốc tế đang phát triển một cách mạnh mẽ đi cùng với đó việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế đã trở thành nhu cầu bức xúc của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng Các hiệp định thương mại tự do, liên minh, liên kết kinh tế khu vực và song phương đã và đang thu hút sự quan tâm rất lớn của các quốc gia Để thúc đẩy quá trình phát triển, các nước đã xây dựng một hệ thống những văn bản pháp lý quan trọng làm cơ sở cho việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc
tế Công ước Viên về luật điều ước quốc tế, thực tiễn giải thích và áp dụng các điều ước quốc
tế tại các cơ chế giải quyết tranh chấp như Tòa án Quốc tế, Liên Hợp quốc, WTO ngày càng
có vai trò quan trọng trong quá trình đó Tuy nhiên, do pháp luật của các quốc gia đa dạng nên thực tiễn thi hành các điều ước quốc tế tại các quốc gia có khác nhau
Đối với Việt Nam, hiện nay đang trong quá trình chủ động đẩy nhanh tiến trình hội nhập hóa với việc tích cực ký kết và gia nhập vào các điều ước quốc tế song và đa phương trong khu vực cũng như trên thế giới nhằm thể hiện rõ chính sách mở cửa, hội nhập toàn diện
và sâu rộng của Đảng và Nhà nước Hệ thống pháp luật quốc gia đã có những thay đổi cơ bản nhằm đảm bảo tương thích với những cam kết quốc tế mà Việt Nam có nghĩa vụ thi hành Công tác ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế có một vai trò rất quan trọng, là cơ sở pháp lý trong việc tăng cường và mở rộng các quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế Bên cạnh
đó, công tác ký kết và thực hiện điều ước quốc tế cũng có những đóng góp tích cực đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước ta Làm tốt công tác này sẽ góp phần đáng kể vào sự phát triển toàn diện của đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong bối cảnh khu vực và thế giới hiện nay Để phục vụ tốt hơn công tác hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc nghiên cứu pháp luật và thực tiễn của Việt Nam cùng các nước trong lĩnh vực điều ước quốc tế có ý nghĩa quan trọng Một trong những vấn đề phức tạp ở đây cần nghiên cứu là vấn đề nội luật hóa các điều ước quốc tế vào pháp luật của Việt Nam trong điều kiên cụ thể của đất nước
Nhận thức được vấn đề này, em xin chọn đề tài “Nội luật hóa điều ước quốc tế trong Pháp Luật Việt Nam” để làm bài tiểu luận kết thúc học phần của mình Đề tài có mục tiêu tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở khoa học pháp lý về điều ước quốc tế và nội luật
Trang 4hóa các điều ước quốc tế, đánh giá thực trạng khuôn khổ pháp luật Việt Nam và thực tiễn nội luật hóa các điều ước quốc tế vào pháp luật của Việt Nam hiện nay Bài tiểu luận được thực hiện kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn dịch và phương pháp so sánh
Do còn hạn chế về mặt kiến thức, kinh nghiệm nên bài tiểu luận không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nên em rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp của các thầy cô để bài tiểu luận của em có thể hoàn thiện hơn nữa
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về điều ước quốc tế
1.1.1 Khái niệm
Điều ước quốc tế là một trong các nguồn chính của luật pháp quốc tế và là nguồn quan trọng nhất xét về số lượng các quy phạm chứa đựng Hiện tại đang tồn tại một số lượng lớn các điều ước quốc tế trong luật pháp quốc tế Riêng Việt Nam, chỉ trong giai đoạn 10 năm thực hiện Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2006 đã ký kết khaonrg 2000 điều ước.1 Định nghĩa về điều ước quốc tế đã được ghi nhận trong Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 và Công ước Viên và Luật điều ước quốc tế giữa quốc gia và tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế năm 1986 Theo Khoản 1 Điều 2
Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế (Công ước Viên năm 1969), “điều ước
là một thỏa thuận quốc tế được kí kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, được thể hiện thông qua một văn kiện hoặc hai hay nhiều văn kiện có liên quan, không phân biệt tên gọi của các văn kiện này là gì” Năm 1957, Giáo sư James L.
Brierly – báo cáo viên đặc biệt đầu tiên của LLC trong tiến trình xây dựng Công ước Viên năm 1969, đã đệ trình bản dự thảo Công ước, trong đó Điều 1(a)
1 Tờ trình của Chính phủ gửi Quốc hội về sự án Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (sửa đổi) số 573/TTr-CP, ngày 26/20/2015, xem tại
<http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1142&TabIndex
=2&TaiLieuID=2303>
Trang 5quy định: “ Một điều ước là một thỏa thuận được ghi lại bằng văn bản giữa hai hoặc
nhiều Quốc gia hoặc tổ chức quốc tế từ đó thiết lập mối quan hệ theo Luật quốc tế giữa
nghĩa vụ của các quốc gia do đó chỉ có thể được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế nếu
thỏa thuận giữa các quốc gia hay tổ chức quốc tế mà ghi nhận luật điều chỉnh là một hệ thống pháp luật khác, ví dụ như pháp luật của một quốc gia nào đó, thì thỏa thuân này không phải là điều ước quốc tế Các thỏa thuận giữa các quốc gia hay tổ chức quốc tế thường được mặc nhiên xem như chịu điều chỉnh của luật pháp quốc tế, trừ khi có quy định hay thỏa thuận khác
Ở Việt Nam, luật điều ước quốc tế 2016 quy định: “Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác”.3
1.1.2 Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia ở Việt Nam Điều ước quốc tế là một trong các nguồn chính của luật pháp quốc tế bên cạnh tập
quán quốc tế và các nguyên tắc pháp luật chung.4 Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế (mà chủ yếu là các quốc gia) được luật pháp quốc
tế điều chỉnh bất kể tên gọi, hình thức của văn bản đó.5 Mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế
và pháp luật quốc gia thường được xem xét theo hai học thuyết về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật quốc gia: thuyết nhất nguyên luận (Moniste) và thuyết nhị nguyên luận (Dualise) Học thuyết thứ nhất coi pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống tách biệt hoàn toàn với nhau và chỉ có mối liên hệ với nhau ở một
2Yearbook of the international law commission 1950, (volume 2), UN Doc A/CN 4/SER.A/1950/Add 1 (6 June 1957), tr.223: “Article 1 As the term is used in this Convention (a) A " treaty " is an agreement recorded in writing between two or more States or international organizations which establishes a relation under international law between the parties thereto.”
3 Khoản 1, Điều 2 Luật Điều ước Quốc tế 2016.
4 Điều 38(1) Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ)
5 Điều 2(1)(a) Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 (Việt Nam phê chuẩn năm 2001), Điều 2(1)(a) Công
ước Viên về Luật Điều ước quốc tế giữa quốc gia và tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau năm 1986.
Trang 6mức độ nhất định, còn học thuyết thứ hai thì cho rằng, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai bộ phận cấu thành của một hệ thống thống nhất
1.1.2.1 Thuyết nhất nguyên luận
Theo thuyết nhất nguyên luận, Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia là hai bộ phận của cùng một hệ thống pháp lý, do đó các quy định của luật pháp quốc tế sẽ được áp dụng trực tiếp vào bên trong các quốc gia Nói cách khác, Điều ước quốc tế trở thành một nguồn chính thức của pháp luật quốc gia, có thể được viện dẫn, áp dụng trực tiếp bởi các
cơ quan, tổ chức, các nhân hay trước tòa án quốc gia
Học thuyết về sự ưu tiên của pháp luật quốc gia đặt chủ quyền của quốc gia lên trên hết Pháp luật quốc tế chỉ có giá trị áp dụng, nếu một quốc gia tự công nhận là nó có giá trị hiệu lực đối với mình Chủ nghĩa nhất nguyên luận sau này dựa trên quan điểm cho rằng, Luật quốc tế có trước Luật quốc gia Do đó, Luật quốc tế có vị trí ưu tiên hơn Luật quốc gia.6
1.1.2.2 Thuyết nhị nguyên luận
Khác với thuyết nhất nguyên luận, thuyết nhị nguyên luận cho rằng luật pháp quốc tế
và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp lý riêng biệt.7 Sự tách biệt này là do cách thức hình thành, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của luật pháp quốc tế khác biệt hẳn so với pháp luật quốc gia Do dây là hai hệ thống pháp lý riêng biệt nên không thể so sánh hiệu lực pháp lý của luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia Từ góc độ luật quốc tế thì pháp luật quốc gia có vị trí thấp hơn, ngược lại luật pháp quốc gia có thể công nhận hoặc không công nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế Luật pháp quốc tế nói chng chỉ quan tâm đến kết quả thực hiện các cam kết và xem các biện pháp cụ thể được áp dụng là hai vấn
đề nội bộ của từng quốc gia.8 Các quốc gia có thể tự do lựa chọn việc chp phép điều ước quốc tế có hiêu lực pháp lý trong hệ thống pháp luật quốc gia và được áp dụng trực tiếp hoặc không công nhận hiệu lực pháp lý của Điều ước quốc tế và thực hiện Điều ước quốc tế thông qua nội luật hóa các quy định này vào trong hệ thống pháp luật quốc gia
6Xem Nguyễn Bá Diến, Việc áp dụng điều ước quốc tế và quan hệ thứ bậc giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, Tạp chí Khoa học Kinh tế - Luật, số 3 (2003).
7 Malcolm N Shaw, International Law, 6th ed., Cambridge University Press, Cambridge, 2008, tr 131
8 Malcolm N Shaw, International Law, 1st ed., Cambridge University Press, Cambridge, 2003, tr 419
Trang 71.2 Lý luận chung về vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế
1.2.1 Khái niệm nội luật hóa
Ởcác nước, để thi hành điều ước quốc tế, người ta thường phải chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế đó thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành điều ước quốc tế trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế đó Quá trình chuyển hóa đó thường được gọi là chuyển hóa điều ước quốc tế hoặc nội luật hóa các điều ước quốc tế
Ở Việt Nam, có nhiều cách hiểu về nội luật hóa Cách hiểu thứ nhất cho rằng nội luật hóa là quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế Như vậy, theo quan điểm này thì nội luật hóa
đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước chấ nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế thì các quy định của điều ước có giá trị pháp lý và được áp dụng trên lãnh thổ quốc gia Cách hiểu thứ hai cho rằng nội luật hóa và quá trình chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế là hai khái niệm pháp lý khác nhau và có mối quan hệ tương đối độc lập với nhau: việc chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục pháp lý trong nước và thông qua đó thể hiện việc quốc gia tham gia điều ước chấp nhận việc áp dụng các quy định của điều ước đó đối với mình Trong khi đó, nội luật hóa là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cầm thiết để chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật trong nước để cho nội dung của các quy định của điều ước quốc tế chiếm toàn bộ hoặc đa
số phần nội dung của quy phạm pháp luật trong nước
1.2.2 Hình thức nội luật hóa
Thực chất, nội luật hóa điều ước quốc tế là quá trình chuyển hóa hiệu lực, cụ thể hóa quy định ghi trong điều ước quốc tế mà quốc gia đã kí kết để áp dụng không chỉ đối với quốc gia, mà còn đối với cả pháp nhân, thể nhân thuộc quốc gia đó Do đó, tùy thuộc vào từng điều ước quốc tế mà quốc gia thành viên có thể áp dụng nhiều hình thức để nội luật hóa điều ước quốc tế, cụ thể có các hình thức
Trang 8- Hình thức ban hành văn kiện nhà nước quy định các quy định trong điều ước quốc tế có hiệu lực áp dụng ở quốc gia thành viên
- Hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc sửa đổi, bổ sung quy định trong các văn bản pháp luật cụ thể hóa các quy định trong điều ước quốc tế Hình thức này tạo ra văn bản quy phạm pháp luật mới trong hệ thống pháp luật quốc gia hoặc làm thay đổi nội dung điều chỉnh của một số quy định trong văn bản pháp luật hiện hành
- Hình thức bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật hoặc một số quy định trong văn bản pháp luật quốc gia để phù hợp với yêu cầu của điều ước quốc tế Hình thức này khắc phục sự mâu thuẫn trong nội dung điều chỉnh của pháp luật quốc gia theo yêu cầu của quy định trong điều ước quốc tế
Cùng với tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã kí kết nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương Các điều ước này thường được nội luật hóa dưới nhiều hình thức, trong đó phần lớn được thực hiện bằng cách bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung quy định trong văn bản pháp luật để phù hợp với yêu cầu của điều ước quốc tế
1.2.3 Đặc điểm nội luật hóa điều ước quốc tế
Đặc điểm về thời gian xuất hiện
Quá trình nội luật hóa có thể diễn ra sớm hoặc muộn hơn quá trình thực hiện điều ước quốc tế Nó có thể được diễn ở các giai đoạn cụ thể như sau:
- Giai đoạn tạo lập thỏa thuận ý chí của các quốc gia hay các chủ thể khác nhau của luật quốc tế
- Giai đoạn công nhận hiệu lực bắt buộc của các quy phạm điều ước
- Giai đoạn thực hiện điều ước quốc tế
Đặc điểm của văn bản nội luật hóa
Văn bản nội luật hóa là văn bản quy phạm pháp luật trong nước, nhưng có một số nội dung pháp lý vốn là nội dung pháp lý của điều ước quốc tế có liên quan Nếu xét về mặt bản chất thì nội dung pháp lý của văn bản nội luật hóa đó có cội nguồn từ nội dung pháp luật của các can kết cần được thi hành của các nước liên quan
Đặc điểm của hiệu lực cưỡng chế của văn bản nội luật hóa
Trang 9Hiệu lực cưỡng chế của văn bản nội luật hóa điều ước quốc tế thể hiện ở chỗ văn bản đó là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, nó có hiệu lực cưỡng chế như các văn bản quy phạm pháp luật bình thường khác Tuy vậy, việc ban hành văn bản nội luật hóa dưới hình thức nào lại tùy thuộc vào sự quyết định của các cơ quan tỏng nước, căn cứ vào mô hình nội luật hóa, vào điều kiện cụ thể trong nước
Đặc điểm quan hệ so sánh giữa điều ước quốc tế pháp luật trong nước và quá trình nội luật hóa
Đây là vấn đề thường bị nhầm lẫn, thường bị bỏ qua trong nghiên cứu quan hệ tương tác giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Trong lý luận pháp luật quốc tế,
có các ý kiến khác nhau vê fmoois quan hệ giữa hai hệ thống pháp luật này, có quan điểm quá nghiêng về trường phái nhất nguyên luận (hệ thống này là bộ phận của hệ thống kia),
có quan điểm lại ở vào tình trạng dung hòa, nghiêng về trường phái nhị nguyên luận (hai
hệ thống đó độc lập với nhau nhưng có quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau) Chính những người có quan điểm theo nhị nguyên luận là những người quan tâm nhiều hơn về vấn đề chuyển hóa hay nội luật hóa điều ước quốc tế để thi hành
CHƯƠNG II THỰC HIỆN NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1 Các mô hình nội luật hóa các điều ước quốc tế ở Việt Nam
Mô hình “cách mạng”
Mô hình này đặt ra việc bãi bỏ các quy định cũ của pháp luật trong nước trái với nội dung cam kết quốc tế, sửa đổi những quy định pháp luật trong nước chưa phù hợp, bổ sung những quy định mà pháp luật trong nước chưa có ngay trong một thời gian ngắn bằng cách ban hành mới, sửa đổi, bổ sung những văn bản pháp luật hiện hành để thực thi đầy đủ các nội dung của điều ước quốc tế
Mô hình “cải lương”
Mô hình này còn được gọi là mô hình “chuyển hóa từ từ” đặt ra yêu cầu thay thế từng phần (chứ không bãi bỏ ngay) các quy định trong nước có nội dung trái với các cam
Trang 10kết quốc tế Sửa đổi dần từng phần các quy định trong nước có nội dung chưa phù hợp, căn cứ vào điều kiện cụ thể, bổ sung dần các quy định mà pháp luật trong nước chưa có khi điều kiện trong nước cho phép
Mô hình hỗn hợp
Thực chất đây là mô hình có sự kết hợp của hai mô hình nêu trên
Sự khác nhau giữa mô hình “cách mạng” và mô hình “cải lương” chủ yếu ở chỗ,
mô hình cách mạng sẽ tạo lập nhnah chóng, đồng bộ nền tảng pháp luật trong nước để thực thi ngay, thực thi đầy đủ các cam kết quốc tế, nhanh chóng đưa điề ước quốc tế vào cuộc sống nội bộ quốc gia Trong khi đó, mô hình cải lương thì tạo lập từ từ, theo từng khía cạnh của vấn đề pháp luật trong nước, dần dần đưa điều ước quốc tế vào thực thi trong nước Áp dụng mô hình cách mạng có mặt không lợi là dễ dẫn đến nhưng hậu quả nhất định trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, nhất là những cam kết quốc tế liên quan trực tiếp đến cuộc sống của đông đảo người dân Trong khi đó, áp dụng mô hình cải lương có thể không bị xáo trộn đời sống kinh tế, xã hội nhưng có thể phải tốn nhiều thời gian, mất cơ hội trong kinh doanh quốc tế, làm giảm niềm tin của cộng đồng thương mại quốc tế vào nước ký kết điều ước quốc tế
2.2 Cách thức nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam
Cách thức nội luật hóa hay nói cách khác là cách thức để chuyển hóa nội dung, yêu cầu trong các quy định của điều ước quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia phụ thuộc vào cách thức giải quyết mối quan hệ giữa luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế Trường pháp nhất nguyên luận xác định các thức nội luật hóa thông qua việc áp dụng trực tiếp Điều ước quốc tế Trong khi đó trường phái nhị nguyên luận cho rằng luật pháp quốc
tế và nội luật là hai hệ thống pháp luật tách biệt, Điều ước quốc tế chỉ có hiệu lực thi hành trong phạm vi quốc gia sau khi đã được chuyển hóa một cách thích hợp bằng văn bản pháp luật Mỗi trường phái có ưu điểm, khuyết điểm riêng và rõ ràng là các quốc gia cũng nhất thiết buộc phải theo cách thức nội luật hóa nào, miễn sao đảm bảo việc thực thi hiệu quả các cam kết trong các điều ước quốc tế