Mục Lục A.Mở Đầu 3 I. Tính cấp thiết, lý do chọn đề tài 3 B. Nội Dung 4 I. Nội luật hóa, Điều ước quốc tế là gì ? 4 1. Khái niệm về nội luật hóa. 4 2. Khái niệm về Điều ước quốc tế 6 3. Vấn đề nội luật hóa trong Luật Điều ước quốc tế. 6 II. Phương thức thực hiện nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam 7 1. Phương thức nội luật hóa ở Việt Nam trong pháp luật nước ta. 7 III. Vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam 8 1.Quan niệm về nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia 9 2.Nội luật hóa quy định các điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam 10 2.1. Cách thức Việt Nam nội luật hóa quy định của các ĐUQT vào pháp luật quốc gia về mặt lý luận 12 IV. Thực trạng nội luật hóa pháp luật quốc tế trong một số lĩnh vực tại Việt Nam 13 1. Trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 13 2. Trong lĩnh vực hình sự 14 3. Trong các vấn đề về quyền con người 14 4. Trong lĩnh vực thương mại, ngoại thương 15 V. Một số kiến nghị và đề xuất nâng cao hiệu quả công tác nội luật hóa tại Việt Nam 16 C. Kết luận 17 D. Tài liệu tham khảo 18 Các Từ Viết Tắt ĐUQT LHQ Điều ước quốc tế Liên Hợp Quốc 2 A.Mở Đầu I.Tính cấp thiết, lý do chọn đề tài Trong thời đại ngày nay, việc các quốc gia tích cực thiết lập, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt trong giai đoạn Xã hội chủ nghĩa, Luật quốc tế đang phát triển một cách mạnh mẽ trong lịch sử loài người thì các vấn đề liên quan đến hội nhập quốc tế, luật quốc tế, điều ước quốc tế nổi lên giữ vai trò của một công cụ pháp lý hữu hiệu nhất điều chỉnh quan hệ về mọi mặt giữa các chủ thể. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò then chốt của luật quốc tế càng được khẳng định, vừa là phương tiện hợp tác của các quốc gia, vừa là đòn bẩy của các quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế. Và để có thể thi hành điều ước quốc tế thì phải có sự chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế đó thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành điều ước quốc tế trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế đó. Quá trình chuyển hóa đó thường được gọi là chuyển hóa điều ước quốc tế hoặc nội luật hóa các điều ước quốc tế. Ở nước ta việc nội luật hóa điều ước quốc tế là vô cùng quan trọng khi tham gia hội nhập quốc tế để đảm bảo rằng các quy định pháp luật trong nước không cản trở việc thi hành. Cũng như là để tận dụng được những lợi thế khi tham gia các cam kết quốc tế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm đảm bảo điều ước quốc tế được tuân thủ và thi hành trong phạm vi lãnh thổ quốc gia thì việc nội luật hóa điều ước quốc tế trong pháp luật nước ta là vô cùng cần thiết. Chính vì vậy để tìm hiểu rõ hơn: nội luật hóa là gì, điều ước quốc tế là gì, pháp luật của Việt Nam trong việc nội luật hóa điều ước quốc tế như thế nào…Thì tôi đã lựa chọn đề tài: “ Nội luật hóa điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam”. Làm tiểu luận kết thúc bài thi học phần cũng như tìm hiểu sâu hơn một cách rõ ràng về vấn đề này. 3 B. Nội Dung I.Nội luật hóa, Điều ước quốc tế là gì ? 1.Khái niệm về nội luật hóa. Trong thời gian qua, thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ký kết và gia nhập nhiều điều ước quốc tế. Tuy nhiên, để tận dụng được những lợi thế khi tham gia các cam kết quốc tế cần tiến hành quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm đảm bảo điều ước quốc tế được tuân thủ và thi hành trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quá trình này còn gọi là chuyển hóa điều ước quốc tế. ỞViệt Nam, nội dung chuyển hóa vào pháp luật quốc gia được quy định cụ thể từ năm 2005 với việc Quốc hội thông qua Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế với 2 hình thức chuyển hóa điều ước quốc tế như: áp dụng trực tiếp và nội luật hóa. Áp dụng trực tiếp là việc thừa nhận các quy phạm điều ước quốc tế được tự động thi hành pháp luật như pháp luật trong nước thông qua việc ban hành quyết định thừa nhận toàn bộ hoặc một phần nội dung của điều ước quốc tế đó1, có nhiều ý kiến khác nhau về nội luật hóa. Có thể nêu lên hai ý kiến nội luật hoá sau đây: Cách hiểu thứ nhất cho rằng nội luật hóa là quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế2. Như vậy, theo cách hiểu này thì nội luật hóa đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước. Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế thi các quy định của điều ước có giá trị pháp lý và được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Khi đó, văn bản được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận sự ràng buộc hiệu lực pháp lý của điều ước (văn bản phê chuẩn, phê duyệt...) được coi là văn bản nội luật hóa, làm 1Trang https:tapchitaichinh.vnnghiencuutraodoinoiluathoacamkethoinhapquoctetrongkynguyenftathehemoi313889.html 4 cho điều ước quốc tế đó có hiệu lực thực thi như văn bản quy phạm pháp luật trong nước. Cách hiểu thứ hai cho rằng nội luật hoá và quá trình chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế là hai khái niệm pháp lý khác nhau và có mối quan hệ tương đối độc lập với nhau: việc chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục pháp lý trong nước và thông qua đó thể hiện việc quốc gia tham gia điều ước chấp nhận việc áp dụng các quy định của điều ước đó đổi với minh. Trong khi đó, nội luật hoá là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa đổi bổ sung văn bản3 quy phạm pháp luật trong nước để cho nội dung của các quy định của điều ước quốc tế chiếm toàn bộ hoặc đa số phần nội dung của quy phạm pháp luật trong nước. Về mặt thời gian thì việc chấp nhận hiệu lực pháp lý (sự ràng buộc) của điều ước và việc nội luật hoá có thể được tiến hành đồng thời, nhưng cũng có thể được tiến hành tại các thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu hiệu lực về thời gian của điều ước (khi điều ước có lộ trình thực hiện) và điều kiện cụ thể trong nước khác. Như vậy “ nội luật hóa” là quá trình đưa nội dung các quy phạm điều ước quốc tế vào nội dung của quy phạm pháp luật trong nước thông qua việc xây dựng, ban hành (sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới) văn bản quy phạm pháp luật trong nước để có nội dung pháp lý đúng với nội dung của các quy định của điều ước đã được ký kết hoặc gia nhập. 2“ Điều 8 chấp nhận sự ràng buộc của Điều ước quốc tế” Luật ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế 2005 3Một ví dụ điển hình là Việt Nam cũng tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, do đó đòi hỏi việc phải nội luật hóa nội dung của Công ước mà Việt Nam đã cam kết. Vì vậy, việc sửa đổi Bộ luật Hình sự hiện hành nên nghiên cứu, bổ sung Chương XXI về các tội xâm phạm về chức vụ. Bài viết: Bàn về một số nhóm tội phạm khi sửa đổi, bô sung Bộ luật Hình sự, Nguyễn Thị Vinh, 14102014 http:www.moi gov.vptedepltintue Lists NghienCuuTraDoiView detail.aspx?ItemID469 5 2.Khái niệm về Điều ước quốc tế Theo Công ước viên năm 1969, Thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì.4 Theo Luật Điều ước quốc tế 2016, điều ước quốc tế được định nghĩa là “thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế.” Qua đó, có ba điều kiện quan trọng mà một văn bản phải đáp ứng để được xem là điều ước quốc tế theo pháp luật Việt Nam, bao gồm điều kiện về đối tác ký kết, nội dung về quyền, nghĩa vụ của Việt Nam và quy trình ký kết.5 Như vậy, Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quy phạm gọi là quy phạm điều ước. Điều ước quốc tế có thể là phổ cập hoặc không phổ cập, toàn cầu hoặc khu vực, đa phương hoặc song phương. 3.Vấn đề nội luật hóa trong Luật Điều ước quốc tế. Trước khi thông qua Luật điều ước quốc tế, pháp luật Việt Nam không có quy định rõ về vấn đề này mà chỉ có quy định liên quan đến sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản để thi hành điều ước quốc tế. Nghiên cứu lý luận và thực tiễn Việt Nam về vấn đề điều ước quốc tế và nội luật hóa trong thời gian hiện nay cho thấy Việt nam về cơ bản vẫn giữ quan điểm điều 4Trang “Điều ước quốc tế là gì? Đặc điểm và phân loại Điều ước quốc tế” https:lawkey.vndieuuocquoctelagidacdiemvaphanloaidieuuocquocte 5Trang “Điều ước quốc tế là gì? Quy định pháp luật Việt Nam về sử dụng điều ước quốc tế hiện nay” https:luatminhkhue.vndieuuocquoctelagiquydinhphapluatvietnamvesudungdieuuocquoctehiennay.aspx 6 ước quốc tế và nội luật hóa theo học thuyết luật quốc tế truyền thống của các nước xã hội chủ nghĩa tuy đã có những điểm mới nhất định về mặt lý luận. Điểm mới đó trước tiên là Luật Điều ước quốc tế cho phép áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế trong một số trường hợp cụ thể.Vấn đề áp dụng trực tiếp này đã gây tranh luận về quan điểm nhị nguyên luận của Việt Nam trong xử lý vấn đề quan hệ giữa pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế. Quan điểm áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế kết hợp với nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế có thể cho phép có ý kiến là Việt Nam đang nghiêng về thuyết nhất nguyên. Tuy vậy, ý kiến đó cần tiếp tục được xem xét qua thực tiễn thi hành Luật điều ước quốc tế năm 2005.6 AI.Phương thức thực hiện nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam 1.Phương thức nội luật hóa ở Việt Nam trong pháp luật nước ta. Nội luật hóa được thể hiện qua phương thức sau: Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung, ban hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế. Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó. Trong công tác xây dựng pháp luật, theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là phải không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 6Trang “Tài liệu Nội luật hóa các điều ước quốc tế việt nam ký kết và tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” https:xemtailieu.nettailieunoiluathoacacdieuuocquoctevietnamkyketvathamgiaphucvuquatrinhhoinhapkinhtequocte241861.html 7 Bên cạnh đó, ngay từ khâu đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định cũng quy định căn cứ đề nghị xây dựng phải dựa trên cam kết quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ nghiên cứu điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hay đối với dự thảo thông tư, trong quá trình thẩm định, một trong các nội dung mà cơ quan chủ trì thẩm định phải tập trung thẩm định là tính tương thích với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Đây cũng là một biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý quốc tế phát sinh từ điều ước quốc tế được tuân thủ nghiêm túc tại Việt Nam. Thứ hai, tiến hành chuyển hóa quy phạm của điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước. Nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mật thiết đến vấn đề nội luật hóa các điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước. Mục đích cơ bản của vấn đề chuyển hóa là bảo đảm thuận lợi cho việc thực hiện các điều ước quốc tế. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Trong bộ máy nhà nước, Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo các Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một bên ký kết. Như vậy, nhận thức về nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế đã đạt được sự thống nhất cao, được thể chế hóa thành pháp luật, tạo cơ sở thuận lợi cho việc chỉ đạo của Chính phủ và việc thực hiện của các cơ quan nhà nước. BI.Vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam 8 1.Quan niệm về nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 12 Công ước Viên 1969 thì ĐUQT là văn bản thỏa thuận được ký kết giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế (quốc gia và tổ chức quốc tế) và được điều chỉnh bằng luật quốc tế, bất kể tên gọi của văn bản thỏa thuận đó là gì. Các cách thức thể hiện sự đồng ý ràng buộc bởi một ĐUQT của chủ thể luật quốc tế được quy định tại. Điều 11 Công ước Viên 1969 bao gồm: Ký, trao đổi các văn kiện hình thành điều ước, thông qua hoặc phê chuẩn (“ratification”), thừa nhận hoặc công nhận (“acceptance”), tán thành hoặc chấp thuận (“approval”), gia nhập(“accession”) hoặc bằng bất cứ cách thức nào được đồng thuận bởi các bên. Tuy nhiên, Công ước Viên không nêu cụ thể các cách thức, biện pháp mà quốc gia thành viên có thể áp dụng để đáp ứng yêu cầu cũng như thực thi quy định của các ĐUQT mà quốc gia đó đã ký kết, gia nhập. Hơn thế, trong lời nói đầu và tại Điều 26 Công ước Viên 1969 (UN,1969) quy định: “Mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hành trên tinh thần thiện chí”. Hay tại Điều 27 Công ước Viên 1969 (UN, 1969) quy định: “Một bên không thể viện dẫn những quy định của pháp luật trong nước của mình làm lý do cho việc không thi hành một điều ước”. Như vậy, pháp luật quốc tế không quy định quốc gia cần phải thực hiện ĐUQT bằng cách thức nào; các quốc gia có quyền tự do lựa chọn cách thức để thực hiện điều ước, miễn là thực hiện một cách tận tâm và thiện chí. Đây cũng là nội dung của nguyên tắc “Pacta sunt servanda”, một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế được ghi nhận trong Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ năm 1970 về những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương LHQ; đồng thời cũng là nguyên tắc được hầu hết các quốc gia thừa nhận và chấp hành. Chẳng hạn đối với nhóm ĐUQT chống khủng bố, tinh thần nguyên tắc “Pacta sunt servanda”
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BỘ MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1
Trang 2Mục Lục
A Mở Đầu 3
I Tính cấp thiết, lý do chọn đề tài 3
B Nội Dung 4
I Nội luật hóa, Điều ước quốc tế là gì ? 4
1. Khái niệm về nội luật hóa. 4
2. Khái niệm về Điều ước quốc tế 6
3 Vấn đề nội luật hóa trong Luật Điều ước quốc tế. 6
II Phương thức thực hiện nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam 7
1 Phương thức nội luật hóa ở Việt Nam trong pháp luật nước ta. 7
III Vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam 8
1 Quan niệm về nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia 9
2 Nội luật hóa quy định các điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam 10 2.1 Cách thức Việt Nam nội luật hóa quy định của các ĐUQT vào pháp luật quốc gia về mặt lý luận 12
IV Thực trạng nội luật hóa pháp luật quốc tế trong một số lĩnh vực tại Việt Nam 13
1 Trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 13
2. Trong lĩnh vực hình sự 14
3. Trong các vấn đề về quyền con người 14
4. Trong lĩnh vực thương mại, ngoại thương 15
V Một số kiến nghị và đề xuất nâng cao hiệu quả công tác nội luật hóa tại Việt Nam 16
C Kết luận 17
D Tài liệu tham khảo 18
Các Từ Viết Tắt
ĐUQT
LHQ
Điều ước quốc tế Liên Hợp Quốc
Trang 32
Trang 4A Mở Đầu
I Tính cấp thiết, lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, việc các quốc gia tích cực thiết lập, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực Đặc biệt trong giai đoạn Xã hội chủ nghĩa, Luật quốc tế đang phát triển một cách mạnh mẽ trong lịch sử loài người thì các vấn đề liên quan đến hội nhập quốc tế, luật quốc tế, điều ước quốc tế nổi lên giữ vai trò của một công cụ pháp lý hữu hiệu nhất điều chỉnh quan hệ về mọi mặt giữa các chủ thể Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò then chốt của luật quốc tế càng được khẳng định, vừa là phương tiện hợp tác của các quốc gia, vừa là "đòn bẩy" của các quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế Và để có thể thi hành điều ước quốc tế thì phải có sự chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế đó thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành điều ước quốc tế trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế đó Quá trình chuyển hóa đó thường được gọi là chuyển hóa điều ước quốc tế hoặc nội luật hóa các điều ước quốc tế Ở nước ta việc nội luật hóa điều ước quốc tế là vô cùng quan trọng khi tham gia hội nhập quốc tế để đảm bảo rằng các quy định pháp luật trong nước không cản trở việc thi hành Cũng như là để tận dụng được những lợi thế khi tham gia các cam kết quốc tế do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm đảm bảo điều ước quốc tế được tuân thủ và thi hành trong phạm vi lãnh thổ quốc gia thì việc nội luật hóa điều ước quốc tế trong pháp luật nước ta là vô cùng cần thiết Chính vì vậy để tìm hiểu rõ hơn: nội luật hóa là gì, điều ước quốc tế là gì, pháp luật của Việt Nam trong việc nội luật hóa điều ước quốc tế như thế nào…Thì tôi
đã lựa chọn đề tài: “ Nội luật hóa điều ước quốc tế trong pháp luật Việt
Nam” Làm tiểu luận kết thúc bài thi học phần cũng như tìm hiểu sâu hơn
một cách rõ ràng về vấn đề này
Trang 5B Nội Dung
I Nội luật hóa, Điều ước quốc tế là gì ?
1 Khái niệm về nội luật hóa.
Trong thời gian qua, thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ký kết và gia nhập nhiều điều ước quốc tế Tuy nhiên,
để tận dụng được những lợi thế khi tham gia các cam kết quốc tế cần tiến hành quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm đảm bảo điều ước quốc tế được tuân thủ và thi hành trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quá trình này còn gọi là chuyển hóa điều ước quốc tế
Ở Việt Nam, nội dung chuyển hóa vào pháp luật quốc gia được quy định cụ thể từ năm 2005 với việc Quốc hội thông qua Luật ký kết, gia nhập
và thực hiện điều ước quốc tế với 2 hình thức chuyển hóa điều ước quốc tế như: áp dụng trực tiếp và nội luật hóa Áp dụng trực tiếp là việc thừa nhận các quy phạm điều ước quốc tế được tự động thi hành pháp luật như pháp luật trong nước thông qua việc ban hành quyết định thừa nhận toàn bộ hoặc một phần nội dung của điều ước quốc tế đó1, có nhiều ý kiến khác nhau về
"nội luật hóa" Có thể nêu lên hai ý kiến nội luật hoá sau đây:
Cách hiểu thứ nhất cho rằng nội luật hóa là quá trình pháp lý do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế2 Như vậy, theo cách hiểu này thì nội luật hóa đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế thi các quy định của điều ước có giá trị pháp lý và được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia Khi đó, văn bản được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận sự ràng buộc hiệu lực pháp lý của điều ước (văn bản phê chuẩn, phê duyệt ) được coi là văn bản nội luật hóa, làm
1 Trang https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/noi-luat-hoa-cam-ket-hoi-nhap-quoc-te-trong-ky- nguyen-fta-the-he-moi-313889.html
4
Trang 6cho điều ước quốc tế đó có hiệu lực thực thi như văn bản quy phạm pháp luật trong nước
Cách hiểu thứ hai cho rằng nội luật hoá và quá trình chấp nhận hiệu lực
pháp lý của điều ước quốc tế là hai khái niệm pháp lý khác nhau và có mối quan hệ tương đối độc lập với nhau: việc chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục pháp lý trong nước và thông qua đó thể hiện việc quốc gia tham gia điều ước chấp nhận việc áp dụng các quy định của điều ước đó đổi với minh Trong khi đó, nội luật hoá là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa đổi bổ sung văn bản3 quy phạm pháp luật trong nước để cho nội dung của các quy định của điều ước quốc tế chiếm toàn bộ hoặc đa số phần nội dung của quy phạm pháp luật trong nước Về mặt thời gian thì việc chấp nhận hiệu lực pháp lý (sự ràng buộc) của điều ước và việc nội luật hoá
có thể được tiến hành đồng thời, nhưng cũng có thể được tiến hành tại các thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu hiệu lực về thời gian của điều ước (khi điều ước có lộ trình thực hiện) và điều kiện cụ thể trong nước khác
Như vậy “ nội luật hóa” là quá trình đưa nội dung các quy phạm điều
ước quốc tế vào nội dung của quy phạm pháp luật trong nước thông qua việc xây dựng, ban hành (sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới) văn bản quy phạm pháp luật trong nước để có nội dung pháp lý đúng với nội dung của các quy định của điều ước đã được ký kết hoặc gia nhập
2 “ Điều 8 chấp nhận sự ràng buộc của Điều ước quốc tế”- Luật ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế 2005
3 "Một ví dụ điển hình là Việt Nam cũng tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng,
do đó đòi hỏi việc phải nội luật hóa nội dung của Công ước mà Việt Nam đã cam kết Vì vậy, việc sửa đổi Bộ luật Hình sự hiện hành nên nghiên cứu, bổ sung Chương XXI về các tội xâm phạm về chức vụ."
-Bài viết: "Bàn về một số nhóm tội phạm khi sửa đổi, bô sung Bộ luật Hình sự", Nguyễn Thị Vinh,
14/10/2014 http://www.moi gov.vp/tedepl/tintue Lists NghienCuuTraDoi/View detail.aspx?ItemID-469
Trang 72 Khái niệm về Điều ước quốc tế
Theo Công ước viên năm 1969, Thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì.4
Theo Luật Điều ước quốc tế 2016, điều ước quốc tế được định nghĩa là
“thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế.” Qua đó, có ba điều kiện quan trọng mà một văn bản phải đáp ứng để được xem là điều ước quốc tế theo pháp luật Việt Nam, bao gồm điều kiện về đối tác ký kết, nội dung về quyền, nghĩa vụ của Việt Nam và quy trình ký kết.5
Như vậy, Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia
và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quy phạm gọi là quy phạm điều ước Điều ước quốc tế có thể là phổ cập hoặc không phổ cập, toàn cầu hoặc khu vực, đa phương hoặc song phương
3 Vấn đề nội luật hóa trong Luật Điều ước quốc tế.
Trước khi thông qua Luật điều ước quốc tế, pháp luật Việt Nam không
có quy định rõ về vấn đề này mà chỉ có quy định liên quan đến sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản để thi hành điều ước quốc tế Nghiên cứu lý luận và thực tiễn Việt Nam về vấn đề điều ước quốc tế và nội luật hóa trong thời gian hiện nay cho thấy Việt nam về cơ bản vẫn giữ quan điểm điều
4 Trang “Điều ước quốc tế là gì? Đặc điểm và phân loại Điều ước quốc tế”
https://lawkey.vn/dieu-uoc-quoc-te-la-gi-dac-diem-va-phan-loai-dieu-uoc-quoc-te/
5 Trang “Điều ước quốc tế là gì? Quy định pháp luật Việt Nam về sử dụng điều ước quốc tế hiện nay”
https://luatminhkhue.vn/dieu-uoc-quoc-te-la-gi-quy-dinh-phap-luat-viet-nam-ve-su-dung-dieu-uoc-quoc- te-hien-nay.aspx
6
Trang 8ước quốc tế và nội luật hóa theo học thuyết luật quốc tế truyền thống của các nước xã hội chủ nghĩa tuy đã có những điểm mới nhất định về mặt lý luận Điểm mới đó trước tiên là Luật Điều ước quốc tế cho phép áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế trong một số trường hợp cụ thể.Vấn đề áp dụng trực tiếp này đã gây tranh luận về quan điểm nhị nguyên luận của Việt Nam trong xử lý vấn đề quan hệ giữa pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế Quan điểm áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế kết hợp với nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế có thể cho phép có ý kiến là Việt Nam đang nghiêng về thuyết nhất nguyên Tuy vậy, ý kiến đó cần tiếp tục được xem xét qua thực tiễn thi hành Luật điều ước quốc tế năm 2005.6
II Phương thức thực hiện nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam
1 Phương thức nội luật hóa ở Việt Nam trong pháp luật nước ta.
Nội luật hóa được thể hiện qua phương thức sau:
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung, ban hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện
điều ước quốc tế Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó Trong công tác xây dựng pháp luật, theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là phải không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
6 Trang “Tài liệu Nội luật hóa các điều ước quốc tế việt nam ký kết và tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” https://xemtailieu.net/tai-lieu/noi-luat-hoa-cac-dieu-uoc-quoc-te-viet-nam-ky-ket-va-tham-gia-phuc-vu- qua-trinh-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-241861.html
Trang 9Bên cạnh đó, ngay từ khâu đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định cũng quy định căn cứ đề nghị xây dựng phải dựa trên cam kết quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ nghiên cứu điều ước quốc
tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hay đối với dự thảo thông tư, trong quá trình thẩm định, một trong các nội dung
mà cơ quan chủ trì thẩm định phải tập trung thẩm định là tính tương thích với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Đây cũng là một biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý quốc tế phát sinh từ điều ước quốc tế được tuân thủ nghiêm túc tại Việt Nam
Thứ hai, tiến hành chuyển hóa quy phạm của điều ước quốc tế vào pháp
luật trong nước Nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mật thiết đến vấn đề nội luật hóa các điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước Mục đích cơ bản của vấn đề chuyển hóa là bảo đảm thuận lợi cho việc thực hiện các điều ước quốc tế Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập Trong bộ máy nhà nước, Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo các Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một bên ký kết Như vậy, nhận thức về nghĩa
vụ thực hiện điều ước quốc tế đã đạt được sự thống nhất cao, được thể chế hóa thành pháp luật, tạo cơ sở thuận lợi cho việc chỉ đạo của Chính phủ và việc thực hiện của các cơ quan nhà nước
III Vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế trong pháp luật Việt
Nam
8
Trang 101 Quan niệm về nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia
Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 12 Công ước Viên 1969 thì ĐUQT là văn bản thỏa thuận được ký kết giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế (quốc gia và tổ chức quốc tế) và được điều chỉnh bằng luật quốc tế, bất kể tên gọi của văn bản thỏa thuận đó là gì Các cách thức thể hiện sự đồng ý ràng buộc bởi một ĐUQT của chủ thể luật quốc tế được quy định tại Điều 11 Công ước Viên 1969 bao gồm: Ký, trao đổi các văn kiện hình thành điều ước, thông qua hoặc phê chuẩn (“ratification”), thừa nhận hoặc công nhận (“acceptance”), tán thành hoặc chấp thuận (“approval”), gia nhập(“accession”) hoặc bằng bất cứ cách thức nào được đồng thuận bởi các bên Tuy nhiên, Công ước Viên không nêu cụ thể các cách thức, biện pháp
mà quốc gia thành viên có thể áp dụng để đáp ứng yêu cầu cũng như thực thi quy định của các ĐUQT mà quốc gia đó đã ký kết, gia nhập Hơn thế, trong lời nói đầu và tại Điều 26 Công ước Viên 1969 (UN,1969) quy định:
“Mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hành trên tinh thần thiện chí” Hay tại Điều 27 Công ước Viên 1969 (UN, 1969) quy định: “Một bên không thể viện dẫn những quy định của pháp luật trong nước của mình làm lý do cho việc không thi hành một điều ước” Như vậy, pháp luật quốc tế không quy định quốc gia cần phải thực hiện ĐUQT bằng cách thức nào; các quốc gia có quyền tự do lựa chọn cách thức để thực hiện điều ước, miễn là thực hiện một cách tận tâm và thiện chí Đây cũng là nội dung của nguyên tắc “Pacta sunt servanda”, một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế được ghi nhận trong Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ năm 1970 về những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương LHQ; đồng thời cũng là nguyên tắc được hầu hết các quốc gia thừa nhận và chấp hành Chẳng hạn đối với nhóm ĐUQT chống khủng bố, tinh thần nguyên tắc “Pacta sunt servanda”