1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN LUẬT QUỐC TẾ NỘI LUẬT HOÁ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

15 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận Luật Quốc tế Nội Luật Hoá Điều Ước Quốc Tế Trong Pháp Luật Việt Nam
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 248,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục Mở đầu 3 Chương I. Lý luận chung về nội luật hoá điều ước quốc tế 4 1.1. Khái niệm 4 1.2. Các hình thức nội luật hoá điều ước quốc tế 4 Chương II. Nội luật hoá điều ước quốc tế đối với pháp luật Việt Nam trong một số lĩnh vực 5 2.1. Lĩnh vực quyền con người 5 2.2. Lĩnh vực kinh tế thương mại 7 2.3. Trong lĩnh vực môi trường 8 2.4. Lĩnh vực hình sự 9 Chương III. Nhận xét và kiến nghị 10 3.1. Nhận xét 10 3.2. Kiến nghị 11 Kết luận 13 Tài liệu tham khảo 14 Mở đầu Hội nhập kinh tế ngày nay đã trở thành một đòi hỏi mang tính tất yếu, khách quan đối với mọi quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Việt Nam đã và đang chủ động, tích cực tham gia quá trình hội nhập Để bảo đảm cho việc hội nhập được hiệu quả và phục vụ tốt nhất lợi ích của đất nước thì một điều chắc chắn là chúng ta cần phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật, trong đó có vấn đề nội luật hoá. Tuy nhiên thực tế thì hệ thống pháp luật nước ta nói chung, pháp luật trong hội nhập kinh tế nói riêng, vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Nhận thấy tính cấp thiết của đề tài, người viết chọn đề “Nội luật hoá điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam” làm đề tài kết thúc học phần Công pháp quốc tế của mình. Tiểu luận được nghiên cứu bằng phương pháp tổng – phân hợp, so sánh dựa trên nội dung tài liệu tham khảo và kiến thức, quan điểm của người viết. Bài tiểu luận gồm 3 chương chính: Chương I. Lý luận chung về nội luật hoá điều ước quốc tế Chương II. Nội luật hoá điều ước quốc tế trong một số lĩnh vực Chương III. Nhận xét và kiến nghị Chương I. Lý luận chung về nội luật hoá điều ước quốc tế 1.1. Khái niệm Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.1 ỞViệt Nam, có nhiều ý kiến khác nhau về “nội luật hoá”. Có thể nêu hai cách hiểu về khái niệm nội luật hoá như sau: Nội luật hoá là quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế. Như vậy, theo quan điểm này thì nội luật hoá đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước. Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế thì các quy định của điều ước quốc tế có giá trị pháp lý và được áp dụng trên lãnh thổ quốc gia. Nội luật hoá và quá trình chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế là hai khái niệm pháp lý khác nhau và có mối quan hệ tương đối độc lập với nhau: việc chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục pháp lý trong nước và thông qua đó thể hiện việc quốc gia tham gia điều ước chấp nhận việc áp dụng các quy định của điều ước đó đối với mình. Trong khi đó, nội luật hoá là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để chuyển hoá các quy phạm của điều ước quốc tế thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật trong nước để nội dung của các quy định của điều ước quốc tế chiếm toàn bộ hoặc đa số phần nội dung của quy phạm pháp luật trong nước. Như vậy, nội luật hoá trong khuôn khổ phạm vi đề tài có thể được hiểu là quá trình chuyển hóa các điều ước quốc tế thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành các điều ước quốc tế đó trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế. 1.2. Các hình thức nội luật hoá điều ước quốc tế Có nhiều hình thức để nội luật hoá, có thể kể đến một số hình thức sau: Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung, ban hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế. Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ 1Khoản 1, Điều 2, Luật Điều ước Quốc tế 2016 sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó. Trong công tác xây dựng pháp luật, theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là phải không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bên cạnh đó, ngay từ khâu đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định cũng quy định căn cứ đề nghị xây dựng phải dựa trên cam kết quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ nghiên cứu điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hay đối với dự thảo thông tư, trong quá trình thẩm định, một trong các nội dung mà cơ quan chủ trì thẩm định phải tập trung thẩm định là tính tương thích với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Đây cũng là một biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý quốc tế phát sinh từ điều ước quốc tế được tuân thủ nghiêm túc tại Việt Nam. Thứ hai, tiến hành chuyển hóa quy phạm của điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước. Nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mật thiết đến vấn đề nội luật hóa các điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước. Mục đích cơ bản của vấn đề chuyển hóa là bảo đảm thuận lợi cho việc thực hiện các điều ước quốc tế. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Trong bộ máy nhà nước, Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo các Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một bên ký kết. Như vậy, nhận thức về nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế đã đạt được sự thống nhất cao, được thể chế hóa thành pháp luật, tạo cơ sở thuận lợi cho việc chỉ đạo của Chính phủ và việc thực hiện của các cơ quan nhà nước. Chương II. Nội luật hoá điều ước quốc tế đối với pháp luật Việt Nam trong một số lĩnh vực 2.1. Lĩnh vực quyền con người Đối với Việt Nam, ngoài việc gia nhập 4 Công ước quốc tế Genève về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh (năm 1957), từ năm 1977, sau khi trở thành thành viên Liên hiệp quốc, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, cụ thể: Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), gia nhập ngày 2491982; Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966, gia nhập ngày 2491982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW) 1979, ký kết ngày 2971980, phê chuẩn ngày 1721982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1969, gia nhập ngày 961982; Công ước về Quyền Trẻ em 1989, ký kết ngày 2611990, phê chuẩn ngày 2821990 và hai Nghị định thư bổ sung về trẻ em trong xung đột vũ trang (ký kết ngày 892000, phê chuẩn ngày 20122001) và chống sử dụng trẻ em trong các hoạt động mại dâm và tranh ảnh khiêu dâm(ký kết ngày 892000, phê chuẩn ngày 20122001); Công ước về Quyền của Người khuyết tật 2006, ký ngày 22112007 và phê chuẩn ngày 522015; Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người, ký ngày 7112013 và phê chuẩn ngày 522015…Bên cạnh các điều ước quốc tế về quyền con người cơ bản nêu trên, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế khác liên quan đến việc bảo vệ quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế, như: Nghị định thư bổ sung Công ước Geneva về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế(gia nhập ngày 2881981); Công ước Quốc tế về Ngăn ngừa và Trừng trị Tội ác Diệt chủng 1948(gia nhập ngày 961981); Công ước Quốc tế về Ngăn chặn và Trừng trị Tội ác Apartheid 1973(gia nhập ngày 961981); Công ước Quốc tế về Không áp dụng những hạn chế luật pháp đối với các Tội phạm Chiến tranh và Tội ác chống Nhân loại 1968 (gia nhập ngày 461983); Công ước về Chống Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 2000 (ký kết ngày 13122000, phê chuẩn ngày 862012).2 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người như Luật Trách nhiệm Bồi thường của Nhà nước(2009), Luật Khám chữa bệnh(2009), Luật Lý lịch tư pháp (2009), Luật Người cao tuổi(2010), Luật Người khuyết tật(2010), Luật nuôi con nuôi(2010), Luật Thi hành án hình sự(2010), Luật Tố tụng hành chính(2010), Luật Khiếu nại(2011), Luật Tố cáo(2011), Luật Phòng, chống mua bán người (2011), Luật Công đoàn(2012), Luật Xử lý vi phạm hành chính(2012), Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật(2012)… Theo Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) năm 2018, Việt Nam thuộc nhóm Trung bình cao về Chỉ số phát triển con người (thứ 116189 quốc gia) và Chỉ số bình đẳng giới (đứng thứ 67160 quốc gia). Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam tiếp tục giảm, đặc biệt là trong các dân tộc thiểu số, với tỷ lệ giảm mạnh tới 13%, mức giảm lớn nhất trong thập niên vừa qua.3 2Đình Quang, Việt Nam tích cực tham gia và thực hiện nội địa hoá Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và các Công ước quốc tế về Nhân quyền, báo Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Sở tư pháp, ngày 27012022. 3Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung trả lời phỏng vấn báo chí về thành tựu của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người và những đóng góp của công tác đối ngoại về quyền con người trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Đóng góp của công tác đối ngoại về quyền con người trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế là Việt Nam coi trọng, tham gia đầy đủ tiến trình cơ chế rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người. Trong chu kỳ III, Việt Nam đã nhận được 291 khuyến nghị từ 122 nước và đã chấp thuận 241 khuyến nghị trong số đó. Cho đến nay, với chỉ 79 quốc gia từng ít nhất một lần nộp Báo cáo giữa kỳ tự nguyện, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia xây dựng báo cáo này.4 2.2. Lĩnh vực kinh tế thương mại Việt Nam đã tham gia ký kết, gia nhập nhiều công ước quốc tế như Công ước Paris, Thoả ước Marid, Nghị định thư Madrid, Công ước Berne,… Một số thành công trong lĩnh vực có thể kể đến như Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ 12007, xây dựng và rà soát hệ thống pháp luật đối với BTA5 và WTO, nội luật hoá FTA6 thế hệ mới. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 17 FTA song phương và đa phương, trong đó có một số FTA thế hệ mới như: CPTPPP, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu EU (EVFTA), FTA Việt Nam Hàn Quốc, FTA Việt Nam Liên minh kinh tế Á Âu, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực… So với các FTA trước đây, với mức độ cam kết chủ yếu tập trung vào chính sách thuế quan tại biên giới, các FTA thế hệ mới mà Việt Nam ký kết sau này có những cam kết sâu rộng, toàn diện hơn thể hiện ở các đặc điểm sau: Mức độ tự do hóa sâu với mức độ mở cửa thị trường cao thể hiện thông qua việc xóa bỏ phần lớn các dòng thuế. Trong CPTPP, Việt Nam cam kết xóa bỏ số dòng thuế ở mức cao, theo đó: 65,8% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; 86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 khi Hiệp định có hiệu lực; 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 khi Hiệp định có hiệu lực. Trong EVFTA, Việt Nam và EU cam kết sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99% số dòng thuế trong khoảng thời gian 7 năm đối với EU và 10 năm đối với Việt Nam. Phạm vi cam kết rộng, bao gồm những cam kết về nhiều lĩnh vực mới như: doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của chính phủ, lao động công đoàn, môi trường...Chứa đựng nhiều cam kết về thể chế, chính sách pháp luật nội địa (những vấn đề sau đường biên giới). Đối tác FTA thế hệ mới đặc biệt lớn, có thể kể đến những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam như: Mỹ, EU và Nhật Bản. Để nội luật hóa các cam kết trong Hiệp định Đối tác Toàn diện

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-0-0 -MÔN LUẬT QUỐC TẾ BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

NỘI LUẬT HOÁ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 2

Mục lục

Mở đầu 3

Chương I Lý luận chung về nội luật hoá điều ước quốc tế 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Các hình thức nội luật hoá điều ước quốc t ế .4

Chương II Nội luật hoá điều ước quốc tế đối với pháp luật Việt Nam trong một số lĩnh vực 5 2.1 Lĩnh vực quyền con người 5

2.2 Lĩnh vực kinh tế - thương mại 7

2.3 Trong lĩnh vực môi trường 8

2.4 Lĩnh vực hình sự 9

Chương III Nhận xét và kiến nghị 10

3.1 Nhận xét 10

3.2 Kiến nghị 11

Kết luận 13

Tài liệu tham khảo 14

Trang 3

Mở đầu

Hội nhập kinh tế ngày nay đã trở thành một đòi hỏi mang tính tất yếu, khách quan đối với mọi quốc gia trong giai đoạn phát triển mới Việt Nam đã và đang chủ động, tích cực tham gia quá trình hội nhập Để bảo đảm cho việc hội nhập được hiệu quả và phục vụ tốt nhất lợi ích của đất nước thì một điều chắc chắn là chúng ta cần phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật, trong đó có vấn đề nội luật hoá

Tuy nhiên thực tế thì hệ thống pháp luật nước ta nói chung, pháp luật trong hội nhập kinh tế nói riêng, vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống Nhận thấy tính cấp thiết của đề tài, người viết chọn đề

“Nội luật hoá điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam” làm đề tài kết thúc học phần Công pháp quốc tế của mình

Tiểu luận được nghiên cứu bằng phương pháp tổng – phân hợp, so sánh dựa trên nội dung tài liệu tham khảo và kiến thức, quan điểm của người viết Bài tiểu luận gồm 3 chương chính:

Chương I Lý luận chung về nội luật hoá điều ước quốc tế

Chương II Nội luật hoá điều ước quốc tế trong một số lĩnh vực

Chương III Nhận xét và kiến nghị

Trang 4

Chương I Lý luận chung về nội luật hoá điều ước quốc tế

1.1 Khái niệm

Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước

hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.1

ỞViệt Nam, có nhiều ý kiến khác nhau về “nội luật hoá” Có thể nêu hai

cách hiểu về khái niệm nội luật hoá như sau:

-Nội luật hoá là quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế Như vậy, theo quan điểm này thì nội luật hoá đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp

lý của điều ước Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước chấp nhận

sự ràng buộc của điều ước quốc tế thì các quy định của điều ước quốc tế có giá trị pháp lý và được áp dụng trên lãnh thổ quốc gia

-Nội luật hoá và quá trình chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế là hai khái niệm pháp lý khác nhau và có mối quan hệ tương đối độc lập với nhau: việc chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục pháp lý trong nước và thông qua đó thể hiện việc quốc gia tham gia điều ước chấp nhận việc áp dụng các quy định của điều ước đó đối với mình Trong khi đó, nội luật hoá là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để chuyển hoá các quy phạm của điều ước quốc tế thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật trong nước để nội dung của các quy định của điều ước quốc tế chiếm toàn bộ hoặc đa số phần nội dung của quy phạm pháp luật trong nước

Như vậy, nội luật hoá trong khuôn khổ phạm vi đề tài có thể được hiểu là quá trình chuyển hóa các điều ước quốc tế thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành các điều ước quốc tế đó trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế

1.2 Các hình thức nội luật hoá điều ước quốc t ế

Có nhiều hình thức để nội luật hoá, có thể kể đến một số hình thức sau:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung, ban hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện điều

ước quốc tế Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ

1 Khoản 1, Điều 2, Luật Điều ước Quốc tế 2016

Trang 5

sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó Trong công tác xây dựng pháp luật, theo quy định tại khoản 5 Điều

5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, một trong những

nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là phải không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên Bên cạnh đó, ngay từ khâu đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định cũng quy định căn cứ đề nghị xây dựng phải dựa trên cam kết quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ nghiên cứu điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hay đối với dự thảo thông tư, trong quá trình thẩm định, một trong các nội dung mà cơ quan chủ trì thẩm định phải tập trung thẩm định là tính tương thích với điều ước quốc tế mà Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Đây cũng là một biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý quốc tế phát sinh từ điều ước quốc tế được tuân thủ nghiêm túc tại Việt Nam

Thứ hai, tiến hành chuyển hóa quy phạm của điều ước quốc tế vào pháp luật

trong nước Nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mật thiết đến vấn đề nội luật hóa các điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước Mục đích cơ bản của vấn đề chuyển hóa là bảo đảm thuận lợi cho việc thực hiện các điều ước quốc tế Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập

Trong bộ máy nhà nước, Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo các Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là một bên ký kết Như vậy, nhận thức về nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế đã

đạt được sự thống nhất cao, được thể chế hóa thành pháp luật, tạo cơ sở thuận lợi cho việc chỉ đạo của Chính phủ và việc thực hiện của các cơ quan nhà nước

Chương II Nội luật hoá điều ước quốc tế đối với pháp luật Việt Nam trong một số lĩnh vực

2.1 Lĩnh vực quyền con người

Đối với Việt Nam, ngoài việc gia nhập 4 Công ước quốc tế Genève về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh (năm 1957), từ năm

1977, sau khi trở thành thành viên Liên hiệp quốc, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, cụ thể: Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), gia nhập ngày 24-9-1982; Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966, gia nhập ngày 24-9-1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước

Trang 6

CEDAW) 1979, ký kết ngày 29-7-1980, phê chuẩn ngày 17-2-1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1969, gia nhập ngày 9-6-1982; Công ước về Quyền Trẻ em 1989, ký kết ngày 26-1-1990, phê chuẩn ngày

28-2-1990 và hai Nghị định thư bổ sung về trẻ em trong xung đột vũ trang (ký kết ngày 8-9-2000, phê chuẩn ngày 20-12-2001) và chống sử dụng trẻ em trong các hoạt động mại dâm và tranh ảnh khiêu dâm(ký kết ngày 8-9-2000, phê chuẩn ngày 20-12-2001); Công ước về Quyền của Người khuyết tật 2006, ký ngày 22-11-2007 và phê chuẩn ngày 5-2-2015; Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người, ký ngày 7-11-2013 và phê chuẩn ngày 5-2-2015…Bên cạnh các điều ước quốc tế về quyền con người cơ bản nêu trên, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế khác liên quan đến việc bảo vệ quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế, như: Nghị định thư bổ sung Công ước Geneva về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế(gia nhập ngày 28-8-1981); Công ước Quốc tế về Ngăn ngừa và Trừng trị Tội ác Diệt chủng 1948(gia nhập ngày 9-6-1981); Công ước Quốc tế về Ngăn chặn và Trừng trị Tội ác Apartheid 1973(gia nhập ngày 9-6-1981); Công ước Quốc tế về Không áp dụng những hạn chế luật pháp đối với các Tội phạm Chiến tranh và Tội ác chống Nhân loại 1968 (gia nhập ngày 4-6-1983); Công ước về Chống Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 2000 (ký kết ngày 13-12-2000, phê chuẩn ngày 8-6-2012).2

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người như Luật Trách nhiệm Bồi thường của Nhà nước(2009), Luật Khám chữa bệnh(2009), Luật Lý lịch tư pháp (2009), Luật Người cao tuổi(2010), Luật Người khuyết tật(2010), Luật nuôi con nuôi(2010), Luật Thi hành án hình sự(2010), Luật Tố tụng hành chính(2010), Luật Khiếu nại(2011), Luật Tố cáo(2011), Luật Phòng, chống mua bán người (2011), Luật Công đoàn(2012), Luật Xử lý vi phạm hành

chính(2012), Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật(2012)…

Theo Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) năm 2018, Việt Nam thuộc nhóm Trung bình cao về Chỉ số phát triển con người (thứ

116/189 quốc gia) và Chỉ số bình đẳng giới (đứng thứ 67/160 quốc gia) Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam tiếp tục giảm, đặc biệt là trong các dân tộc thiểu số, với tỷ lệ giảm mạnh tới 13%, mức giảm lớn nhất trong thập niên vừa qua.3

2 Đình Quang, Việt Nam tích cực tham gia và thực hiện nội địa hoá Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và

các

Công ước quốc tế về Nhân quyền, báo Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Sở tư pháp, ngày 27/01/2022.

3 Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung trả lời phỏng vấn báo chí về thành tựu của Việt Nam trong việc thúc

Trang 7

đẩy quyền con người và những đóng góp của công tác đối ngoại về quyền con người trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Trang 8

Đóng góp của công tác đối ngoại về quyền con người trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế là Việt Nam coi trọng, tham gia đầy đủ tiến trình cơ chế rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người Trong chu kỳ III, Việt Nam đã nhận được 291 khuyến nghị từ 122 nước và đã chấp thuận 241 khuyến nghị trong số đó Cho đến nay, với chỉ 79 quốc gia từng ít nhất một lần nộp Báo cáo giữa kỳ tự nguyện, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia xây dựng báo cáo này.4

2.2 Lĩnh vực kinh tế - thương mại

Việt Nam đã tham gia ký kết, gia nhập nhiều công ước quốc tế như Công ước Paris, Thoả ước Marid, Nghị định thư Madrid, Công ước Berne,…

Một số thành công trong lĩnh vực có thể kể đến như Việt Nam là thành viên của

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ 1/2007, xây dựng và rà soát hệ thống pháp luật đối với BTA5 và WTO, nội luật hoá FTA6 thế hệ mới Hiện nay, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 17 FTA song phương và đa phương, trong đó có một số FTA thế hệ mới như: CPTPPP, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu EU (EVFTA), FTA Việt Nam - Hàn Quốc, FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực…

So với các FTA trước đây, với mức độ cam kết chủ yếu tập trung vào chính sách thuế quan tại biên giới, các FTA thế hệ mới mà Việt Nam ký kết sau này có những cam kết sâu rộng, toàn diện hơn thể hiện ở các đặc điểm sau: Mức độ tự

do hóa sâu với mức độ mở cửa thị trường cao thể hiện thông qua việc xóa bỏ phần lớn các dòng thuế Trong CPTPP, Việt Nam cam kết xóa bỏ số dòng thuế ở mức cao, theo đó: 65,8% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; 86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 khi Hiệp định có hiệu lực; 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 khi Hiệp định có hiệu lực Trong EVFTA, Việt Nam và EU cam kết sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99% số dòng thuế trong khoảng thời gian 7 năm đối với EU và 10 năm đối với Việt Nam Phạm vi cam kết rộng, bao gồm những cam kết về nhiều lĩnh vực mới như: doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của chính phủ, lao động - công đoàn, môi trường Chứa đựng nhiều cam kết về thể chế, chính sách pháp luật nội địa (những vấn đề sau đường biên giới) Đối tác FTA thế hệ mới đặc biệt lớn, có thể kể đến những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam như: Mỹ,

EU và Nhật Bản Để nội luật hóa các cam kết trong Hiệp định Đối tác Toàn diện

4 Hội thảo quốc tế tham vấn về dự thảo Báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị Việt Nam chấp thuận theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc

5 BTA - Bilateral Trade Agreement: Hiệp định song phương

6FTA - Free Trade Agreement: Hiệp định thương mại tự do

Trang 9

và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số

72/2018/QH14, trong đó nêu rõ việc cần thiết phải nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung một số văn bản luật như: Bộ luật Lao động năm 2012; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000; Luật An toàn thực phẩm năm 2010 7

Các bộ Luật liên quan trực tiếp đến WTO: Luật hàng không dân dụng Việt Nam (61/2014/QH13), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (68/2006/QH11), Luật công nghe thông tin (67/2006/QH11), Luật kinh doanh bất động sản

(66/2014/QH13), Luật quản lý ngoại thương (2017),…

2.3 Trong lĩnh vực môi trường

Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường Việt Nam đã tham gia các Công ước quốc tế về môi trường sau đây: Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế 1944, Thoả thuận về thiết lập uỷ ban nghề các Ấn

Ðộ dương - Thái bình dương 1948, Hiệp ước về Khoảng không ngoài vũ trụ

1967, Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (RAMSAR), 1971 (20/9/1988), Nghị định thư bổ sung công ước về các vùng ngập nước có tầm quan trọng, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước, Paris 1982, Công ước liên quan đến Bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên (19/10/1982), Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí hoá học, vi trùng và công việc tiêu huỷ chúng, Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa, 1973 (20/1/1994), Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL (29/8/1991), Công ước của Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường

(26/8/1980), Nghị định thư chữ thập đỏ liên quan đến bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (25/7/1994), Cam kết quốc tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng, FAO 1985, Công ước Viên về bảo vệ tầng ô-zôn, 1985 (26/4/1994), Công ước về thông báo sớm

sự cố hạt nhân, IAEA, 1985 (29/9/1987), Công ước về trợ giúp trong trường hợp

sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ, 1986, IAEA (29/9/1987), Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn, 1987 (26/1/1984), Bản bổ sung Luân đôn cho công ước, Luân đôn 1990, Bản bổ sung Copenhagen 1992, Thoả thuận về mang lưới các trung tâm thuỷ sản ở Châu Á - THÁI BÌNH DƯƠNG,

1988 (2/2/1989), Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng (13/5/1995), Công ước khung của Liên

7 Lê Thị Thúy (2017), Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: cơ hội và thách thức đối với Việt Nam, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Trang 10

Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, 1992 (16/11/1994), Công ước về Ða dạng sinh học, 1992 (16/11/1994).8

Việc tham gia các công ước quốc tế về kiểm soát ô nhiễm thể hiện chính sách

mở cửa của Việt Nam trong hợp tác quốc tế nhằm giải quyết những vấn đề ô nhiễm toàn cầu Các công ước mà Việt Nam tham gia kí kết cũng đã tạo ra khuôn khổ pháp lý quốc tế quan trọng cho sự hợp tác trên những lĩnh vực khác nhau giữa Việt Nam với các nước khác trên thế giới nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường của Việt Nam cũng như toàn cầu Trong điều kiện tích luỹ nội

bộ nền kinh tế còn thấp, việc tham gia các công ước quốc tế về kiểm soát ô nhiễm sẽ giúp cho Việt Nam có thêm nguồn lực cho công tác phòng chống ô nhiễm môi trường và cải thiện môi trường

2.4 Lĩnh vực hình sự

Ngày 28/11/2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 83/2014/QH13 phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (Công ước Chống tra tấn) Theo Nghị quyết số 83/2014/QH13, Việt Nam xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm phù hợp với các quy định của Công ước Chống tra tấn Để nội luật hóa các quy định này, trong lĩnh vực tố tụng hình sự, vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền công dân được quan tâm đặc biệt Cùng với những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo vệ quyền con người, quyền công dân cần nghiên cứu một cách thấu đáo và nghiêm túc các quy định của Công ước Chống tra tấn để nội luật hóa vào pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam

Bên cạnh đó, so với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung một số quy định nhằm nội luật hóa các quy định của Công ước Chống tra tấn như: (i) Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân” vào tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điểm b khoản 3 Điều 157, mức hình phạt từ năm năm tù đến 12 năm tù); (ii) Bổ sung hành vi khách quan

“dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào” vào tội dùng nhục hình (Điều 373) Điều luật cũng quy định nếu người phạm tội làm nạn nhân tự sát thì bị phạt tù từ bảy năm đến 12 năm (khoản 3); làm người bị nhục hình chết thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (khoản 4); (iii) Bổ sung tình tiết tăng nặng định khung vào tội bức cung (Điều 374) Trường hợp “dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, hỏi cung” sẽ bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm (khoản 2); phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Làm người bị bức cung chết; dẫn đến làm oan người vô tội; dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm

8 https://vinhyen.vinhphuc.gov.vn/ct/cms/chuyenmuc/moitruong/Lists/hoidap/View_Detail.aspx?

ItemID=321

Ngày đăng: 22/03/2023, 15:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w