Mục Lục Lời mở đầu 4 Nội Dung 5 Chương I: Cơ sở lý luận 5 1. Thế nào là “Nội luật hoá” ? 5 2. Thế nào là “ điều ước quốc tế”? 5 3. Thế nào là “nội luật hóa điều ước quốc tế”? 6 4. Các đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế 8 a. Tính thích nghi tùy biến 8 b. Tính đa dạng chủ thể 8 c. Tính mâu thuẫn nội tại 8 d. Tính ý chí quốc gia 9 e. Tính ảnh hưởng quốc tế 9 5. Mối quan hệ giữa Luật quốc tế và Luật quốc gia 10 Chương II: Vấn đề nội luật hoá các điều ước quốc tế tại Việt Nam12 1. Phương thức nội luật hoá điều ước quốc tế tại Việt Nam 12 2 2. Nội luật hóa điều ước quốc tế trong một số lĩnh vực tại Việt Nam 13 a. Trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 13 b. Trong lĩnh vực thương mại, ngoại thương 14 c. Trong lĩnh vực hình sự 15 d. Trong các vấn đề về quyền con người 16 e. Trong vấn đề về quyền trẻ em 16 3.Một số kiến nghị cho vấn đề nội luật hoá điều ước quốc tế tại Việt Nam 18 Kết luận 21 Danh mục tài liệu tham khảo: 22 3 Lời mở đầu Một trong những công cụ hữu hiệu để duy trì quyền lực nhà nước và phát huy những tính năng quan trọng của bộ máy nhà nước là pháp luật. Các hoạt động thuộc chức năng cơ bản của nhà nước được tóm gọn lại thành hai mặt chính, đó là hoạt động đối nội và hoạt động đối ngoại. Để thực hiện hai chức năng này, các Quốc gia thường sử dụng hai loại công cụ pháp lý khác nhau, được gọi là các thuật ngữ truyền thống, kinh điển và hiện đại, đó là luật trong nước và luật quốc tế. Mỗi quốc gia đều có hệ thống pháp luật của mình, và các quan hệ của cộng đồng các quốc gia được điều chỉnh bởi hệ thống thông luật, đó là luật quốc tế. Trong những năm qua, xu hướng nội luật hoá các điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước đang ngày càng được quan tâm và chú trọng bởi sự liên kết chặt chẽ giữ luật quốc tế với luật quốc gia. Chính những quy phạm pháp luật quốc tế trong các điều ước quốc tế này sẽ là điều kiện để đảm bảo cho việc thực hiện các quy phạm tương ứng của pháp luật quốc gia. Chính vì lẽ đó, em đã chọn “ Nội luật hoá các điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam” làm đề tài cho bài tiểu luận kết thúc học phần của mình. Trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi sai xót, em rất mong nhận được sự góp ý từ thầy cô để bài của em được hoàn thiện hơn. 4 Nội Dung Chương I: Cơ sở lý luận 1. Thế nào là “Nội luật hoá” ? Nội luật hóa là chuyển hoá quy định trong điều ước quốc tế thành quy phạm pháp luật có giá trị bất buộc thực hiện đối với tổ chức, cá nhân ở một quốc gia. Trong quan hệ quốc tế, điều ước quốc tế là hình thức thể hiện sự thoả thuận giữa các chủ thể luật quốc tế (chủ yếu là quốc gia). Theo nguyên tắc chung, các bên kí kết hoặc tham gia có nghĩa vụ thực hiện các quy định trong điều ước quốc tế. Tuy nhiên, các quy định này chỉ có giá trị bắt buộc thi hành đối với pháp nhân, thể nhân của bên kí kết hoặc tham gia điều ước quốc tế khi được nội luật hoá, nghĩa là khi các quy định trong điều ước quốc tế trở thành quy phạm pháp luật quốc gia. Khi thực hiện nội luật hóa, cần tuân thủ các nguyên tắc sau: •Nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật; •Nguyên tắc tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; •Nguyên tắc bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; đảm bảo tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật •Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật; •Nguyên tắc không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. 2.Thế nào là “ điều ước quốc tế”? 5 Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản, được kí kết giữa các chủ thể luật quốc tế, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó theo qui định luật quốc tế bao gồm một hay nhiều văn bản có quan hệ với nhau và không phụ thuộc vào tên gọi của văn bản. Theo quy định, thì một điều ước quốc tế có thể được đặt tên là Công ước hay có thể là Hiệp ước, Hiệp định, Hiến chương, Quy chế, Tuyên bố… Tên gọi của điều ước đó còn tùy theo sự thỏa thuận của các quốc gia tham gia vào Điều ước quốc tế mà không ảnh hưởng tới bản chất của văn bản được ký kết – sự ràng buộc tự nguyện đối với các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các quốc gia với nhau và sự chấp nhận ràng buộc đó cũng có thể được thể hiện ở những hành động khác nhau như “ký kết, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập, hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận như vậy Bản chất của điều ước quốc tế đó là các nước với sự thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp lí quốc tế giữa các nước với nhau, điều ước quốc tế được xem như là hình thức pháp lí cơ bản chứa đựng quy phạm Luật quốc tế để xây dựng và ổn định các cơ sở pháp luật cho các quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và phát triển. Điều ước quốc tế là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa các chủ thể, giữa gìn quan hệ bình đẳng giữa các quốc gia. Theo đó, điều ước quốc tế góp phần để đảm bảo pháp lí quan trọng cho quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể luật quốc tế. Ngoài ra điều ước quốc tế cũng là công cụ quan trọng để xây dựng khung pháp luật quốc tế hiện đại và bên cạnh đó cũng để tiến hành hiệu quả việc pháp điển hóa luật quốc tế, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được thực thi. 3. Thế nào là “nội luật hóa điều ước quốc tế”? Nội luật hóa điều ước quốc tế với cách hiểu thông dụng nhất là việc chuyển hóa các quy phạm điều ước vào hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực thi các cam kết quốc tế. Mặc dù vậy có nhiều lý do khiến cho khái niệm này đến nay vẫn mang 6 tính ước lệ cao. Bởi lẽ định nghĩa “nội luật hoá” chưa thực sự được định nghĩa rõ ràng. Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 cũng không nhắc trực tiếp đến vấn đề này. Việc tìm kiếm thuật ngữ tương đương trong các ngôn ngữ khác cũng không dễ dàng bởi ngay chính khái niệm “nội luật” hay “luật quốc gia” cũng đã có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau. Tại Việt Nam, nhiều tác giả đã đưa ra quan niệm của mình về nội luật hóa điều ước quốc tế nhưng không phải ai cũng sử dụng cách tiếp cận trực diện. Với những người xây dựng định nghĩa trực tiếp về nội luật hóa điều ước quốc tế thường diễn đạt khái niệm này theo mô típ sau: “Nội luật hóa điều ước quốc tế là hoạt động của (ai) nhằm mục đích (gì) thông qua những thao tác (nào)” Với cách tiếp cận nội luật hóa điều ước quốc tế như một thuật ngữ thay thế thường không đưa ra định nghĩa cụ thể mà “dẫn chiếu” khái niệm này tới những khái niệm khác được họ xử lý sâu. Ví dụ như: “Nội luật hóa là cách gọi khác của việc chuyển hóa quy phạm điều ước quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia” hoặc “nội luật hóa là cách áp dụng gián tiếp điều ước quốc tế”, đối lập với khả năng áp dụng trực tiếp. Vấn đề nằm ở chỗ, cách hiểu ở mỗi tác giả đã không giống nhau. Nội luật hóa điều ước quốc tế cần được nhìn nhận như là một hiện tượng pháp lý với những biểu hiện sống động có ý nghĩa cả trong đời sống thực tiễn cũng như dưới góc nhìn khoa học thay vì chỉ xem xét nó như là một quy trình kỹ thuật cứng nhắc. Nội luật hóa chính là chuyển hóa nhưng bao gồm cả sự chuyển hóa về tư cách, tạo ra giá trị áp dụng của bản thân quy phạm điều ước trong môi trường luật quốc gia trong trường hợp giá trị đó không mặc nhiên phát sinh lẫn sự chuyển hóa thực chất (tạo ra những quy phạm nội luật để đưa nội dung của quy phạm điều ước vào đời sống pháp luật quốc gia). Từ góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, theo tác giả nên định nghĩa về nội luật hóa ĐƯQT như sau: Nội luật hóa điều ước quốc tế là việc làm xuất hiện trong hệ thống pháp luật quốc gia những nguyên tắc, chế định hoặc quy phạm pháp luật có nội dung tương thích với nội dung của các điều ước quốc tế mà 7 quốc gia đó là thành viên cũng như tạo ra giá trị áp dụng cho các quy phạm điều ước quốc tế trong môi trường luật quốc gia thông qua một hoặc một số thao tác mang tính cá biệt của chủ thể trong nước có thẩm quyền. 4. Các đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế a. Tính thích nghi tùy biến Tính thích nghi tùy biến thể hiện ở việc nội luật hóa điều ước quốc tế không diễn ra một cách tuần tự, cố định, đều đặn, lặp đi lặp lại mà nó chỉ xuất hiện khi có yêu cầu nội luật hóa. Điều quan trọng hơn, quá trình ấy không chỉ thuần túy phụ thuộc vào yêu cầu nội luật hóa mà còn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố kinh tế – chính trị, lịch sử – địa lý khác. Nội luật hóa điều ước quốc tế do đó có sự biến động khó lường theo cả không gian và thời gian. b.Tính đa dạng chủ thể Ởgóc độ quốc tế, chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế phải là quốc gia thành viên của điều ước đó, sự chuyển hóa quy phạm điều ước dù bằng phương thức nào cùng đều nhằm thực thi một cách thực chất các cam kết mà quốc gia đã chấp nhận sự ràng buộc. Ởgóc độ quốc gia, chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế là những cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước có thẩm quyền liên quan đến các thao tác nội luật hóa được xác định trong pháp luật quốc gia. Chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế thường là những chủ thể có thẩm quyền lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp nhưng được giao thêm nhiệm vụ nội luật hóa trong phạm vi chức năng của mình chứ không phải là một cơ quan chuyên trách về công tác nội luật hóa. c. Tính mâu thuẫn nội tại Một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình nội luật hóa là việc làm triệt tiêu những xung đột nào đó trong việc lựa chọn áp dụng luật quốc tế hay luật quốc gia, nhưng ngược lại nó cũng rất dễ dẫn đến việc tạo ra những xung đột mới. Những xung đột, mâu thuẫn mới vô tình được tạo ra trong quá trình nội luật hóa 8 thậm chí còn có thể xuất hiện ngay trong bản thân hệ thống pháp luật quốc gia. Với nội dung hoàn toàn giống nhau, quy phạm gốc trong điều ước sẽ được áp dụng theo nguyên tắc về sự ưu tiên. Ở một góc độ khác, nội luật hóa điều ước quốc tế vừa là quá trình làm cho pháp luật quốc gia tương thích với pháp luật quốc tế nhưng đồng thời cũng là quá trình làm cho pháp luật quốc tế tương thích với pháp luật quốc gia.
Trang 1Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 2Mục Lục
Lời mở đầu 4
Nội Dung 5
Chương I: Cơ sở lý luận 5
1 Thế nào là “Nội luật hoá” ? 5
2 Thế nào là “ điều ước quốc tế”? 5
3 Thế nào là “nội luật hóa điều ước quốc tế”? 6
4 Các đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế 8
a Tính thích nghi tùy biến 8
b Tính đa dạng chủ thể 8
c Tính mâu thuẫn nội tại 8
d Tính ý chí quốc gia 9
e Tính ảnh hưởng quốc tế 9
5 Mối quan hệ giữa Luật quốc tế và Luật quốc gia 10
Chương II: Vấn đề nội luật hoá các điều ước quốc tế tại Việt Nam12 1 Phương thức nội luật hoá điều ước quốc tế tại Việt Nam 12
Trang 32 Nội luật hóa điều ước quốc tế trong một số lĩnh vực tại Việt Nam 13
a Trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 13
b Trong lĩnh vực thương mại, ngoại thương 14
c Trong lĩnh vực hình sự 15
d Trong các vấn đề về quyền con người 16
e Trong vấn đề về quyền trẻ em 16
3 Một số kiến nghị cho vấn đề nội luật hoá điều ước quốc tế tại Việt Nam 18
Kết luận 21
Danh mục tài liệu tham khảo: 22
Trang 4Lời mở đầu
Một trong những công cụ hữu hiệu để duy trì quyền lực nhà nước và phát huy những tính năng quan trọng của bộ máy nhà nước là pháp luật Các hoạt động thuộc chức năng cơ bản của nhà nước được tóm gọn lại thành hai mặt chính, đó là hoạt động đối nội và hoạt động đối ngoại Để thực hiện hai chức năng này, các Quốc gia thường sử dụng hai loại công cụ pháp lý khác nhau, được gọi là các thuật ngữ truyền thống, kinh điển và hiện đại, đó là luật trong nước và luật quốc tế Mỗi quốc gia đều có hệ thống pháp luật của mình, và các quan hệ của cộng đồng các quốc gia được điều chỉnh bởi hệ thống thông luật, đó là luật quốc tế
Trong những năm qua, xu hướng nội luật hoá các điều ước quốc tế vào phápluật trong nước đang ngày càng được quan tâm và chú trọng bởi sự liên kết chặt chẽ giữ luật quốc tế với luật quốc gia Chính những quy phạm pháp luật quốc tế trong các điều ước quốc tế này sẽ là điều kiện để đảm bảo cho việc thực hiện cácquy phạm tương ứng của pháp luật quốc gia
Chính vì lẽ đó, em đã chọn “ Nội luật hoá các điều ước quốc tế trong pháp luậtViệt Nam” làm đề tài cho bài tiểu luận kết thúc học phần của mình Trong quá trìnhthực hiện không thể tránh khỏi sai xót, em rất mong nhận được sự góp ý từ thầy cô
để bài của em được hoàn thiện hơn
Trang 5Nội Dung
Chương I: Cơ sở lý luận
1 Thế nào là “Nội luật hoá” ?
Nội luật hóa là chuyển hoá quy định trong điều ước quốc tế thành quy phạmpháp luật có giá trị bất buộc thực hiện đối với tổ chức, cá nhân ở một quốc gia Trong quan hệ quốc tế, điều ước quốc tế là hình thức thể hiện sự thoả thuận giữa các chủ thể luật quốc tế (chủ yếu là quốc gia)
Theo nguyên tắc chung, các bên kí kết hoặc tham gia có nghĩa vụ thực hiện các quy định trong điều ước quốc tế Tuy nhiên, các quy định này chỉ có giá trị bắt buộc thi hành đối với pháp nhân, thể nhân của bên kí kết hoặc tham gia điều ước quốc tế khi được nội luật hoá, nghĩa là khi các quy định trong điều ước quốc
tế trở thành quy phạm pháp luật quốc gia
Khi thực hiện nội luật hóa, cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
• Nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bảnquy phạm pháp luật;
• Nguyên tắc tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng,
ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
• Nguyên tắc bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; đảm bảo tính minh bạch trong các quy định củavăn bản quy phạm pháp luật
• Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật;
• Nguyên tắc không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam làthành viên
2 Thế nào là “ điều ước quốc tế”?
Trang 6Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản, được kí kết giữa các chủ thể luậtquốc tế, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó theo qui định luậtquốc tế bao gồm một hay nhiều văn bản có quan hệ với nhau và không phụ thuộcvào tên gọi của văn bản.
Theo quy định, thì một điều ước quốc tế có thể được đặt tên là Công ước hay
có thể là Hiệp ước, Hiệp định, Hiến chương, Quy chế, Tuyên bố… Tên gọi của điều ước đó còn tùy theo sự thỏa thuận của các quốc gia tham gia vào Điều ước quốc tế mà không ảnh hưởng tới bản chất của văn bản được ký kết – sự ràng buộc
tự nguyện đối với các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các quốc gia với nhau và sựchấp nhận ràng buộc đó cũng có thể được thể hiện ở những hành động khác nhau như “ký kết, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập, hoặc bằng mọi cáchkhác được thỏa thuận như vậy
Bản chất của điều ước quốc tế đó là các nước với sự thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp lí quốc tế giữa các nước với nhau, điều ước quốc tế được xem như là hình thức pháp lí cơ bản chứa đựng quy phạm Luật quốc tế để xây dựng
và ổn định các cơ sở pháp luật cho các quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và phát triển Điều ước quốc tế là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa các chủ thể, giữa gìn quan hệ bình đẳng giữa các quốc gia Theo đó, điều ước quốc tế góp phần để đảm bảo pháp lí quan trọng cho quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể luật quốc tế Ngoài ra điều ước quốc tế cũng là công cụ quan trọng để xây dựng khung pháp luật quốc tế hiện đại và bên cạnh đó cũng để tiến
hành hiệu quả việc pháp điển hóa luật quốc tế, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc
cơ bản của luật quốc tế được thực thi
3 Thế nào là “nội luật hóa điều ước quốc tế”?
Nội luật hóa điều ước quốc tế với cách hiểu thông dụng nhất là việc chuyển hóa các quy phạm điều ước vào hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực thi các cam kết quốc tế Mặc dù vậy có nhiều lý do khiến cho khái niệm này đến nay vẫn mang
Trang 7tính ước lệ cao Bởi lẽ định nghĩa “nội luật hoá” chưa thực sự được định nghĩa rõ ràng Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 cũng không nhắc trực tiếp đến vấn đề này Việc tìm kiếm thuật ngữ tương đương trong các ngôn ngữ khác cũng không dễ dàng bởi ngay chính khái niệm “nội luật” hay “luật quốc gia” cũng đã có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau.
Tại Việt Nam, nhiều tác giả đã đưa ra quan niệm của mình về nội luật hóa điều ước quốc tế nhưng không phải ai cũng sử dụng cách tiếp cận trực diện Với những người xây dựng định nghĩa trực tiếp về nội luật hóa điều ước quốc tế thườngdiễn đạt khái niệm này theo mô típ sau: “Nội luật hóa điều ước quốc tế là hoạt động của (ai) nhằm mục đích (gì) thông qua những thao tác (nào)”
Với cách tiếp cận nội luật hóa điều ước quốc tế như một thuật ngữ thay thế
thường không đưa ra định nghĩa cụ thể mà “dẫn chiếu” khái niệm này tới những khái niệm khác được họ xử lý sâu Ví dụ như: “Nội luật hóa là cách gọi khác của việc chuyển hóa quy phạm điều ước quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia” hoặc “nội luật hóa là cách áp dụng gián tiếp điều ước quốc tế”, đối lập với khả năng áp dụng trực tiếp Vấn đề nằm ở chỗ, cách hiểu ở mỗi tác giả đã không giống nhau
Nội luật hóa điều ước quốc tế cần được nhìn nhận như là một hiện tượng pháp
lý với những biểu hiện sống động có ý nghĩa cả trong đời sống thực tiễn cũng như dưới góc nhìn khoa học - thay vì chỉ xem xét nó như là một quy trình kỹ thuật cứngnhắc Nội luật hóa chính là chuyển hóa nhưng bao gồm cả sự chuyển hóa về tư cách, tạo ra giá trị áp dụng của bản thân quy phạm điều ước trong môi trường luật quốc gia trong trường hợp giá trị đó không mặc nhiên phát sinh lẫn sự chuyển hóa thực chất (tạo ra những quy phạm nội luật để đưa nội dung của quy phạm điều ước vào đời sống pháp luật quốc gia)
Từ góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, theo tác giả nên định nghĩa về nội luật hóa ĐƯQT như sau: Nội luật hóa điều ước quốc tế là việc làm xuất hiện trong hệ thống pháp luật quốc gia những nguyên tắc, chế định hoặc quy phạm pháp luật có nội dung tương thích với nội dung của các điều ước quốc tế mà
Trang 8quốc gia đó là thành viên cũng như tạo ra giá trị áp dụng cho các quy phạmđiều ước quốc tế trong môi trường luật quốc gia thông qua một hoặc một sốthao tác mang tính cá biệt của chủ thể trong nước có thẩm quyền.
4 Các đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế
a Tính thích nghi tùy biến
Tính thích nghi tùy biến thể hiện ở việc nội luật hóa điều ước quốc tế không diễn ra một cách tuần tự, cố định, đều đặn, lặp đi lặp lại mà nó chỉ xuất hiện khi có yêu cầu nội luật hóa Điều quan trọng hơn, quá trình ấy không chỉ thuần túy phụ
thuộc vào yêu cầu nội luật hóa mà còn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố kinh tế
– chính trị, lịch sử – địa lý khác Nội luật hóa điều ước quốc tế do đó có sự
biến động khó lường theo cả không gian và thời gian
b Tính đa dạng chủ thể
Ởgóc độ quốc tế, chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế phải là quốc giathành viên của điều ước đó, sự chuyển hóa quy phạm điều ước dù bằng phươngthức nào cùng đều nhằm thực thi một cách thực chất các cam kết mà quốc gia đãchấp nhận sự ràng buộc
Ởgóc độ quốc gia, chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế là những cá nhân,
cơ quan, tổ chức trong nước có thẩm quyền liên quan đến các thao tác nội luật hóađược xác định trong pháp luật quốc gia Chủ thể nội luật hóa điều ước quốc tế thường là những chủ thể có thẩm quyền lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp nhưng được giao thêm nhiệm vụ nội luật hóa trong phạm vi chức năng của mình chứ
không phải là một cơ quan chuyên trách về công tác nội luật hóa
c Tính mâu thuẫn nội tại
Một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình nội luật hóa là việc làm triệt tiêu những xung đột nào đó trong việc lựa chọn áp dụng luật quốc tế hay luật quốc gia, nhưng ngược lại nó cũng rất dễ dẫn đến việc tạo ra những xung đột mới Những xung đột, mâu thuẫn mới vô tình được tạo ra trong quá trình nội luật hóa
Trang 9thậm chí còn có thể xuất hiện ngay trong bản thân hệ thống pháp luật quốc gia Với nội dung hoàn toàn giống nhau, quy phạm gốc trong điều ước sẽ được áp dụng theo nguyên tắc về sự ưu tiên Ở một góc độ khác, nội luật hóa điều ước quốc tế vừa là quá trình làm cho pháp luật quốc gia tương thích với pháp luật quốc tế nhưng đồng thời cũng là quá trình làm cho pháp luật quốc tế tương thích với pháp luật quốc gia.
Tính ý chí được thể hiện ở việc nhà làm luật xác định điều kiện để một điều ước quốc tế có thể được nội luật hóa Tính ý chí thể hiện ở việc quốc gia có ý thứctrong việc giám sát sự thi hành các quy phạm “sau nội luật hóa” và xử lý các vi phạm Nói cách khác, tính ý chí nằm ở tính tự giác trong việc thực hiện pháp luật quốc tế của mỗi quốc gia sau khi đã tiến hành các thao tác nội luật hóa
e Tính ảnh hưởng quốc tế
Ký kết, gia nhập, thực hiện các điều ước quốc tế nói chung luôn gắn bó mậtthiết với các yếu tố chính trị quốc tế, do vậy, hoạt động nội luật hóa dù được tiếnhành bởi các chủ thể trong nước và thông qua các thao tác quy định bởi luật trongnước cũng vẫn luôn đưa tới những tác động vượt ra khỏi biên giới quốc gia
Về nguyên tắc, một khi quốc gia đã tự quy định nghĩa vụ nội luật hóa
cho mình thì phải có những biện pháp tích cực, khả thi để thực hiện nghiêm
chỉnh những quy định được chuyển hóa ấy
Trong quá trình nội luật hóa, việc không chuyển tải được chính xác nội dung
Trang 10của quy phạm điều ước (dịch sai, hiểu sai, giải thích sai) cũng có thể dẫn đến việcquốc gia cố ý hoặc vô ý vi phạm luật quốc tế.
Nguy cơ này ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, vị thế của quốc gia trêntrường quốc tế Bởi vậy, việc thực hiện ĐƯQT nói chung và nội luật hóa ĐƯQTnói riêng cần phải được thực hiện một cách khéo léo và thận trọng
5 Mối quan hệ giữa Luật quốc tế và Luật quốc gia
Sự hình thành và phát triển của luật quốc tế gắn liền với sự phát triển chungcủa nhà nước và pháp luật, nhưng xét trên phương diện lịch sử thì sự hình thànhcủa luật quốc tế xuất hiện muộn hơn so với luật quốc gia Luật quốc tế bắt đầu xuấthiện khi các quốc gia thiết lập quan hệ ngoại giao, ban đầu là quan hệ giữa cácnước láng giềng, dần dần được mở rộng và phát triển ra ngoài phạm vi khu vực,phát triển thành các quan hệ xã hội có tính liên khu vực hay cộng đồng quốc tếngày nay
Luật quốc gia ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển, quá trình xây dựng vàthực hiện luật quốc tế Trong quá trình xây dựng Luật quốc tế, các quốc gia luôn cốgắng tận dụng mọi cơ hội để gây ảnh hưởng đến Luật quốc tế và bảo vệ lợi ích củamình 1 cách tốt nhất trong mối tương quan với lợi ích của quốc gia khác và lợi íchchung của cộng đồng quốc tế Do đó, quá trình xây dựng Luật quốc tế phải xuấtphát từ lợi ích của mỗi quốc gia Đồng thời, sự hình thành các nguyên tắc và quyphạm pháp luật quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các quốc gia,
mà quan điểm của mỗi quốc gia trong quá trình thỏa thuận thương lượng đó phảidựa trên những nguyên tăc và quy phạm nền tảng của quốc gia mình Chính vì thế,pháp luật quốc gia thể hiện sự định hướng đến quá trình xây dựng luật quốc tế Vídụ: Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hê quốc tế;nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết đều bắt nguồn từ nguyên tắc cấm chiến tranhxâm lược lần đầu tiên được ghi nhận trong Sắc lệnh Hòa bình của Liên Xô năm1917
Trang 11Pháp luật quốc gia là đảm bảo pháp lý quan trọng để các nguyên tắc, quyphạm pháp luật quốc tế được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Bởi nghĩa
vụ của mỗi quốc gia khi tham gia quan hệ quốc tế là phải bảo đảm thực hiện Luậtquốc tế trong phạm vi quốc gia mình Bằng nhiều cách khác nhau, các quy phạmpháp luật quốc tế sẽ được chuyển hóa thành quy phạm pháp luật quốc gia và cóhiệu lực trong phạm vi Ví dụ: Luật quốc tế có Công ước quốc tế về quyền trẻ em
1989 Năm 1991, Việt nam đã ban hành Luật bảo vệ trẻ em nhằm pháp điển hóa cácquy định của lật quốc tế vào pháp luật quốc gia
Luật quốc tế có tác động đến sự phát triển và hoàn thiện của Luật quốc gia Luật quốc tế tác động trở lại đối với sự hình thành và phát triển của luật trong nước Điều này thể hiện ở chỗ: khi tham gia các quan hệ quốc tế, các quốc gia phải
có nghĩa vụ xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung pháp luật trong nước sao cho đảm bảo phù hợp với các cam kết quốc tế mà quốc gia là thành viên Chính vì vậy, các quy định có nội dung tiến bộ của Luật quốc tế sẽ dần được truyền tải vào trong pháp luật quốc gia Luật quốc gia còn tạo điều kiện đảm bảo cho pháp luật quốc gia trong quá trình thực hiện Cụ thể hiện nay, có nhiều vấn đề đã vượt qua khỏi phạm
vi điều chỉnh của quốc gia, trở thành vấn đề toàn cầu, tự bản thân mỗi quốc gia không thể giải quyết được mà cần có sự hợp tác quốc tế Ví dụ: vấn đề môi trường, tội phạm quốc tế, vũ khí hạt nhân Vì vậy, các quốc gia đã cùng nhau ký hàng loạt điều ước quốc tế để cùng nhau hợp tác giải quyết các vấn đề đó như: HU NewYork
về cấm thử hoàn toàn vũ khí hạt nhân; Quy chế Rome năm 1998 về thành lập Tòa hình sự QT ICC… Chính những quy phạm pháp luật quốc tế trong các điều ướcquốc tế này sẽ là điều kiện để đảm bảo cho việc thực hiện các quy phạm tương ứngcủa pháp luật quốc gia
Trang 12Chương II: Vấn đề nội luật hoá các điều ước quốc
tế tại Việt Nam
1 Phương thức nội luật hoá điều ước quốc tế tại Việt Nam
Khoản 1 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định: “Điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi
là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.”
Việc nội luật hóa tại Việt Nam thể hiện qua phương thức sau:
Đầu tiên là sửa đổi, bổ sung, ban hành luật để bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi chấp nhận sự ràng buộc của điều ước, đồng thời quyết định chỉ đạo áp dụng toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế, trực tiếp tuân theo yêu cầu, nội dung và tính chất của điều ước, áp dụng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện khi các quy định của điều ước quốc tế đủ rõ ràng, chi tiết; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thu hồi hoặc ban hành quy phạm pháp luật văn bản thực hiện điều ước quốc tế Trong công tác xây dựng pháp luật, theo quy định tại Điều 5 Khoản 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, một trong những
nguyên tắc xây dựng và công bố văn bản quy phạm pháp luật là không cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Ngoài ra, ngay từ khâu yêu cầu xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định cũng đã quy định
cơ sở đề xuất xây dựng phải dựa trên các cam kết quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ,nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chủ trì