1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ LUẬT HÓA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

17 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội Luật Hóa Các Điều Ước Quốc Tế Trong Pháp Luật Việt Nam
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hồng Thao
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Công Pháp Quốc Tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 673,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC I. ĐẶT VẤN ĐỀ: ..................................................................................................................... 2 II. MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC GIA: ............ 3 1. Thuyết nhất nguyên luận: .................................................................................................. 3 2. Thuyết nhị nguyên luận: ................................................................................................... 4 III. VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM VÀ HIỆU LỰC PHÁP LÝ: ...... 5 1. Nội luật hóa điều ước quốc tế ở Việt Nam: ...................................................................... 5 2. Hiệu lực pháp lý của ĐƯQT đối sánh với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam: ..... 6 2.1. Hiệu lực về thời gian: ............................................................................................... 7 2.2. Hiệu lực về không gian và đối tượng tác động: ........................................................ 8 IV. THỰC TIỄN ÁP DỤNG ĐƯQT Ở VIỆT NAM: ................................................................. 8 1. Thực tiễn áp dụng trực tiếp ĐƯQT ở Việt Nam: .............................................................. 9 2. Một số thực tiễn nội luật hóa ĐƯQT ở Việt Nam: ......................................................... 10 2.1. Nội luật hóa về bảo tồn động vật hoang dã: ........................................................... 10 2.2. Nội luật hóa quyền trẻ em: ..................................................................................... 11 2.3. Nội luật hóa các hiệp định tự do thương mại: ........................................................ 13 V. TIỂU KẾT: .......................................................................................................................... 13 1 I.ĐẶT VẤN ĐỀ: Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn xuất phát từ lợi ích chung của mọi quốc gia, mọi dân tộc và mọi cộng đồng; sự hình thành các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế cũng hoàn toàn phụ thuốc thỏa thuận giữa các bên. Nhưng, quan điểm của mỗi quốc gia trong quá trình thỏa thuận đó lại dựa trên cơ sở nguyên tắc và quy phạm của pháp luật quốc gia. Do đó, khi trả lời phỏng vấn sau lần đầu tiên trúng cử ILC, PGS.TS Nguyễn Hồng Thao đã nhận định rằng: “Luật pháp quốc tế là bảo vệ con người”1 Thật vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ảnh hưởng, tác động đến nhau trong nhiều phạm trù với nhiều chuyên ngành chuyên sâu để phục vụ “lợi ích”, nhưng ta cần hiểu: “lợi ích”, mục tiêu cuối cùng chính là để bảo vệ, phục vụ quyền con người. Bên cạnh đó, Việt Nam là đất nước xã hội chủ nghĩa, hay xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa vào những quyền lợi chính đáng của con người2; nên những đặc trưng của xã hội chủ nghĩa đã ảnh hướng sâu sắc đến tư duy pháp lý của Việt Nam, nội luật hóa ở Việt Nam chính là để phục vụ những mục đích này. Do mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn cách thức trực tiếp hoặc gián tiếp hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế (ĐƯQT) tùy vào mục tiêu lợi ích3, nên Việt Nam đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa áp dụng trực tiếp và nội luật hóa các ĐƯQT. Chính vì vậy, bài luận này muốn hướng tới phân tích mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nói chung; từ đó phân tích thực tiễn áp dụng điều ước quốc tế tại Việt Nam để bảo vệ con người nói riêng. 1Tham khảo đường link: https:baoquocte.vnpgstsnguyenhongthaoluatphapquoctelabaoveconnguoi153104.html 2Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, bài đăng trên web cand.com.vn ngày 16052021. 3Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Công pháp quốc tế, Nxb. ĐHQGHN tr.57. 2 AI.MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC GIA: Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của pháp luật quốc tế bên cạnh tập quán quốc tế và nguyên tắc pháp luật chung. Theo Công ước Viên (CƯV) năm 1969: “Điều ước quốc tế là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh…”. Và mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia thường được xem xét theo quan điểm của thuyết nhất nguyên luận và thuyết nhị nguyên luận. 1.Thuyết nhất nguyên luận: Thuyết nhất nguyên luận quan niệm, ĐƯQT và pháp luật quốc gia là hai bộ phận trong cùng một hệ thống pháp lý và các quy định của luật quốc tế sẽ được áp dụng trực tiếp trong quốc gia4. Chính vì vậy, quan điểm này công nhận ĐƯQT là nguồn chính thức của pháp luật quốc gia; các quốc gia chỉ cần quy định nguyên tắc chung công nhận hiệu lực của ĐƯQT. Trên thế giới, có một số quốc gia áp dụng thuyết nhất nguyên luận có thể kể đến như Nga, Thụy Sỹ, Mỹ và Mexico5. Tiếp đến, hiệu lực pháp lý của ĐƯQT theo thuyết nhất nguyên luận có 2 quan điểm chính: trường phái ưu tiên luật quốc tế và trường phái ưu tiên luật quốc gia. Trường phái ưu tiên luật quốc tế có thể hiểu là xem luật pháp quốc tế có hiệu lực pháp lý cao hơn so với pháp luật quốc gia6. Quan điểm này cho rằng pháp luật quốc gia có hiệu lực thấp hơn hẳn so với ĐƯQT và sẽ không được viện dẫn quy định pháp luật để biện minh cho việc không thực hiện ĐƯQT (trừ các quy định mang tính hiến định của quốc gia) vì ĐƯQT luôn được áp dụng thẳng. Ngoại lệ duy nhất được chấp nhận là: Điều 46 CƯV năm 1969 quy định, một quốc gia có thể tuyên bố ĐƯQT vô hiệu nếu như ĐƯQT đó vi phạm các quy định có tính chất quan trọng, nền tảng của một quốc gia (chính là các quy định mang tính hiến định) nhưng, quan điểm này vẫn chưa được chấp nhận hoàn toàn. Xét quan điểm thứ hai về trường phái ưu tiên luật quốc gia: các học giả chỉ có thể lập luật rằng Điều 27 và 46 không có nghĩa là CƯV thừa nhận 4Malcolm N. Shaw, International Law, 6th ed, Cambridge University Press, năm 2008 tr. 131. 5Trần Hữu Duy Minh, Hiệu lực pháp lý và việc áp dụng điều ước quốc tế ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3(189) (032016), tr. 38 – 46. 6Nguyễn Bá Diến, Việc áp dụng điều ước quốc tế và quan hệ thứ bậc giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, Tạp chí Khoa học Kinh tế – Luật, số 3 (2003). 3 hiệu lực pháp lý của pháp luật quốc tế cao hơn pháp luật quốc gia7. Thực tiễn lịch sử quan hệ quốc tế cũng chứng minh, mọi mối quan hệ quốc tế đều nhằm mục đích lợi ích nên tùy thuộc vào hoàn cảnh và giai đoạn mà các nhà lý luận đề cao quan điểm. Tuy nhiên, trường phái ưu tiên luật quốc tế đang có phần cao hơn vì các ĐƯQT đều là các văn bản được các bên thỏa thuận rõ ràng, mạch lạc; các quốc gia áp dụng trực tiếp các ĐƯQT nhằm phục vụ xu hướng hội nhập quốc tế, 2. Thuyết nhị nguyên luận: Nếu thuyết nhị nguyên luận cho rằng pháp luật quốc tế là cùng một hệ thống thì thuyết nhị nguyên luận cho rằng luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia là hai hệ thống riêng biệt, độc lập. Quan điểm này nhận định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia không điều chỉnh chung đối tượng và phương pháp điều chỉnh cũng khác nhau. Do đó, không có sự so sánh hiệu lực pháp lý của ĐƯQT vì đây được khẳng định là hai hệ thống. Nên, từ góc độ pháp luật quốc tế thì pháp luật quốc gia có vị trí thấp hơn và ngược lại. Xét quan điểm của thuyết nhị nguyên luận về Điều 27 CƯV, CƯV chỉ đặt ra nghĩa vụ thực hiện ĐƯQT chứ không áp đặt cách thực hiện. Chính vì vậy, các quốc gia tự do lựa chọn cách cho pháp ĐƯQT có hiệu lực phù hợp với pháp luật quốc gia của mình. Các quốc gia có thể chọn áp dụng trực tiếp như thuyết nhất nguyên luận hoặc thực hiện ĐƯQT thông qua nội luật hóa các quy định này. Và, các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng thuyết nhị nguyên luận chỉ cần tuân thủ những quy định mà pháp luật quốc gia đó công nhận. Trong trường hợp quốc gia quy định trái ngược với ĐƯQT, chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý ở đây sẽ là quốc gia đó, còn các cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải chịu bất kì trách nhiệm nào vì không vi phạm pháp luật quốc gia. Anh, Canada, Ấn Độ và Israel là một số nước áp dụng thuyết nhị nguyên luận8. 7Trần Hữu Duy Minh, Hiệu lực pháp lý và việc áp dụng điều ước quốc tế ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3(189) (032016), tr. 38 – 46. 8Duncan B. Hollis, Merrit R. Balkeslee L. Benjamin Ederington, sđd, tr. 100 (Canada), tr. 355 – 360 (Ấn Độ), tr. 396 – 398(Israel) và tr. 742 – 743 (Anh). 4 BI.VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM VÀ HIỆU LỰC PHÁP LÝ: 1.Nội luật hóa điều ước quốc tế ở Việt Nam: Đối với những nước ĐƯQT không tự động có hiệu lực pháp lý thì hệ thống pháp luật quốc gia mà cần nội luật hoá thông qua việc bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hay ban hành các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nội luật hóa điều ước quốc tế theo cách hiểu thông dụng nhất là việc chuyển hóa các quy phạm điều ước vào hệ thống pháp luật quốc gia nhằm để thực thi các cam kết quốc tế9. Nội luật hóa ĐƯQT cần được nhìn nhận như là một hiện tượng pháp lý với những biểu hiện sống động thay vì luôn coi nó là một quy trình cứng nhắc. Nội luật hóa ĐƯQT là việc làm xuất hiện trong hệ thống quốc gia các nguyên tắc, chế định hoặc quy phạm phạm luật có nội dung tương thích với nội dung của các ĐƯQT, điều này giúp ĐƯQT phù hợp với quốc gia cũng như tạo ra giá trị áp dụng ĐƯQT. Cụ thể, các đặc điểm của nội luật hóa ĐƯQT như sau: Tính thích nghi tùy biến: thể hiện bởi việc nội luật hóa không phải là quá trình tuần tự, cố định mà phụ thuộc vào sự chi phối của các yếu tố trong quốc gia đó. Thậm chí, ở mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cũng có thể có cách nội luật hóa khác nhau. Tính đa dạng chủ thể: chủ thể nội luật hóa ĐƯQT phải là quốc gia thành viên của điều ước đó và đều có nhiệm vụ thực thi một các cam kết mà quốc gia đã chấp nhận. Do mỗi quốc gia, chủ thể nội luật hóa ĐƯQT có quy định khác nhau về vấn đề ký kết nên việc thực hiện ĐƯQT nói chung không thể hoàn toàn giống nhau. Hay, các chủ thể này thường là những chủ thể có thẩm quyền lập pháp ở các quốc gia và được giao thêm việc nội luật hóa chứ không phải một cơ quan chuyên trách về công việc này. Tính mâu thuẫn nội tại: việc nội luật hóa thường cố gắng để làm triệt tiêu các xung đột giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Thực tế, trường hợp xảy ra ở các nước hay là ĐƯQT được áp dụng trực tiếp nhưng sau đó lại được chuyển hóa thành các quy phạm luật trong nước tạo nên sự xung đột. Ngoài ra, việc nội luật hóa quá nôn nóng, 9Phạm Vĩnh Hà, Nhận diện các đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế dưới tư cách một hiện tượng pháp lý, bài đăng trên web Luật sư Việt Nam ngày 22102020. 5 vội vàng cũng sẽ dẫn đến hiệu ứng xã hội bất lợi, các tổ chức, cá nhân không thể thích nghi kịp với quá nhiều quy định mới. Tính ý chí quốc gia: việc chuyển hóa các quy phạm điều ước quốc tế thể hiện rất rõ ý chí của quốc gia. Trước hết, quốc gia có quy định các thủ tục để tiến hành nội luật hóa hay không cũng đã thể hiện ý chí của quốc gia đó. Tiếp đến, việc nội luật hóa căn cứ vào lĩnh vực mà điều ước tác động hay căn cứ vào tính chất của toàn bộ điều ước. Cuối cùng, ý chí của quốc gia còn ở việc giám sát việc thi hành các quy phạm sau khi được nội luật hóa, các quốc gia có thể điều chỉnh nội dung luật quốc tế để tạo ra sự tương thích tối ưu. Tính ảnh hưởng quốc tế: quốc gia tự quy định nghĩa vụ nội luật hóa cho mình để khả thi việc chuyển hóa, tránh chậm trễ, miễn cưỡng. 2.Hiệu lực pháp lý của ĐƯQT đối sánh với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam: Trước hết, nguyên tắc pacta sunt servanda là vấn đề nền tảng để xem xét trước khi đi vào phân tích thực chất hiệu lực của ĐƯQT. Nguyên tắc này được giải thích cụ thể tại Nghị quyết 2625 của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Theo đó, nội dung chính của nguyên tắc quy định về việc các quốc gia có nghĩa vụ pháp lý phải thiện chí thực thi các nghĩa vụ của mình theo luật pháp quốc tế, bất kể các nghĩa vụ đó được ghi nhận trong nguồn nào. Và, các nghĩa vụ có thể được ghi nhận trong một điều ước quốc tế, trong tập quán quốc tế, trong các nguyên tắc pháp luật chung hay các nguồn khác của luật quốc tế. Chốt lại: nguyên tắc pacta sunt servanda là để thể hiện cơ chế thực thi các nghĩa vụ của toàn bộ hệ thống pháp luật quốc tế 10. Mặt khác, trong cùng hệ thống pháp luật quốc gia, VBQPPL có thứ bậc rõ ràng; trong khi luật pháp quốc tế xem các ĐƯQT có giá trị pháp lý ngang nhau. Có sự khác biệt ở chỗ, giữa các ĐƯQT không có sự phân biệt cao thấp dù mục đích và chủ thể xây dựng nên những ĐƯQT là rất khác nhau và thông lệ quốc tế cũng chỉ ra rõ ràng một số nguyên tắc trong việc xác lập trật tự áp dụng các ĐƯQT chứ không phải là xác lập trật tự thứ bậc11. Cụ thể hơn, các xung đột hiện đang tồn tại như sau: 10Trần Hữu Duy Minh, Công ước Viên 1969: Hiệu lực của điều ước quốc tế, bài đăng trên web iucogens. 11Nguyễn Thị Thuận, Giải quyết vấn đề xung đột về hiệu lực giữa các điều ước quốc tế, Tạp chí Luật học, số 6, năm 2005, tr. 5256. 6 2.1. Hiệu lực về thời gian: Trước hết, ĐƯQT đang có hiệu lực cũng có thể bị tạm đình chỉ như các VBQPPL của quốc gia nếu có vấn đề phát sinh. Cụ thể, với VBQPPL: có thể ngưng hiệu lực trong trường hợp có dấu hiệu trái pháp luật hoặc giải quyết các vấn đề bất ngờ phát sinh trong một thời gian nhất định. Đối với ĐƯQT: tạm đình chỉ điều ước (giữa các bên tham gia kí kết) trong trường hợp có hành vi vi phạm nghiêm trọng điều ước của một bên hoặc có sự thay đổi của hoàn cảnh12. Xét điểm khác nhau giữa ĐƯQT và VBQPPL: ĐƯQT được áp dụng hiệu lực ứng trước hay áp dụng tạm thời trong thời gian hoàn thành thủ tục còn VBQPPL thì không. Tuy nhiên, VBQPPL lại có quy định hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố) và ĐƯQT thì không có hiệu lực này. Thực chất, việc áp dụng hiệu lực ứng trước ĐƯQT để điều chỉnh các quan hệ xã hội xảy ra trước thời điểm điều ước đó có hiệu lực. Tiếp đến, trong quy trình rút gọn: ĐƯQT sẽ tập trung vào việc giản lược hoặc tiến hành đồng thời các bước thủ tục; còn quy trình rút gọn đối với VBQPPL lại là rút ngắn các thời hạn, hay các bước thủ tục vẫn phải giữ nguyên, không được giản lược. Chính vì vậy, ta có thể thấy việc áp dụng quy trình rút gọn đối với ĐƯQT chủ yếu làm gọn nhẹ, đơn giản hơn các bước chứ không nhằm mục đích áp dụng hiệu lực sớm. Đối với VBQPPL được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì hoàn toàn có thể có hiệu lực sớm hơn, ngay kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành. Bên cạnh đó, trong ĐƯQT có cơ chế mà VBQPPL không có hoặc không giống với ĐƯQT là: cơ chế bảo lưu và cơ chế gia hạn. Bảo lưu có thể hiểu là việc các bên tham gia ký kết, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập ĐƯQT nhiều bên để tránh làm thay đổi hiệu lực của ĐƯQT. VBQPPL không có cơ chế bảo lưu vì các quy định sẽ luôn phát sinh hiệu lực vào cùng một thời điểm với nhau. Với cơ chế gia hạn, khi ĐƯQT hết hiệu lực mà các bên vẫn muốn tiếp tục thì họ có thể tiến hành gia hạn điều ước tự động hoặc có điều kiện. Mặc dù trên thực tế, vẫn có khả năng một VBQPPL (hoặc một phần nội dung của nó) phải chấm dứt hiệu lực, song, chúng vẫn được được giữ lại trong một thời hạn nhất định (hiệu lực chuyển tiếp), tuy nhiên, 12Phạm Vĩnh Hà, Lê Thị Ngọc Mai, Hiệu lực pháp lý của điều ước Quốc tế đối sánh với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, bài đăng trên tapchitoaan.vn ngày 29062018. 7 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 không đề cập đến việc gia hạn này. Nhận thấy, lý giải ít có VBQPPL tự quy định thời điểm hết hiệu lực dựa vào tình hình thực tiễn; còn việc ĐƯQT có thời hạn tồn tại lại phổ biến vì ĐƯQT hay đặt thời gian để phấn đấu mục tiêu. Không thể phủ nhận, rất hãn hữu có VBQPPL tự quy định “ngày khai tử” của mình trong điều khoản thi hành và ngược lại, có khá nhiều các ĐƯQT có thời hạn bên cạnh các ĐƯQT vô hạn. 2.2. Hiệu lực về không gian và đối tượng tác động: Phạm vi hiệu lực của các VBQPPL và ĐƯQR giống nhau nhau về bản chất rộng khắc. Nếu các ĐƯQT có hiệu lực đối với tất cả các bên tham gia cam kết thì các VBQPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực ở phạm vi cả nước; suy rộng ra, ĐƯQT có hiệu lực trên phạm vi toàn lãnh thổ của toàn các quốc gia tham gia giống như các VBQPPL. Vẫn sẽ xảy ra các trường hợp ngoại lệ đối với ĐƯQT: phạm vi tác động có thể mở rộng hoặc thu hẹp; VBQPPL cũng có những ngoại lệ so với nguyên tắc chung, song chỉ theo hướng thu hẹp lại. Hiệu lực về đối tượng tác động thể hiện sự khác biệt khá lớn giữa ĐƯQT và VBQPPL do đặc điểm của từng loại văn bản. Theo quy định, VBQPPL có hiệu lực tác động được đến tất cả những cá nhân, tổ chức trên vùng lãnh thổ nếu như không có sự tự giới hạn13. Nhưng, ĐƯQT lại phải phụ thuộc vào nội dung và cách thức thực hiện của từng điều ước vì không phải các vấn đề sẽ xảy ra chung ở tất cả các quốc gia. Ngoài ra, “ĐƯQT có liên quan” có thể là căn cứ làm thay đổi hiệu lực về không gian (và cả đối tượng tác động) của VBQPPL trong nước vì tất cả các quy định trong điều ước có hiệu lực khi được công nhận bởi tất cả các quốc gia tham gia kí kết. Ở hướng ngược lại: quy định của quốc gia không thể làm thay đổi hiệu lực của ĐƯQT mà thường có xu hướng tuân theo nó ( Quy định tại khoản 1, Điều 155 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).

Trang 1

KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

-0-0 -NỘI LUẬT HÓA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC

TẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

MÔN HỌC: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ: 2

II MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC GIA: 3

1 Thuyết nhất nguyên luận: 3

2 Thuyết nhị nguyên luận: 4

III VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM VÀ HIỆU LỰC PHÁP LÝ: 5

1 Nội luật hóa điều ước quốc tế ở Việt Nam: 5

2 Hiệu lực pháp lý của ĐƯQT đối sánh với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam: 6

2.1 Hiệu lực về thời gian: 7

2.2 Hiệu lực về không gian và đối tượng tác động: 8

IV THỰC TIỄN ÁP DỤNG ĐƯQT Ở VIỆT NAM: 8

1 Thực tiễn áp dụng trực tiếp ĐƯQT ở Việt Nam: 9

2 Một số thực tiễn nội luật hóa ĐƯQT ở Việt Nam: 10

2.1 Nội luật hóa về bảo tồn động vật hoang dã: 10

2.2 Nội luật hóa quyền trẻ em: 11

2.3 Nội luật hóa các hiệp định tự do thương mại: 13

V TIỂU KẾT: 13

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn xuất phát từ lợi ích chung của mọi quốc gia, mọi dân tộc và mọi cộng đồng; sự hình thành các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế cũng hoàn toàn phụ thuốc thỏa thuận giữa các bên Nhưng, quan điểm của mỗi quốc gia trong quá trình thỏa thuận đó lại dựa trên cơ sở nguyên tắc và quy phạm của pháp luật quốc gia Do đó, khi trả lời phỏng vấn sau lần đầu tiên trúng cử ILC, PGS.TS Nguyễn Hồng Thao đã nhận định rằng:

“Luật pháp quốc tế là bảo vệ con người”1 Thật vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ảnh hưởng, tác động đến nhau trong nhiều phạm trù với nhiều chuyên ngành chuyên sâu để phục vụ “lợi ích”, nhưng ta cần hiểu:

“lợi ích”, mục tiêu cuối cùng chính là để bảo vệ, phục vụ quyền con người Bên cạnh đó, Việt Nam là đất nước xã hội chủ nghĩa, hay xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa vào những quyền lợi chính đáng của con người2; nên những đặc trưng của xã hội chủ nghĩa đã ảnh hướng sâu sắc đến tư duy pháp lý của Việt Nam, nội luật hóa ở Việt Nam chính là để phục vụ những mục đích này Do mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn cách thức trực tiếp hoặc gián tiếp hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế (ĐƯQT) tùy vào mục tiêu lợi ích3, nên Việt Nam đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa áp dụng trực tiếp và nội luật hóa các ĐƯQT Chính vì vậy, bài luận này muốn hướng tới phân tích mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nói chung; từ đó phân tích thực tiễn áp dụng điều ước quốc tế tại Việt Nam để bảo vệ con người nói riêng

1 Tham khảo đường link: https://baoquocte.vn/pgsts-nguyen-hong-thao-luat-phap-quoc-te-la-bao-ve-con-nguoi-153104.html

2 Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt

Nam, bài đăng trên web cand.com.vn ngày 16/05/2021.

3 Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Công pháp quốc tế, Nxb ĐHQGHN tr.57.

2

Trang 4

II MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT

QUỐC GIA:

Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của pháp luật quốc tế bên cạnh tập quán quốc tế và nguyên tắc pháp luật chung Theo Công ước Viên (CƯV) năm 1969: “Điều ước quốc tế là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh…” Và mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia thường được xem xét theo quan điểm của thuyết nhất nguyên luận và thuyết nhị nguyên luận

1 Thuyết nhất nguyên luận:

Thuyết nhất nguyên luận quan niệm, ĐƯQT và pháp luật quốc gia là hai bộ phận trong cùng một hệ thống pháp lý và các quy định của luật quốc tế sẽ được áp dụng trực tiếp trong quốc gia4 Chính vì vậy, quan điểm này công nhận ĐƯQT là nguồn chính thức của pháp luật quốc gia; các quốc gia chỉ cần quy định nguyên tắc chung công nhận hiệu lực của ĐƯQT Trên thế giới, có một số quốc gia áp dụng thuyết nhất nguyên luận có thể kể đến như Nga, Thụy Sỹ,

Mỹ và Mexico5 Tiếp đến, hiệu lực pháp lý của ĐƯQT theo thuyết nhất nguyên luận có 2 quan điểm chính: trường phái ưu tiên luật quốc tế và trường phái ưu tiên luật quốc gia Trường phái

ưu tiên luật quốc tế có thể hiểu là xem luật pháp quốc tế có hiệu lực pháp lý cao hơn so với pháp luật quốc gia6 Quan điểm này cho rằng pháp luật quốc gia có hiệu lực thấp hơn hẳn so với ĐƯQT và sẽ không được viện dẫn quy định pháp luật để biện minh cho việc không thực hiện ĐƯQT (trừ các quy định mang tính hiến định của quốc gia) vì ĐƯQT luôn được áp dụng thẳng Ngoại lệ duy nhất được chấp nhận là: Điều 46 CƯV năm 1969 quy định, một quốc gia

có thể tuyên bố ĐƯQT vô hiệu nếu như ĐƯQT đó vi phạm các quy định có tính chất quan trọng, nền tảng của một quốc gia (chính là các quy định mang tính hiến định) nhưng, quan điểm này vẫn chưa được chấp nhận hoàn toàn Xét quan điểm thứ hai về trường phái ưu tiên luật quốc gia: các học giả chỉ có thể lập luật rằng Điều 27 và 46 không có nghĩa là CƯV thừa nhận

4 Malcolm N Shaw, International Law, 6th ed, Cambridge University Press, năm 2008 tr 131.

5Trần Hữu Duy Minh, Hiệu lực pháp lý và việc áp dụng điều ước quốc tế ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3(189)

(03/2016), tr 38 – 46.

6 Nguyễn Bá Diến, Việc áp dụng điều ước quốc tế và quan hệ thứ bậc giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia,

Tạp chí Khoa học Kinh tế – Luật, số 3 (2003).

Trang 5

hiệu lực pháp lý của pháp luật quốc tế cao hơn pháp luật quốc gia7 Thực tiễn lịch sử quan hệ quốc tế cũng chứng minh, mọi mối quan hệ quốc tế đều nhằm mục đích lợi ích nên tùy thuộc vào hoàn cảnh và giai đoạn mà các nhà lý luận đề cao quan điểm Tuy nhiên, trường phái ưu tiên luật quốc tế đang có phần cao hơn vì các ĐƯQT đều là các văn bản được các bên thỏa thuận rõ ràng, mạch lạc; các quốc gia áp dụng trực tiếp các ĐƯQT nhằm phục vụ xu hướng hội nhập quốc tế,

2 Thuyết nhị nguyên luận:

Nếu thuyết nhị nguyên luận cho rằng pháp luật quốc tế là cùng một hệ thống thì thuyết nhị nguyên luận cho rằng luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia là hai hệ thống riêng biệt, độc lập Quan điểm này nhận định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia không điều chỉnh chung đối tượng và phương pháp điều chỉnh cũng khác nhau Do đó, không có sự so sánh hiệu lực pháp lý của ĐƯQT vì đây được khẳng định là hai hệ thống Nên, từ góc độ pháp luật quốc tế thì pháp luật quốc gia có vị trí thấp hơn và ngược lại Xét quan điểm của thuyết nhị nguyên luận về Điều 27 CƯV, CƯV chỉ đặt ra nghĩa vụ thực hiện ĐƯQT chứ không áp đặt cách thực hiện Chính vì vậy, các quốc gia tự do lựa chọn cách cho pháp ĐƯQT có hiệu lực phù hợp với pháp luật quốc gia của mình Các quốc gia có thể chọn áp dụng trực tiếp như thuyết nhất nguyên luận hoặc thực hiện ĐƯQT thông qua nội luật hóa các quy định này Và, các cơ quan,

tổ chức, cá nhân áp dụng thuyết nhị nguyên luận chỉ cần tuân thủ những quy định mà pháp luật quốc gia đó công nhận Trong trường hợp quốc gia quy định trái ngược với ĐƯQT, chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý ở đây sẽ là quốc gia đó, còn các cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải chịu bất kì trách nhiệm nào vì không vi phạm pháp luật quốc gia Anh, Canada, Ấn Độ và Israel là một số nước áp dụng thuyết nhị nguyên luận8

7Trần Hữu Duy Minh, Hiệu lực pháp lý và việc áp dụng điều ước quốc tế ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số

3(189) (03/2016), tr 38 – 46.

8 Duncan B Hollis, Merrit R Balkeslee & L Benjamin Ederington, sđd, tr 100 (Canada), tr 355 – 360 (Ấn Độ), tr

396 –

398 (Israel) và tr 742 – 743 (Anh).

4

Trang 6

III VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM VÀ HIỆU LỰC

PHÁP LÝ:

1 Nội luật hóa điều ước quốc tế ở Việt Nam:

Đối với những nước ĐƯQT không tự động có hiệu lực pháp lý thì hệ thống pháp luật quốc gia mà cần nội luật hoá thông qua việc bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hay ban hành các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nội luật hóa điều ước quốc tế theo cách hiểu thông dụng nhất là việc chuyển hóa các quy phạm điều ước vào hệ thống pháp luật quốc gia nhằm để thực thi các cam kết quốc tế9 Nội luật hóa ĐƯQT cần được nhìn nhận như là một hiện tượng pháp lý với những biểu hiện sống động thay vì luôn coi nó là một quy trình cứng nhắc Nội luật hóa ĐƯQT là việc làm xuất hiện trong hệ thống quốc gia các nguyên tắc, chế định hoặc quy phạm phạm luật có nội dung tương thích với nội dung của các ĐƯQT, điều này giúp ĐƯQT phù hợp với quốc gia cũng như tạo ra giá trị áp dụng ĐƯQT Cụ thể, các đặc điểm của nội luật hóa ĐƯQT như sau:

- Tính thích nghi tùy biến: thể hiện bởi việc nội luật hóa không phải là quá trình tuần tự,

cố định mà phụ thuộc vào sự chi phối của các yếu tố trong quốc gia đó Thậm chí, ở mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cũng có thể có cách nội luật hóa khác nhau

- Tính đa dạng chủ thể: chủ thể nội luật hóa ĐƯQT phải là quốc gia thành viên của điều ước đó và đều có nhiệm vụ thực thi một các cam kết mà quốc gia đã chấp nhận Do mỗi quốc gia, chủ thể nội luật hóa ĐƯQT có quy định khác nhau về vấn đề ký kết nên việc thực hiện ĐƯQT nói chung không thể hoàn toàn giống nhau Hay, các chủ thể này thường là những chủ thể có thẩm quyền lập pháp ở các quốc gia và được giao thêm việc nội luật hóa chứ không phải một cơ quan chuyên trách về công việc này

- Tính mâu thuẫn nội tại: việc nội luật hóa thường cố gắng để làm triệt tiêu các xung đột giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Thực tế, trường hợp xảy ra ở các nước hay

là ĐƯQT được áp dụng trực tiếp nhưng sau đó lại được chuyển hóa thành các quy phạm luật trong nước tạo nên sự xung đột Ngoài ra, việc nội luật hóa quá nôn nóng,

9 Phạm Vĩnh Hà, Nhận diện các đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế dưới tư cách một hiện tượng pháp lý, bài

đăng trên web Luật sư Việt Nam ngày 22/10/2020.

Trang 7

vội vàng cũng sẽ dẫn đến hiệu ứng xã hội bất lợi, các tổ chức, cá nhân không thể thích nghi kịp với quá nhiều quy định mới

- Tính ý chí quốc gia: việc chuyển hóa các quy phạm điều ước quốc tế thể hiện rất rõ ý chí của quốc gia Trước hết, quốc gia có quy định các thủ tục để tiến hành nội luật hóa hay không cũng đã thể hiện ý chí của quốc gia đó Tiếp đến, việc nội luật hóa căn cứ vào lĩnh vực mà điều ước tác động hay căn cứ vào tính chất của toàn bộ điều ước Cuối cùng, ý chí của quốc gia còn ở việc giám sát việc thi hành các quy phạm sau khi được nội luật hóa, các quốc gia có thể điều chỉnh nội dung luật quốc tế để tạo ra sự tương thích tối ưu

- Tính ảnh hưởng quốc tế: quốc gia tự quy định nghĩa vụ nội luật hóa cho mình để khả thi việc chuyển hóa, tránh chậm trễ, miễn cưỡng

2 Hiệu lực pháp lý của ĐƯQT đối sánh với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam:

Trước hết, nguyên tắc pacta sunt servanda là vấn đề nền tảng để xem xét trước khi đi

vào phân tích thực chất hiệu lực của ĐƯQT Nguyên tắc này được giải thích cụ thể tại Nghị quyết 2625 của Đại hội đồng Liên hợp quốc Theo đó, nội dung chính của nguyên tắc quy định

về việc các quốc gia có nghĩa vụ pháp lý phải thiện chí thực thi các nghĩa vụ của mình theo luật pháp quốc tế, bất kể các nghĩa vụ đó được ghi nhận trong nguồn nào Và, các nghĩa vụ có thể được ghi nhận trong một điều ước quốc tế, trong tập quán quốc tế, trong các nguyên tắc pháp

luật chung hay các nguồn khác của luật quốc tế Chốt lại: nguyên tắc pacta sunt servanda là để

thể hiện cơ chế thực thi các nghĩa vụ của toàn bộ hệ thống pháp luật quốc tế 10 Mặt khác, trong cùng hệ thống pháp luật quốc gia, VBQPPL có thứ bậc rõ ràng; trong khi luật pháp quốc tế xem các ĐƯQT có giá trị pháp lý ngang nhau Có sự khác biệt ở chỗ, giữa các ĐƯQT không có sự phân biệt cao thấp dù mục đích và chủ thể xây dựng nên những ĐƯQT là rất khác nhau và thông lệ quốc tế cũng chỉ ra rõ ràng một số nguyên tắc trong việc xác lập trật tự áp dụng các ĐƯQT chứ không phải là xác lập trật tự thứ bậc11 Cụ thể hơn, các xung đột hiện đang tồn tại như sau:

10 Trần Hữu Duy Minh, Công ước Viên 1969: Hiệu lực của điều ước quốc tế, bài đăng trên web iucogens.

11 Nguyễn Thị Thuận, Giải quyết vấn đề xung đột về hiệu lực giữa các điều ước quốc tế, Tạp chí Luật học, số 6,

năm 2005, tr 52-56.

6

Trang 8

2.1 Hiệu lực về thời gian:

Trước hết, ĐƯQT đang có hiệu lực cũng có thể bị tạm đình chỉ như các VBQPPL của quốc gia nếu có vấn đề phát sinh Cụ thể, với VBQPPL: có thể ngưng hiệu lực trong trường hợp có dấu hiệu trái pháp luật hoặc giải quyết các vấn đề bất ngờ phát sinh trong một thời gian nhất định Đối với ĐƯQT: tạm đình chỉ điều ước (giữa các bên tham gia kí kết) trong trường hợp có hành vi vi phạm nghiêm trọng điều ước của một bên hoặc có sự thay đổi của hoàn cảnh12

Xét điểm khác nhau giữa ĐƯQT và VBQPPL: ĐƯQT được áp dụng hiệu lực ứng trước hay áp dụng tạm thời trong thời gian hoàn thành thủ tục còn VBQPPL thì không Tuy nhiên, VBQPPL lại có quy định hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố) và ĐƯQT thì không có hiệu lực này Thực chất, việc áp dụng hiệu lực ứng trước ĐƯQT để điều chỉnh các quan hệ xã hội xảy ra trước thời điểm điều ước đó có hiệu lực Tiếp đến, trong quy trình rút gọn: ĐƯQT sẽ tập trung vào việc giản lược hoặc tiến hành đồng thời các bước thủ tục; còn quy trình rút gọn đối với VBQPPL lại là rút ngắn các thời hạn, hay các bước thủ tục vẫn phải giữ nguyên, không được giản lược Chính vì vậy, ta có thể thấy việc áp dụng quy trình rút gọn đối với ĐƯQT chủ yếu làm gọn nhẹ, đơn giản hơn các bước chứ không nhằm mục đích áp dụng hiệu lực sớm Đối với VBQPPL được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì hoàn toàn có thể có hiệu lực sớm hơn, ngay kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành

Bên cạnh đó, trong ĐƯQT có cơ chế mà VBQPPL không có hoặc không giống với ĐƯQT là: cơ chế bảo lưu và cơ chế gia hạn Bảo lưu có thể hiểu là việc các bên tham gia ký kết, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập ĐƯQT nhiều bên để tránh làm thay đổi hiệu lực của ĐƯQT VBQPPL không có cơ chế bảo lưu vì các quy định sẽ luôn phát sinh hiệu lực vào cùng một thời điểm với nhau Với cơ chế gia hạn, khi ĐƯQT hết hiệu lực mà các bên vẫn muốn tiếp tục thì họ có thể tiến hành gia hạn điều ước tự động hoặc có điều kiện Mặc dù trên thực tế, vẫn

có khả năng một VBQPPL (hoặc một phần nội dung của nó) phải chấm dứt hiệu lực, song, chúng vẫn được được giữ lại trong một thời hạn nhất định (hiệu lực chuyển tiếp), tuy nhiên,

12 Phạm Vĩnh Hà, Lê Thị Ngọc Mai, Hiệu lực pháp lý của điều ước Quốc tế đối sánh với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, bài đăng trên tapchitoaan.vn ngày 29/06/2018.

Trang 9

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 không đề cập đến việc gia hạn này Nhận thấy, lý giải ít có VBQPPL tự quy định thời điểm hết hiệu lực dựa vào tình hình thực tiễn; còn việc ĐƯQT có thời hạn tồn tại lại phổ biến vì ĐƯQT hay đặt thời gian để phấn đấu mục tiêu Không thể phủ nhận, rất hãn hữu có VBQPPL tự quy định “ngày khai tử” của mình trong điều khoản thi hành và ngược lại, có khá nhiều các ĐƯQT có thời hạn bên cạnh các ĐƯQT vô hạn

2.2 Hiệu lực về không gian và đối tượng tác động:

Phạm vi hiệu lực của các VBQPPL và ĐƯQR giống nhau nhau về bản chất rộng khắc Nếu các ĐƯQT có hiệu lực đối với tất cả các bên tham gia cam kết thì các VBQPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực ở phạm vi cả nước; suy rộng ra, ĐƯQT có hiệu lực trên phạm vi toàn lãnh thổ của toàn các quốc gia tham gia giống như các VBQPPL Vẫn sẽ xảy

ra các trường hợp ngoại lệ đối với ĐƯQT: phạm vi tác động có thể mở rộng hoặc thu hẹp; VBQPPL cũng có những ngoại lệ so với nguyên tắc chung, song chỉ theo hướng thu hẹp lại

Hiệu lực về đối tượng tác động thể hiện sự khác biệt khá lớn giữa ĐƯQT và VBQPPL

do đặc điểm của từng loại văn bản Theo quy định, VBQPPL có hiệu lực tác động được đến tất

cả những cá nhân, tổ chức trên vùng lãnh thổ nếu như không có sự tự giới hạn13 Nhưng, ĐƯQT lại phải phụ thuộc vào nội dung và cách thức thực hiện của từng điều ước vì không phải các vấn đề sẽ xảy ra chung ở tất cả các quốc gia Ngoài ra, “ĐƯQT có liên quan” có thể là căn

cứ làm thay đổi hiệu lực về không gian (và cả đối tượng tác động) của VBQPPL trong nước vì tất cả các quy định trong điều ước có hiệu lực khi được công nhận bởi tất cả các quốc gia tham gia kí kết Ở hướng ngược lại: quy định của quốc gia không thể làm thay đổi hiệu lực của ĐƯQT mà thường có xu hướng tuân theo nó ( Quy định tại khoản 1, Điều 155 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015)

Như đã trình bày ở trên, ta có thể nhận thấy pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia không chỉ dừng ở chỗ tác động lẫn nhau, thúc đẩy quá trình phát triển của nhau mà còn là điều kiện để đảm bảo quá trình thực hiện của nhau Cùng với sự phát sinh của thực tế: sự giao lưu

13 Nguyễn Thị Thuận, Giải quyết vấn đề xung đột về hiệu lực giữa các điều ước quốc tế, Tạp chí Luật học, số 6,

năm 2005, tr 52-56.

8

Trang 10

giữa các quốc gia ngày càng mở rộng, đa dạng, luật quốc gia và luật quốc tế cần phải có sự hợp tác giải quyết Từ đây, ta rút ra được mối quan hệ biện chứng giữa chúng thể hiện chủ yếu trên hai phương diện sau: luật quốc gia ảnh hưởng tới sự hình thành của luật quốc tế và luật quốc tế tác động tích cực tới tiến trình xây dựng và hoàn thiện luật quốc gia14 Tuy nhiên, về mặt lý luận: còn nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nên thực tế việc giải quyết vẫn còn gặp nhiều lúng túng, nếu giải quyết tốt thì sẽ còn thúc đẩy hơn cả mối quan hệ hợp tác với quốc gia khác15 Ta sẽ phân tích chi tiết về thực tiễn áp dụng ĐƯQT ở Việt Nam để rõ hơn về vấn đề này:

1 Thực tiễn áp dụng trực tiếp ĐƯQT ở Việt Nam:

Điều 6 Luật điều ước quốc tế năm 2016 có quy định hai trường hợp quy định ĐƯQT có thể được áp dụng trực tiếp tại Việt Nam: khi quy định của ĐƯQT xung đột/khác với quy định của pháp luật Việt Nam về cùng một vấn đề thì áp dụng ĐƯQT; khi có quyết định cho phép áp dụng trực tiếp của Quốc hội, Chủ tịch nước hay Chính phủ khi thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc bởi một ĐƯQT16 Điều này chỉ ra rằng: Việt Nam áp dụng cả thuyết nhất nguyên luận và thuyết nhị nguyên luận: không đặt pháp luật quốc gia và luật quốc tế theo thứ bậc và thể hiện rõ

sự tác động qua lại giữa chúng

Về thực tế việc áp dụng trực tiếp ĐƯQT tại Việt Nam cho thấy rất hiếm trường hợp các

cơ quan có thẩm quyền trên có quyết định cho phép áp dụng trực tiếp Pháp luật Việt Nam áp dụng trực tiếp 08 ĐƯQT Một số thông tin cho rằng: thực tế các ĐƯQT ở Việt Nam đều được

áp dụng trực tiếp và chứ không trong quyết định đồng ý chịu ràng buộc bởi một ĐƯQT của Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ Tuy nhiên, về tiêu chí nào để để xác định cho phép áp dụng trực tiếp ĐƯQT và ghi nhận trong hồ sơ đề nghị ký kết ĐƯQT thì chưa được làm rõ Hơn nữa,thông tin này đặt ra hàm ý rằng: khi phê chuẩn, phê duyệt một ĐƯQT, Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ đã phải đồng ý với tất cả nội dung trong hồ sơ ký kết ĐƯQT chứ không chỉ liên quan đến vấn đề áp dụng trực tiếp Bên cạnh đó, việc áp dụng trực tiếp ĐƯQT không được

14 Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Công pháp quốc tế, Nxb ĐHQGHN tr.58-59.

15 Nguyễn Trung Tín, Về việc giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong pháp luật Việt Nam, bài đăng trên web bao-khoa-hoc.blogspot.com ngày 17/10/2015.

16 Trần Hữu Duy Minh, Hiệu lực pháp lý và việc áp dụng điều ước quốc tế ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số

3(189) (03/2016), tr 38 – 46.

Ngày đăng: 01/04/2023, 17:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Bá Diến, Việc áp dụng điều ước quốc tế và quan hệ thứ bậc giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, Tạp chí Khoa học Kinh tế – Luật, số 3 (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc áp dụng điều ước quốc tế và quan hệ thứ bậc giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia
Tác giả: Nguyễn Bá Diến
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Kinh tế – Luật
Năm: 2003
3. Phạm Vĩnh Hà, Nhận diện các đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế dưới tư cách một hiện tượng pháp lý, bài đăng trên web Luật sư Việt Nam ngày 22/10/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện các đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế dưới tư cách một hiện tượng pháp lý
Tác giả: Phạm Vĩnh Hà
Nhà XB: Luật sư Việt Nam
Năm: 2020
4. Phạm Vĩnh Hà, Lê Thị Ngọc Mai, Hiệu lực pháp lý của điều ước Quốc tế đối sánh với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, bài đăng trên tapchitoaan.vn ngày 29/06/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực pháp lý của điều ước Quốc tế đối sánh với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Vĩnh Hà, Lê Thị Ngọc Mai
Nhà XB: tapchitoaan.vn
Năm: 2018
5. Đinh Thế Hưng, Vấn đề nội luật hóa các Công ước quốc tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã ở Việt Nam, bài đăng trên web tapchitoaan ngày 17/07/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nội luật hóa các Công ước quốc tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Thế Hưng
Năm: 2020
6. Trần Hữu Duy Minh, Hiệu lực pháp lý và việc áp dụng điều ước quốc tế ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3(189) (03/2016), tr. 38 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực pháp lý và việc áp dụng điều ước quốc tế ở Việt Nam
Tác giả: Trần Hữu Duy Minh
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2016
7. Trần Hữu Duy Minh, Công ước Viên 1969: Hiệu lực của điều ước quốc tế, bài đăng trên web iucogens Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước Viên 1969: Hiệu lực của điều ước quốc tế
Tác giả: Trần Hữu Duy Minh
8. Đỗ Thị Ngọc Phượng, Các tổ chức xã hội với vai trò giám sát thực hiện quyền trẻ em, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2015, tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức xã hội với vai trò giám sát thực hiện quyền trẻ em
Tác giả: Đỗ Thị Ngọc Phượng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
9. Nguyễn Thị Thuận, Giải quyết vấn đề xung đột về hiệu lực giữa các điều ước quốc tế, Tạp chí Luật học, số 6, năm 2005, tr. 52-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết vấn đề xung đột về hiệu lực giữa các điều ước quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Thuận
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2005}
10. Trần Anh Tuấn, Những vấn đề cần lưu ý đối với cơ quan quản lý nhà nước về chuyển hóa điều ước quốc tế mà Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cần lưu ý đối với cơ quan quản lý nhà nước về chuyển hóa điều ước quốc tế mà Việt Nam
Tác giả: Trần Anh Tuấn
11. Nguyễn Trung Tín, Về việc giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong pháp luật Việt Nam, bài đăng trên web bao-khoa-hoc.blogspot.com ngày 17/10/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trung Tín
Nhà XB: bao-khoa-hoc.blogspot.com
Năm: 2015
12. Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, bài đăng trên web cand.com.vn ngày 16/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng
Nhà XB: cand.com.vn
Năm: 2021
13. Nguyễn Thị Yến, Nội luật hóa quyền trẻ em ở Việt Nam, bài đăng trên web lyluanchinhtri.vn ngày 25/20/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội luật hóa quyền trẻ em ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Yến
Nhà XB: lyluanchinhtri.vn
Năm: 2019

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w