1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận triết học mác lênin cuối kì

15 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận về quan hệ giữa vật chất và ý thức để lí giải một vấn đề của thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài thi kết thúc học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 792,8 KB
File đính kèm Bài thi kết thúc học phần Triết học Mác -lênin.rar (792 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận về quan hệ giữa vật chất và ý thức để lí giải một vấn đề củ.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

ĐỀ TÀI: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận về quan hệ giữa vật chất và ý thức để lí giải một vấn đề của thực tiễn ở Việt Nam hiện nay

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

Phần 1: Lí luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 3

I Vật chất 3

1 Khái quát chung về phạm trù vật chất 3

1.1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước C.Mác về phạm trù vật chất 3

1.2 Quan niệm của Triết học Mác - Lênin về vật chất 3

1.2.1 Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin 3

1.2.2 Ý nghĩa phương pháp luận 4

2 Các hình thức tồn tại của vật chất 4

2.1 Vận động 4

2.1.1 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất 4

2.1.2 Những hình thức cơ bản của vật chất 4

2.2 Không gian và thời gian 5

II Ý thức 5

1 Nguồn gốc của ý thức 5

1.1 Nguồn gốc tự nhiên 5

1.2 Nguồn gốc xã hội 6

2 Bản chất của ý thức 6

3 Kết cấu của ý thức 6

III Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 6

1 Vật chất quyết định ý thức 6

2 Ý thức có tính độc lập tương đối tác động trở lại vật chất 6

3 Ý nghĩa phương pháp luận 7

Phần 2: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức để nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn trong quá trình học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay 7

I Vật chất và ý thức 7

1 Thực trạng 7

2 Vật chất 7

3 Ý thức 8

II Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 8

1 Vật chất quyết định ý thức 8

2 Ý thức tác động ngược trở lại vật chất 8

III Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận về mối quan hệ giữa vật chất và kết quả để giải quyết vấn đề thực tiễn 10

IV Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ giữa vật chất và ý thức để đưa ra những biện pháp giải quyết phù hợp 10

KẾT LUẬN 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 3

Chúng ta đang sống trong thời kì kỉ nguyên của kinh tế tri thức, đòi hỏi mỗi con người phải trang bị cho mình hành trang về năng lực, học vấn, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt đẹp để luôn sẵn sàng phục vụ, đáp ứng các yêu cầu của đất nước trong sự thay đổi như vũ bão của khoa học công nghệ

Đứng trước tình hình đó, Đảng ta và Chính phủ linh động đề ra những chủ trương và giải pháp để tìm ra đường lối đúng đắn, phương châm phù hợp để phát triển con người một cách toàn diện cả về trí và lực để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.Vậy làm thế nào để thực hiện tốt được nhiệm vụ đó? Thì điều tiên quyết là phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với

tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho các hoạt động trên mọi lĩnh vực nói chung và nền giáo dục nói riêng

Cụ thể, sự định hướng và đổi mới nền giáo dục có sự ứng dụng của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Do vậy việc vận dụng nội dung, ý nghĩa phương pháp luận về quan hệ giữa vật chất và ý thức là phương châm vô cùng hữu dụng:

nó giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về giáo dục Việt Nam, cụ thể hơn là giáo dục trên giảng đường Đại học tránh cái nhìn tiêu cực Từ đó, đưa ra những phương hướng, biện pháp phù hợp đạt hiệu quả cao giúp cải thiện chất lượng học tập của sinh viên, ngành giáo dục không ngừng đổi mới để tốt đẹp và hoàn thiện hơn

Với ý nghĩa như vậy, đề này em lựa chọn là “Vận dụng nội dung và ý nghĩa

phương pháp luận về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, liên hệ với việc học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay”.

Trang 4

NỘI DUNG Phần 1: Lí luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

I Vật chất

1 Khái quát chung về phạm trù vật chất

Vật chất là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật triết học Chủ đề này đã có mặt trong suốt lịch sử tư tưởng của nhân loại, sự phát triển của phạm trù này gắn liền với sự phát triển của thực tiễn và nhận thức của loài người Đặc biệt xung quanh vấn đề này luôn diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

1.1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước C.Mác về phạm trù vật chất

Trong khi chủ nghĩa duy tâm cho rằng “con người hoặc là không thể hoặc

là chỉ nhận thức được cái bóng, cái bề ngoài của sự vật, hiện tượng”, vật chất

chỉ là sản phẩm của tinh thần thì chủ nghĩa duy vật lại quan niệm vật chất là cái hữu hình rộng rãi tồn tại vĩnh viễn sâu trong mỗi sự vật, hiện tượng; là cái đầu

tiên, là cơ sở sản sinh ra thế giới Chẳng hạn, thuyết Ngũ hành của Trung Quốc

cho rằng năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là các yếu tố khởi nguyên Các phái Hy Lạp - La Mã lại cho rằng vật chất đầu tiên phải là nước (Thales), lửa (Heraclitus),

Một bước tiến quan trọng nhất trong sự phát triển của phạm trù vật chất

chính là định nghĩa vật chất của hai nhà Triết học Hy Lạp: Lơxíp và Đêmôcrít với Thuyết Nguyên tử - vật chất là nguyên tử, là những hạt nhỏ nhất, không thể

phân chia, không đồng chất, tồn tại vĩnh viễn với muôn hình vạn trạng Đây là một bước ngoặt mới trong con đường hình thành phạm trù vật chất, tạo cơ sở điều kiện cho nhận thức khoa học sau này

1.2 Quan niệm của Triết học Mác - Lênin về vật chất

Theo Ph.Ănghen, để có một quan niệm đúng đắn về vật chất, cần phải có

sự phân biệt rõ ràng giữa vật chất với tính cách là một phạm trù triết học, là một

sáng tạo của tư duy con người Cụ thể, bản thân phạm trù vật chất không phải

“sự tùy tiện hóa” của tư duy con người mà là kết quả của sự “trừu tượng hóa” của tư duy con người về mọi vật “có thể cảm nhận được bằng các giác quan” Ông cũng chỉ rõ các sự vật, hiện tượng trên thế giới dù vô cùng đa dạng, phong

phú nhưng vẫn tồn tại thống nhất, nội tại với nhau đó là tính vật chất

1.2.1 Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin

Kế thừa tư tưởng trên của Ph.Ănghen, Lênin tiến hành tổng kết các thành tựu khoa học tự nhiên, khẳng định bản chất của vật chất và cuối cùng đưa ra một định nghĩa kinh điển:

“Vật chất là một phạm trù triêt học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Ví dụ: các sự vật, hiện tượng như nguyên tử, phân tử, nước, lửa, mưa, sách, vở,

Trang 5

Chung quy lại định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao gồm những nội dung

cơ bản sau:

- Vật chất là tất cả những gì tồn tại khách quan - mọi sự tồn tại, vận động và

phát triển đều độc lập, không phụ thuộc vào ý chí, nguyện vọng, tâm tư ý thức của con người

Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của ý thức -khi tác động vào giác quan sẽ đem đến cho người cảm giác

- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh vật chất, con người hoàn toàn có thể nhận thức và cải tạo thế giới

1.2.2 Ý nghĩa phương pháp luận

Với những nội dung cơ bản trên định nghĩa vật chất của V.I.Lênin có nhiều

ý nghĩa to lớn:

- Giải đáp một cách đầy đủ, đúng đắn, triệt để cả hai mặt vấn đề cơ bản của Triết học

- Khắc phục hạn chế về mặt nhận thức siêu hình, máy móc, trực quan, cảm tính của chủ nghĩaduy vật trước C.Mác

- Chống lại các quan điểm duy tâm cả chủ quan lẫn khách quan về vật chất

2 Các hình thức tồn tại của vật chất

Vật chất tồn tại bằng cách vận động và vận động trong không gian và thời gian Vì vậy, vận động là phương thức tồn tại của vật chất, còn không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất

2.1 Vận động

“Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất là phương thức tồn tại của vật chất

và là thuộc tính cố hữu của vật chất bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”

2.1.1 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

Không vật chất nào không vận động.

Từ những thiên thể khổng lồ đến những hạt nhân vô cùng nhỏ, từ giới vô sinh đến hữu sinh, từ quần thể thiên nhiên đến xã hội loài người tất cả đều phải vận động, không ngừng biến đổi từ hình thái này sang hình thái khác.Nguồn gốc

của vận động là do yếu tố bên trong - tự vận động

Trái ngược hoàn toàn với quan điểm siêu hình: vận động là sự di chuyển vị trí cả vật thể trong không gian, thời gian Nguồn gốc của vận động là ở bên ngoài sự vật, hiện tượng

Không vận động nào vận động ngoài vật chất

2.1.2 Những hình thức cơ bản của vật chất

Có 5 hình thức vận động cơ bản (từ thấp - cao, đơn giản - phức tạp và liên

hệ chặt chẽ với nhau):

- Vận động cơ học ( sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian)

- Vận động vật lí ( vận động điện tử, nhiệt điện, quang điện, )

Trang 6

- Vận động hóa học (vận động của các nguyên tử, quá trình hóa hợp, biến đổi các chất)

- Vận động sinh học (quá trình trao đổi chất)

- Vận động xã hội (sự biến đổi, thay thế các quá trình xã hội qua các hình thái kinh tế- xã hội)

Các hình thức vận động cơ bản có sự khác nhau về chất song chúng không tồn tại biệt lập và có mối quan hệ mật thiết với nhau: hình thức vận động cao xuất hiện và bao hàm hình thức vận động thấp hơn nó; mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau song chúng vẫn được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó có

2.1.3 Đứng im

Đứng im là trạng thái vận động đặc biệt, trạng thái cân bằng, ổn định tạm thời, thoáng qua của vật chất

Nó chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định, nó cũng chỉ xảy ra với một hình thái vận động tại một thời điểm nào đó chứ không phải mọi lúc mọi nơi Sự vật, hiện tượng khác nhau, ở các điều kiện khác nhau thì đứng im cũng khác nhau

Ngay trong khi đứng im vẫn diễn ra những quá trình biến đổi nhất định

2.2 Không gian và thời gian

Không gian và thời gian là thuộc tính khách quan của vật chất, gắn liền với

sự vận động của vật chất

Không gian

Mọi vật chất tồn tại ở một dạng cụ thể (chiều cao, độ dài, bề rộng, ), trong mối tương quan (trước - sau, trên - dưới, trong - ngoài, ) và những dạng vật chất khác được gọi là không gian

Thời gian

Quá trình biến đổi của vật chất: nhanh, chậm, kế tiếp, chuyển hóa, sự xuất hiện, mất đi, chính là thời gian

Không gian và thời gian là hai thuộc tính khác nhau nhưng chúng luôn tồn tại cùng nhau không tách rời, vì thế chúng có một số tính chất sau:

- Tính khách quan: không gian và thời gian là một thuộc tính của vật chất gắn liền với vận động Vậy nên nó cũng mang tính tồn tại khách quan như vận động

- Tính vĩnh cửu, vô tận: không gian và thời gian là bất biến, không tận cùng

- Vật chất có 3 chiều không gian (chiều dài, chiều rộng, chiều cao) và 1 chiều thời gian (quá khứ tới tương lai)

I Ý thức

1 Nguồn gốc của ý thức

Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo vào bộ óc khách quan ý thức con người

1.1 Nguồn gốc tự nhiên

Trang 7

Sự hình thành và phát triển bộ óc con người cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ

não con người dẫn đến sự phản ánh.

1.2 Nguồn gốc xã hội

Nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động và ngôn ngữ, hai yếu tố này vừa là nguồn gốc, vừa là tiền đề cho sự ra đời của ý thức

Sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động (yếu tố quan trọng nhất)

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu mang thông tin của ý thức

Bên cạnh những yếu tố sinh,lí học, lao động và ngôn ngữ là hai yếu tố kích thích chủ yếu ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn làm bọ óc của nó dần trở thành

bộ óc con người, tâm lí động vật cũng dần chuyển sang ý thức

2 Bản chất của ý thức

- Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo của khách quán vào bộ óc con người Tính năng động, sáng tạo thể hiện trong việc con người tiếp nhận, lưu trữ thông tin luôn tìm ra những phương hướng, cách thức để xử lí vấn đề Sự năng động, sáng tạo vượt bậc khi con người tự sáng tác ra những cuốn sách, tiểu thuyết, đưa ra những lí luận phân tích mang tính thế kỉ Bản chất này của ý thức luôn luôn tồn tại và phát triển không ngừng

- Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Đó là hình ảnh về thế giới khách quan được cải biến thông qua lăng kính chủ quan của con người.Hình ảnh đó có thể xa, gần, mờ nhạt hay rõ nét sẽ tùy thuộc vào cách nhìn và cảm nhận của mỗi con người

- Ý thức mang bản chất của xã hội Ý thức nảy sinh từ lao động, hoạt động cải tạo thế giới - đó chính là hoạt động của toàn xã hội, do đó ý thức của mỗi các nhân mang trong lòng ý thức của toàn xã hội

3 Kết cấu của ý thức

Theo cấu trúc, kết cấu của ý thức gồm tri thức (yếu tố quan trọng nhất),

tình cảm, niềm tin, ý chí Còn xét về cấp độ, có 3 cấp: tự ý thức, tiềm thức và vô thức

II Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

1 Vật chất quyết định ý thức

Vật chất luôn giữ vai trò quyết định với ý thức.Bởi ý thức là sản phẩm của

bộ óc con người Hay như ở phần nguồn gốc, ý thức là sự tương tác giữa bộ não con người và thế giới khách quan

Ví dụ: Tarzan - cậu bé rừng xanh, bản thân cậu là con người nhưng lớn lên trong rừng cùng các loài động vật hoang dã thì cho dù sau này lớn có trở xã hội cũng sẽ mang những bản chất hoang dại, hành động cảm tính hoàn toàn không

có ý thức

2 Ý thức có tính độc lập tương đối tác động trở lại vật chất

Trang 8

Nếu ý thức phản ánh đúng các quá trình vật chất và chỉ đạo con người theo hướng tích cực và đúng đắn thì quá trình vật chất sẽ ngày càng được cải thiện và nâng cao Ngược lại, nếu ý thức không còn là ý thức thì sẽ kìm hãm quá trình phát triển của vật chất

Ví dụ: Nhận thấy tình hình dịch bệnh Covid-19 ngày càng phức tập, mỗi người dân khi có việc thực sự cần thiết thì mới ra ngoài, tránh tụ tập đông người

để làm giảm thiểu số ca nhiễm, đẩy lùi dịch bệnh một cách nhanh chóng nhất

3 Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong mọi hoạt động thực tiễn, cần phải thực tế khách quan, tránh cái nhìn chủ quan, siêu hình, máy móc; phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức

- Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức con người

Phần 2: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức để nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn trong quá trình học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay.

I Vật chất và ý thức

1 Thực trạng

Nói đến sinh viên Việt Nam chính là nói đến một thế hệ trẻ đầy sức sống và sáng tạo; là tầng lớp tri thức đại diện, quyết định tương lai đất nước sau này Họ nắm trong tay chìa khóa để mở ra cánh cửa cho sự tiến bộ của xã hội và sự phát triển hưng thịnh của đất nước

Về mặt số lượng, sinh viên là lực lượng không hề nhỏ đến từ mọi miền Tổ quốc với những xuất thân, hoàn cảnh khác nhau và ngày càng tăng lên

Hiện nay có tổng số 237 trường Đại học bao gồm vừa công lập vừa ngoài công lập Số liệu thống kê năm học 2018-2019, có khoảng 413.277 tân sinh viên; sang năm học 2019-2020 con số đã lên tới 447.483 sinh viên Về mặt chất lượng, họ được đào tạo, trang bị đầy đủ kĩ năng, kiến thức toàn diện và đầy đủ nhất so với các cấp học bao gồm rất đa dạng ngành, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau phù hợp với khả năng, sở thích, nhu cầu và thế mạnh của từng bạn

2 Vật chất

- Tư tưởng chủ quan, bị động không chịu tu dưỡng bản thân, hoàn toàn phụ thuộc vào những yếu tố khách quan khác

- Chưa có kế hoạch rõ ràng cho việc học tập, mất cân bằng giữa học và chơi; chưa tìm hiểu kĩ càng ngành mình đang theo học và ngành sở thích của mình; chọn ngành theo xu hướng, theo độ “hot”không dựa trên cơ sở là năng lực

và khả năng của mình

- Giáo dục trong gia đình bị buông lỏng, bố mẹ quá cưng chiều hoặc thờ ơ, thiếu quan tâm đến con cái mình

- Lớp học quá đông khiến sinh viên không hoàn toàn tập trung, giảng viên đồng thời cũng không kiểm soát được lớp học

- Nội dung bài giảng còn quá nặng về lí thuyết chưa sát thực tế

- Cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế

Trang 9

- Ảnh hưởng của dịch bệnh cũng phần nào tác động đến quá trình học tập của sinh viên

3 Ý thức

- Bằng sự sáng tạo và nghị lực của mình, các bạn sinh viên vượt lên trên mọi hoàn cảnh, khắc phục biến những khó khăn thử thách thành động lực để ngày càng thành công, phát triển, tiến bộ hơn

- Bên cạnh đó, vẫn còn lác đác một bộ phận không có ý thức trong việc học

và hành của bản thân, thờ ơ, sao nhãng, không có mục đích học tập, luôn bị kéo lại phía sau

II Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

1 Vật chất quyết định ý thức

- Với sự lên ngôi của cônng nghệ thông tin, sinh viên ngày nay đang có xu hướng bị lệ thuộc quá nhiều vào internet Đa số các bạn bị thụ động trong quá trình học tập, phụ thuộc hoàn toàn vào mạng xã hội không chịu vận động tư duy, lười suy nghĩ lâu dần sẽ trở thành thói quen vô cùng xấu, tư duy não bộ hoạt động chậm chạp, kém linh hoạt Không những vậy thời gian chơi game, lướt facebook, tiktok, còn nhiều hơn thời gian các bạn dành cho việc học tập Nghiên cứu của sinh viên y đa khoa trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2019 Tiến hành phỏng vấn 460 sinh viên theo bộ câu hỏi tự điền về việc sử dụng Internet cho thấy 100% sinh viên đều đang sử dụng Internet; và có tới 38,5% sinh viên có dấu hiệu bị lệ thuộc vào mạng xã hội

- Hay trong thời kì dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra vô cùng phức tạp và ngày càng gia tăng trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng và phạm vi các nước nói chung Thành phần bị ảnh hưởng nhiều nhất chính là học sinh, sinh viên Thay vì, được cắp sách tới trường, gặp bạn bè, thầy cô, được nói chuyện, trao đổi bài học với nhau thì chúng ta phải “giam mình” trong bốn bức tường,

“làm bạn” với màn hình máy tính Khi học online, sinh viên phải đối mặt với rất nhiều rủi ro: đường truyền mạng, thiết bị điện tử, môi trường học tập, sức khỏe, Việc thường xuyên tiếp xúc với máy vi tính khiến thị lực giảm sút, giáo viên không kiểm soát được toàn bộ hành vi của sinh viên

Theo thống kê của viện nghiên cứu khoa học Cali (Mỹ) thì ngồi bên máy tính quá 5 giờ/ngày sẽ khiến tinh thần, sức đề kháng bệnh tật, hoạt động của tim đều bị suy giảm tối thiểu là 10%

Một cuộc khảo sát khác thì có đến 64% sinh viên cho rằng không có không gian riêng tư để học tập trực tuyến và thường bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn 79,1%; 71% sinh viên nhấn mạnh thường bị người nhà làm phiền và cảm thấy gò bó, không được đi lại chiếm tỉ lệ 73,7% Cùng với đó, những yếu tố tâm lý như

“Khó tập trung”, “Thiếu động lực”cũng là một trong những rào cản mà sinh viên gặp phải khi học tập trực tuyến

2 Ý thức tác động ngược trở lại vật chất

Số lượng sinh viên được phủ sóng rộng rãi trên toàn đất nước Việt Nam tại các trường Đại học, Cao đẳng, mà thường tập trung ở các thành phố lớn

Trang 10

Chính vì vậy, mỗi năm có hàng ngàn hàng triệu thí sinh ở những tỉnh lẻ phải di chuyển đến địa điểm nơi mình học tập ở trọ, kí túc xá tại trường Việc rời vòng tay bao bọc, xa gia đình để thích nghi một môi trường sống mới cũng gây ra không ít khó khăn nhất là các bạn tân sinh viên

Về mặt tích cực, với tư duy sáng tạo, không ngừng học hỏi, đổi mới bản

thân và luôn cập nhật những xu thế mới nhất trong thời đại 4.0, môi trường cũng không thể nào cản trở các bạn phát triển bản thân và thích nghi một cách nhanh chóng

Các hoạt động như: giao lưu kết bạn mở rộng mối quan hệ , du lịch trải nghiệm tìm hiểu những địa điểm danh lam thắng cảnh nổi tiếng tại khu vực mình theo học, đó là những cách giúp các bạn sinh viên trở nên cởi mở hơn, tích lũy được nhiều kiến thức thú vị hơn, tiếp thu những nét văn hóa có giá trị hơn, Họ không ngừng đi và học hỏi Rất nhiều bạn sinh viên nghiên cứu sáng chế ra những thiết bị, động cơ và không ít những phát minh trong số chúng cũng được áp dụng trong hoạt động thực tiễn Ngoài các hoạt động của Hội sinh viên, câu lạc bộ; các công tác xã hội bên ngoài cộng đồng cũng được sinh viên hưởng ứng rất nhiệt tình: tình nguyện viên cho các cuộc thi cấp quốc gia, hiến máu, quyên góp, Họ không chỉ học tập trong môi trường giảng đường Đại học, trong phạm vi một lớp học mà tinh thần học tập ở khắp mọi nơi, ở bất cứ nơi nào bản thân cảm thấy phù hợp.Các bạn sinh viên không ngừng đổi mới các phương thức học tập sao cho kiến thức được dung nạp vào là tối ưu nhất có thể

Cuộc sống độc lập cũng đang là xu thế các bạn sinh viên hiện nay hướng tới Không chỉ riêng việc học tập mà mọi hoạt động trong cuộc sống sinh viên cũng đều chủ động Ngoài giờ lên lớp, sinh viên thường đi các thư viện, nhà sách tìm đọc và mua những cuốn sách phục vụ cho công tác học tập hành của mình Ngoài ra các bạn còn tìm kiếm cho mình những công việc partime để kiếm thêm chi phí trang trải cho cuộc sống hàng ngày Bố mẹ ở quê ngày đêm vất vả kiếm đồng tiền bằng mồ hôi công sức gửi lên cho mình học tập, dồn hết tình thương, niềm hy vọng vào đứa con yêu quý - chính là động lực, hậu phương to lớn, vững chắc nhất để bản thân không ngừng cố gắng học tập, nỗ lực phấn đấu để thành công đền đáp công lao cha mẹ

Khoảng 30% sinh viên tham gia khảo sát nói rằng họ đi làm thêm để trang trải một phần chi phí học tập.Tỷ lệ sinh viên vừa học vừa làm rất cao, cứ 5 sinh viên lại có 4 người (83%) vừa học vừa làm, hầu hết là do họ cần kiếm thêm thu nhập

Về mặt tiêu cực, điểm đáng báo động nhất với tình hình học tập hiện tại của

sinh viên là bị động trước mọi hoàn cảnh Họ không có một mục đích học tập cố định nào cho mình vì bản thân chẳng biết mình muốn gì hoặc học theo tư tưởng

“Bố mẹ đặt đâu con nằm đấy” Ý thức của họ bị ỷ lại vào hoàn cảnh Sinh ra những vấn nạn trong xã hội: sự thờ ơ vô cảm, thái độ phó mặc cuộc đời dẫn đến

dễ bị cám dỗ bởi vật chất, những lời dụ dỗ mật ngọt, sống vô kỉ luật, đua đòi xa ngã vào các tệ nạn

Một thực trạng tiêu cực tiếp theo đáng lên án là hiện tượng sùng bái hóa vật chất, cái gì cũng có thể giải quyết bằng tiền và quan hệ May mắn các bạn sinh viên ở vùng quê nghèo, một bộ phận “cô chiêu cậu ấm” có tâm lí phụ thuộc vào

Ngày đăng: 23/03/2023, 22:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w