TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN: NGUYÊN LÝ CƠ BẢN MÁC – LÊ-NIN 1 Đề tài: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỀ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỀ GIỮA T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN: NGUYÊN LÝ CƠ BẢN MÁC – LÊ-NIN 1
Đề tài:
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỀ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN
TÍCH MỐI LIÊN HỀ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Hà Nội
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN: NGUYÊN LÝ CƠ BẢN MÁC – LÊ-NIN 1
Đề tài:
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỀ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN
TÍCH MỐI LIÊN HỀ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC
Trang
I Khái quát về phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến 5
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến 6
II Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái 7
1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường 7
2 Tác động của các chính sách tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đến môi trường 7
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Con người đang sống trong một xã hội rộng lớn mà ở đó có rất nhiều những mối liên hệ và sự liên kết Cũng như một tập thể muốn lớn mạnh thì cần có những sự liên hệ, liên kết chặt chẽ, đoàn kết lẫn nhau, con người muốn có một cuộc sống bền vững thì cần phải biết chú trọng vào các mối liên hệ trong xã hội Điển hình trong các mối liên hệ của con người là sự liên hệ với môi trường – nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại
Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, theo vòng xoáy của sự phát triển kinh tế, môi trường đang bị tàn phá càng ngày càng nghiêm trọng bởi chính con người Đồng hành với nó là sự mất đi tính bền vững của các nguồn tài nguyên cũng như sự bền vững của cuộc sống con người về lâu dài
Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam cũng đang từng ngày thực hiện các chính sách tăng trưởng kinh tế Thế nhưng, trải qua một quá trình phát triển kinh tế đem lại lợi ích về nhiều mặt, chúng ta đang phải đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng của môi trường tự nhiên: sự gia tăng ô nhiễm đất, nước, không khí và đặc biệt hơn là làm gia tăng mức tiêu thụ, sự phân hóa giàu nghèo,… Chính từ những điều đó mà môi trường – mối liên kết của các mạng lưới sự sống đang dần bị phá vỡ
Chọn đề tài “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối lên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái”, em muốn góp tiếng nói riêng của mình vào công tác bảo vệ môi trường cũng như góp phần nhỏ bé giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên, do phạm vi vấn đề “tăng trưởng kinh tế” và “bảo vệ môi trường sinh thái”
là rộng lớn và phức tạp nên khó tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế trong đề tài này Em hi vọng sẽ nhận được sự góp ý từ phía thầy cô và các bạn quan tâm đến vấn
đề này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5I KHÁI QUÁT VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN:
1 Sự ra đời của phép biện chứng:
Phép biện chứng ra đời ngay từ khi triết học ra đời Phép biện chứng có ba hình thức cơ bản trong quá trình phát triển của triết học, đó là phép biện chứng chất phác, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật
Thời cổ đại, do trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát triển, nên các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát trực tiếp, mang tính trực quan, cảm tính để khái quát bức tranh chung của thế giới và đưa ra phép biện chứng chất phác
Do thiếu căn cứ khoa học, phép biện chứng này đã bị phép siêu hình, xuất hiện từ nửa cuối thế kỉ XV thay thế
Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn thiện trong triết học của Hêghen - một đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Với một hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật cơ bản, Hêghen đã là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm Tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Hêghen thể hiện ở chỗ: Ông coi “ý niệm tuyệt đối” có trước và trong quá trình vận động phát triển, “ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội, cuối cùng lại trở về với chính mình trong tinh thần
Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà triết học trước đó, dựa trên cơ
sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học thời ấy và thực tiễn lịch sử loài người cũng như thực tiễn xã hội vào giữa thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật, về sau được V.I.Lênin phát triển Thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau trong phép biện chứng ấy Chính vì vậy nó đã khắc phục được những hạn chế, thiếu sót của phép biện chứng chất phác thời cổ đại và phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại Nó đã khái quát đúng đắn những quy luật cơ bản chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới Phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học
Trang 6Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên
lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lý khái quát nhất Theo định nghĩa của Ph.Ăngghen: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
2.1 Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến:
Triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới
Cũng trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng
2.2 Các tính chất của mối liên hệ:
Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng
của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định lẫn nhau, tác động
lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
Cũng theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối
Trang 7liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau Đó chính là tính phổ
biến của các mối liên hệ của các sự vật và hiện tượng.
Quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ khẳng định tính
khách quan, tính phổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa
dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện
ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau
Quan điểm về tính phong phú, đa dạnh của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên
hệ đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến:
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, do đó khi nhận thức
về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay
về tính quy luật của chúng
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn
Trang 8Đồng thời, từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh
và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện
II MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG SINH THÁI:
1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường:
Môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện vô cơ, hữu cơ của các hệ sinh thái ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội loài người Nó là những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người Còn tăng trưởng kinh tế nhằm cải thiện và phát triển đời sống của con người
Vì vậy giữa môi trường sinh thái và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ Như chúng ta đã biết môi trường sống được sinh ra và tồn tại trong tự nhiên, vì vậy có thể nói nó tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức con người Tuy nhiên sự phát triển của môi trường lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của con người, con người có thể tác động làm cho môi trường tốt lên hoặc xấu đi Tăng trưởng kinh tế lại được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào con người nên
nó tồn tại chủ quan Môi trường chịu tác động trực tiếp của con người, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào con người từ đó ta có thể thấy môi trường cũng chịu tác động
Trang 9của tăng trưởng kinh tế và ngược lại, mối quan hệ giữa chúng được thông qua một thực thể đó là con người
Môi trường là địa bàn để tăng trưởng kinh tế hoạt động vì tăng trưởng kinh tế diễn ra trên diện rộng và cần khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ cho lợi ích của con người Nhưng tài nguyên của môi trường không phải là vô hạn
Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không nghĩ đến việc cải tạo môi trường thì một ngày nào đó tăng trưởng kinh tế phải dừng lại do môi trường bị suy thoái Lúc đó con người phải gánh chịu hậu quả do chính con người gây ra Một sản phẩm do con người tạo ra lại phá huỷ cái mà con người chịu tác động trực tiếp vì con người không thể sống mà không chịu sự tác động của môi trường Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế gắn với việc bảo vệ môi trường thì không những nó làm cho đời sống của con người ngày càng được cải thiện mà nó còn làm cải thiện cả môi trường do kinh tế phát triển nhà nước có ngân sách cho những dự án bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên bị khai thác được thay thế dần bởi các nguồn tài nguyên tự tạo
2 Tác động của các chính sách tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đến môi trường:
2.1 Trong nông nghiệp:
Nước ta là một nước có nền kinh tế xuất phát điểm là nông nghiệp và cho đến nay, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào tài nguyên, nông sản và hàng sơ chế Kim ngạch xuất khẩu khoáng sản và hàng hoá nông lâm, thuỷ hải sản chiếm tới 63% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Nước ta đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình này hứa hẹn nhiều cơ hội cho Việt Nam đẩy mạnh sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn của thị trường quốc tế.Tuy nhiên đi đôi với sự gia tăng này của các hoạt động sản xuất là khả năng gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường ngày càng lớn
Sự gia tăng xuất khẩu các mặt hàng từ nguồn tài nguyên không tái tạo được và việc khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên có thể tái tạo nhằm phục vụ xuất khẩu có thể làm cạn kiệt nguồn tài nguyên của nước ta trong tương lai Mặt khác, các ngành
Trang 10nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi cũng có nhiều cơ hội để thâm canh, gia tăng sản lượng dẫn đến việc phá huỷ tài nguyên thiên nhiên do khai thác, trồng trọt và chăn nuôi không hợp lí Để tăng sản lượng các loại rau, củ, quả… người nông dân thường phun các loại chất kích thích, phân bón, thuốc trừ sâu…
Trình độ nhận thức và chuyên môn của người dân còn thấp, thêm vào đó đội ngũ cán bộ nông nghiệp còn chưa nhiều vì vậy người nông dân chưa ý thức được hành động của họ sẽ dẫn đến hậu quả gì Việc sử dụng các loại hoá chất và sau đó vứt ngay các loại vỏ, bao đựng trên ruộng trước tiên gây ô nhiễm nguồn nước sau là gây nguy hiểm cho những người sử dụng các loại rau, củ, quả đó
Thực tế là trong năm 2002, ở miền Bắc, giá nhãn và vải đã mất giá nghiêm trọng do Trung Quốc không nhập khẩu vì hàng chưa đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng…
Sử dụng hoá chất không được phép trước tiên là gây ô nhiễm nguồn nước, không tiêu thụ được hàng hoá, sau cùng là gây ra thoái hoá đất- một sự mất mát rất lớn
2.2 Trong công nghiệp:
Thực hiện nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, kể từ năm 1986 Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới Công cuộc đổi mới này được tiến hành toàn diện, trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội như đổi mới tư duy, hệ thống kinh tế, chính sách, thể chế quản lí hành chính… Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế chỉ huy, tập chung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong gần hai thập kỷ qua, thực hiện chủ trương và đường lối đổi mới nền kinh
tế Việt Nam đã đạt được một số thành tựu to lớn Chính sách đổi mới đã mang lại những thay đổi, tạo ra một nền kinh tế năng động, một xã hội văn minh, công bằng và dân chủ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trung bình hơn 7%/năm
Đặc biệt trong công nghiệp, tăng trưởng công nghiệp từ xuất phát điểm chỉ có 0,6% năm 1980 tăng lên đến 6,07% năm 1990 và giai đoạn 1991-2000 tăng lên trung
Trang 11bình 12,9%/năm, trong đó thời kỳ 1991-1995 có tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 17%/ năm Tỷ trọng công nghiệp đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hoá, từ mức 22,7% GDP năm 1991 tăng lên 36,6% năm 2000
Sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá trong những năm qua một mặt là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân nhưng mặt khác nó đã ít nhiều bộc lộ những mặt trái của nó mà nếu không có biện pháp bảo vệ
cụ thể thì trong tương lai không xa chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do chính chúng ta gây ra
Theo ước tính hiện nay nước ta có khoảng trên 60.000 công ty và doanh nghiệp
tư nhân, hơn 4.500 hợp tác xã phi nông nghiệp và trên 2 triệu hộ kinh doanh cá thể Cùng với sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh đó, hiện nay trên cả nước tổng lượng chất thải rắn ước tính khoảng 49.000 tấn/ngày, trong đó chất thải rắn công nghiệp chiếm khoảng 27.000tấn/ngày
Việc quản lý chặt chẽ chất thải rắn nguy hại đang gặp nhiều khó khăn, không
có đủ kho chứa đủ tiêu chuẩn để lưu giữ các chất thải độc hại trước khi xử lí, không
có nhà máy xử lí chất thải độc Phần lớn chất thải rắn nguy hại này thuần tuý chỉ được chôn chung lẫn lộn với rác thải sinh hoạt hay thậm chí đổ ngay tại nhà máy gây mối nguy hại rất lớn đối với môi trường sống
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các cơ sở doanh nghiệp thường thải ra một lượng nước thải khá lớn Đặc biệt là khoảng hơn 90% cơ sở sản xuất cũ chưa có thiết bị xử lí nước thải Phần lớn các nhà máy xí nghiệp nếu có tiến hành xử lí thì chỉ xử lí sơ bộ rồi thải thẳng ra nguồn nước mặt, gây ô nhiễm trầm trọng đối với nhiều dòng sông Tiêu biểu cho trường hợp này là trong năm 2009, nhà máy sán xuất tinh bột Vedan đã thải hàng nghìn tấn nước thải chưa qua xử lí ra sông Thị Vài, gây ô nhiễm nguồn nước sông nghiêm trọng và làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân sống trong khu vực gần con sông này
Trong nhiều trường hợp, nuớc thải ứ đọng lâu ngày còn gây ô nhiễm không khí, mất mỹ quan, lan truyền bệnh dịch và nhiều tác động tiêu cực khác Nước thải công