1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

26 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
Tác giả Nguyễn Linh Hương
Người hướng dẫn TS. Cao Ý Nhi
Trường học Khoa Tài Chính Ngân Hàng - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngân hàng
Thể loại Đề án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 514,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Giáo viên hướng dẫn TS Cao Ý Nhi Sinh viên Nguyễn Linh Hương Lớp 18B06 Chuyên ngành Ngân hàng Khoa Tài chính ngân hàng Mục lục 1I Lời mở đầu 2II Cơ sở lý luận 21 Khái[.]

Trang 1

ĐỀ ÁN

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Giáo viên hướng dẫn TS Cao Ý Nhi

Trang 2

Mục lục

I Lời mở đầu 1

II Cơ sở lý luận 2

1 Khái niệm và đặc trưng của chính sách tiền tệ 2

1.1 Khái niệm 2

1.2 Đặc trưng của Chính sách tiền tệ 3

2 Vị trí và nhiệm vụ của chính sách tiền tệ 4

2.1 Vị trí 4

2.2 Nhiệm vụ 4

3 Mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia 5

3.1 Mục tiêu tổng quát 5

3.2 Mục tiêu điều hành 7

4 Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ 7

4.1 Kiểm soát cung wngsg tiền và điều hòa lưu thông tiền tệ 8

4.2 Kiểm soát hoạt động tín dụng 8

4.3 Kiểm soát ngoại hối 8

5 Công cụ chính sách tiền tệ 9

5.1 Nghiệp vụ thị trường mở 9

5.2 Chính sách chiết khấu 9

5.3 Dự trữ bắt buộc 10

5.4 Kiếm soát hạn mức tín dụng 11

5.5 Quản lý lãi suất của ngân hàng thương mại 11

6 Quá trình hình thành ngân hàng trung ương 11

6.1 Quá trình hình thành 11

6.2 Đặc thù của ngân hàng trung ương 11

7 Chức năng của ngân hàng trung ương 12

7.1 Phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết lượng tiền cung ứng 12

7.2 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng 13

8 Ngân hàng nhà nước Việt Nam 13

III Liên hệ thực tế 13

1 Chính sách tiền tệ ở Việt Nam 14

2 Những số liệu thực tế 14

2.1 Chính sách tiền tệ và những dấu mốc đáng nhớ 14

2.2 Tác động của Chính sách tiền tệ - Dư âm còn đọng lại 18

2.3 Điều hành Chính sách tiền tệ - Một số điểm cần lưu ý 21

Trang 3

I Lời mở đầu

Tài chính – tiền tệ và lý thuyết của nó là lĩnh vực vô cùng nhạy cảm, gần hai thế kỷ trôiqua các cuộc tranh luận về lý thuyết, bản chất và công cụ của lĩnh vực tài chính – tiền tệcũng đã nhiều nhưng chưa đến hồi vãn Vận dụng công cụ, mô hình, Chính sách tài chính

- tiền tệ luôn có vị trí chủ chốt tác động đến nền kinh tế của mỗi quốc gia

Nói đến tiền là nói đến sự ổn định của tiền, mà sự ổn định của tiền liên quan mật thiết

và chịu sự ràng buộc bởi hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng Thông qua các thao táccủa mình, Ngân hàng Trung ương có thể làm thay đổi tiền tệ trên tất cả các mặt: lưulượng, chi phí, giá trị… Toàn bộ các thao tác có liên quan đến tiền của Ngân hàng tungương luôn nằm trong hệ thống những ý đồ mang tính chiến lược mà người ta gọi là chínhsách tiền tệ

Sự bùng phát của lạm phát vào những tháng đầu năm 2008 ít nhất cũng mang lại chochúng ta một khía cạnh tích cực - làm cho nhiều người giật mình về vai trò quan trọngcủa chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Lý thuyết được thực tiễn làm sáng tỏ Rõ ràng,với chính sách tiền tệ không thể xem thường hay thờ ơ với nó

Trong lĩnh vực Tài chính – tiền tệ Chính sách tiền tệ có tính chất khá quan trọng vàcòn mang tính quyết định trong việc quản lý và kiểm soát lượng tiền trong mỗi quốc gia

Để việc điều tiết nền kinh tế vai trò của Ngân hàng tung ương gần như then cốt Mộttrong những công cụ hữu ích giúp Ngân hàng tung ương có thể điều tiết được nền kinh tếchính là Chính sách tiền tệ

Với những lý do như trên tôi đã chọn chương Ngân hàng tung ương và Chính sách tiền

tệ làm đề án cho môn chuyên ngành – chuyên ngành Ngân hàng Tuy nhiên, trong giớihạn thời gian cho phép và sự hiểu biết còn rất nhiều hạn chế về môn học Lý thuất tàichính tiền tệ nên chuyên đề này rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo hướng dẫn vàcác bạn sinh viên

Trang 4

II Cơ sở lý luận

Tiền tệ và tài chính là những phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất và lưu thông hànghóa Nó có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốcgia cũng như trên phạm vi quốc tế, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường – Nền kinh tếđược tiền tệ hóa cao độ

Kinh tế học đã chỉ ra rằng tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sựphát triển và ra đời của nền kinh tế hàng hóa Tiền tệ là sản phẩm tất yếu của nền kinh tếhàng hóa, nhằm tạo điều kiên thuận lợi cho quá trình trao đổi hàng hóa dịch vụ Về bảnchất, tiền tệ là vật ngang giá chung, là phương tiện để trao đổi hàng hóa, dịch vụ vàthanh toán các khoản nợ Theo Frederic S.Mishkin – Trường đại học Columbia Mỹ “Tiền tệ

là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ,hoặc trong việc trả nợ”

Tuy nhiên, để có một định nghĩa chính xác về tiền tệ cũng là điều không đơn giản Giáo

sư Milton Spercer cũng thừa nhận rằng “nếu bạn cho rằng, bạn hiểu một cách chính xáctiền tệ là gì thì bạn còn giỏi hơn nhiều nhà kinh tế”

Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế hàng hóa phát triển cao độ và trình

độ công nghệ ngân hàng hiện đại, thì câu trả lời cho tiền tệ vẫn là điều bí ẩn Trong khicác quan niệm cổ điển cho rằng, tiền tệ là vàng, là bạc hoặc là các tờ giấy bạc ngân hàngthì các nhà kinh tế học hiện đại còn cho rằng: kỳ phiếu, hối phiêu, séc cũng là tiền tê

Sự bùng phát của lạm phát vào những tháng đầu năm 2008 ít nhất cũng mang lại chochúng ta một khía cạnh tích cực - làm cho nhiều người giật mình về vai trò quan trọngcủa chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Lý thuyết được thực tiễn làm sáng tỏ Rõ ràng,với chính sách tiền tệ không thể xem thường hay thờ ơ với nó

1.Khái niệm và đặc trưng của chính sách tiền tệ

1.1 Khái niệm

Hoạt động của Ngân hàng liên quan đến sự ổn định của tiền tề về lưu lượng, chi phí vàgiá trị dẫn đến sự tác động vào giá cả hàng hóa và giá trị tài sản, thu nhập của nhân dân,làm chuyển biến mức sống của họ theo hai hướng khó khăn, đắt đỏ hay thuận lợi, tiệnnghi Vì vậy, để đạt được sự biến động về đời sống và sinh hoạt kinh tế của cả cộng đồng,người ta có thể bắt đầu bằng tác động vào tiền tệ Mối quan hệ nó đã làm cho những biếnđộng về tiền tệ được gọi là chính sách tiền tệ

Tùy theo trình độ phát triển kinh tế, thể chế trính trị và giác ngộ nghiên cứu, người taphân biệt chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường : Chính sách tiền tệcủa Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ quốc gia

Chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiềntrong nền kinh tế nhằm phân bổ một cách hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên nhằm thực

Trang 5

hiện các mục tiêu tăng trưởng, cân đối kinh tế, trên cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiềnquốc gia.

Chính sách tiền tệ theo nghĩa hẹp, là chính sách đảm bảo sao cho khối lượng tiền cungứng tăng thêm trong một năm tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát(nếu có) nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩmô

Chính sách tiền tệ quốc gia là tổng thể các biện pháp của nhà nước pháp quyền nhằmcung ứng đầy đủ các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế phát triển, trên cơ sở đó ổnđịnh đồng tiền quốc gia

Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương là tổng thể các biện pháp, công cụ màNgân hàng trung ương sử dụng nhằm điều tiết khối lượng tiện tệ, tín dụng, ổn định tiền tệgóp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế

Dù quan niệm Chính sách tiền tệ theo nghĩa nào, Chính sách tiền tệ đều nhằm mụctiêu ổn định giá trị tiền tệ, góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế Chínhsách tiền tệ là một bộ phận của tổng thể các chính sách kinh tế của nhà nước để thựchiện vai trò quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế

1.2 Đặc trưng của Chính sách tiền tệ

1.2.1 Chính sách tiền tệ là một bộ phần hữu cơ cấu thành chính sách quốc gia

Trong tổng thể chính sách kinh tế - tài chính của một quốc gia mỗi chính sách đều cómột vị trí và vai trò riêng Trong đó Chính sách tiền tệ luôn được coi là vị trí trung tâm gắnkết các chính sách lại với nhau.Người ta cho rằng mức độ tiền tệ hoa cao hay thấp củamột nền kinh tế phản ảnh trình độ phát triển kinh tế của nước ấy Do đó, tiền tệ đã thâmnhập và trở thành một yếu tốt hết sức quan trọng trog mọi nền kinh tế Chình vì vậy,Chính sách tiền tệ phait là một bộ phận trung tâm của các chính sách kinh tế - tài chínhquốc gia

1.2.2 Chính sách tiền tệ là công cụ thuộc tầm vĩ mô

Để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã được hoạch định, chính phủ cần phải sửdụng một hệ thống công cụ Nếu xét riêng về chính sách kinh tế, có bốn chính sách thôngdụng được sử dụng: chính sách tài khóa, Chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế đối ngoại

và chính sách thu nhập

Chính sách tiền tệ được sử dụng để làm thay đổi lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế,

từ đó tác động đến lãi suất, ảnh hưởng đến đầu tư, ảnh hưởng đến sản xuất và lưu thônghàng hóa Do vậy, Chính sách tiền tệ là chính sách thuộc tầm vĩ mô

Trang 6

1.2.3 Ngân hàng trung ương là người đề ra và vận hành Chính sách tiền tệ

Do Chính sách tiền tệ luôn hướng vào việc thay đổi lượng tiền cung ứng nên chủ thểnào thực hiện chức năng phát hành tiền tệ và điều hòa lưu thông tiền tệ thì chính churthể đó phải trực tiếp vạch ra và thực thi Chính sách tiền tệ Chủ thể đó không ai khácngoài Ngân hàng trung ương

1.2.4 Mục tiêu tổng quát của Chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền và góp phần thực hiện một số mục tiêu kinh tế vĩ mô khác

Bất kỳ một nền kinh tế nào, vai trò của ổn định tiền tệ và sức mua đồng tiền trongnước cũng luôn được coi là mục tiêu có tính chất dài hạn Trên cơ sở thực thi Chính sáchtiền tệ, nhằm tác động đến lượng tiền cung ứng để từ đó tác động đếnn hàng loạt các yếu

tố khác trong nền kinh tế như lãi suất, lạm phát, đầu tư, việc làm… ổn định giá trị đồngtiền là mục tiêu trọng tâm của Chính sách tiền tệ Có ổn định được tiền tệ thì mới khuyếnkhích tiết kiệm, có tiết kiệm mới có đầu tư và có đầu tư mới có tăng trưởng kinh tế, giảmthất nghiệp…

2.Vị trí và nhiệm vụ của chính sách tiền tệ

2.1 Vị trí

Kinh tế thị trường về thực chất là một nền kinh tế tiền tệ Ở đó, bao giờ Chính sách tiền

tệ cũng là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng nhất của nhà nước,bên cạnh chính sách tài khóa, chính sách phân phối thu nhập, chính sách đối ngoại…Ngân hàng trung ương sử dụng Chính sách tiền tệ nhằm gây ra sự mở rộng hay thắtchặt lại trong việc cung ứng tiền tệ, đưa sản lượng và việc làm của quốc gia đến mứcmong muốn

Trong một khoảng thời gian, Chính sách tiền tệ có thể được hoạch định theo hai hướng:Chính sách tiền tệ mở rộng: Sự điều tiết của Ngân hàng trung ương nhằm tăng lượngtiền cung ứng > Lãi suất giảm > Khuyến khích đầu tư > Mở rộng sản xuất kinh doanh vàtạo việc làm cho người lao động Trong trường hợp này Chính sách tiền tệ nhằm chốngsuy thoái kinh tế và thất nghiệp

Chính sách tiền tệ thắt chặt: Sự điều tiết của Ngân hàng trung ương nhằm giảm lượngtiền cung ứng > Lãi suất tăng > Hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá đà của nềnkinh tế Trường hợp này Chính sách tiền tệ nhằm khắc phục tình trạng tăg trưởng quángắn của nền kinh tế hoặc chống lạm phát

Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất của Ngân hàng trung ương Cóthể coi Chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt trong mọi hoạt động của Ngân hàngtrung ương Các hoạt động khác của Ngân hàng trung ương đều nhằm thực thi Chính sáchtiền tệ đạt được mục tiêu của nó

Trang 7

2.2 Nhiệm vụ

Chính sách tiền tệ, một mặt là cung cấp đủ phương tiện thanh toán cho nền kinh tếmặt khác giữ ổn định giá trị đồng bản tệ Để thực hiện điều đó, thông thường trên thế giớiviệc sử dụng và thực hiện Chính sách tiền tệ được giao cho Ngân hàng trung ương Cómột số nước, việc xây dựng Chính sách tiền tệ có thể do một cơ quan khác nhưnng thựchiện Chính sách tiền tệ vẫn là Ngân hàng trung ương Tuy nhiên trong lĩnh vực này Ngânhàng trung ương cần được độc lập ở một mức độ nhất định đối với chính phủ

3.Mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia

Mục tiêu của Chính sách tiền tệ bao gồm mục tiêu cuối cùng và mục tiêu điều hành

Để đạt được các mục tiêu đã xác định Ngân hàng trung ương sử dụng một số công cụ đểtác động vào lượng tiền cung ứng và các chỉ tiêu khác Dưới đây là cơ chế truyền dẫn tácđộng tổng thể đến chính sách tiền tệ

3.1 Mục tiêu tổng quát

3.1.1 Kiểm soát lạm phát ổn định giá trị đồng bản tệ

Các nhà kinh tế cho rằng lạm phát là căn bệnh kinh niên của nền sản xuất hàng hóa,đặc biệt là nền sản xuất hàng hóa phát triển ở mức độ cao (nền kinh tế thị trường) Trongđiều kiện lưu thông tiền giấy không được tự do chuyển đổi ra vàng, lạm phát luôn là khảnăng tiềm tàng, thậm chí khóa tránh khỏi ở các nước Khi lạm phát gia tăng, nó tác độngđến mọi mặt của nền kinh tế - xã hội làm sai lệch các chỉ tiêu kinh tế làm phân phối lạithu nhập, kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hóa giả tạo Lúc này với chức năng củamình Ngân hàng trung ương luôn coi việc kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền làmục tiêu hàng đầu của Chính sách tiền tệ Ổn định giá cả là điều ai cũng mong muốn bởi

vì, giá cả tăng lên gây tình trạng khó khăn trong cuộc sống cho một bộ phận người laođộng, mất ổn định nền kinh tế xã hội Tình trạng đó gây ra khó khăn trong việc hoạchđịnh xác chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội gây ra những xung đột về quyền lợi của mộtnhóm dân cư Do vậy, kiểm soát lạm phát nhằm ổn định giá cả hàng hóa và dịch vụ làtiền đề cho việc phát triển nền kinh tế lấu bền, bảo đảm ổn định đời sống cho người laođộng

Thông qua Chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương có thể góp phần quan trọngtrong việc kiểm soát lạm phát Nếu Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương nhằm

mở rộng cung ứng tiền tệ thì giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, tất yếu dẫn đến tínhtrạng lạm phát Ngược lại, Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương nhằm thắt chặtcung ứng tiền tệ thì lạm phát giảm xuống Kiếm soát lạm phát được biểu hiện trước hết ởchỗ ổn định giá trị đối nội của đồng tiền, tức là sức mua của nó đối với hàng hóa và dịch

vụ trên thị trường trong nước

Trang 8

Tuy nhiên bên cạnh những tác hại mà lạm phát gây ra cho nền kinh tế , trong mộtchứng mực nào đó, với một tỷ lệ lạm phát vừa phải, lạm phát lại là yếu tố để kích thíchkinh tế tăng trưởng Khi đó lạm phát trở thành công cụ điều tiết Bởi lẽ, trong thực tế để

có một tỷ lệ lạm phát giảm xuống thì thường phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp giatăng nhất định nào đó Trong các chính sách kinh tế xĩ mô của Nhà nước, không thể cóđược một sự ổn định giá trị đồng tiền, khi nền kinh tế đang có một tỷ lệ thất nghiệp giatăng quá đáng Các nhà kinh tế học vẫn thường gọi là liều thuốc bổ cho tăng trưởng kinh

tế Kinh nghiệm của nhiều nước phát triển cho thấy một tỷ lệ lạm phát vừa đủ (thườngmột con số mỗi năm) là cần thiết cho sự phát triển nền kinh tế - xã hội Nhưng cần phảichống lạm phát phi mã (hai con số mỗi năm) và siêu lạm phát (trên hai con số mỗi năm)

3.1.2 Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền trên cơ sở cần bằng cán cân thanh toán quốc tế và ổn định tỷ giá hối đoái

Trong nền kinh tế mở, tốc độ toàn cầu hóa nền kinh tế - tài chính diễn ra rất nhanh.Tác động của hệ thống tài chính vượt ra khỏi gianh giới quốc gia để tác động đến hoạtđộng của các nền kinh tế khác Sự tác động này lớn hay nhỏ phụ thuộc vào mức độhướng ngoại của nền kinh tế đó Sự biến động của tỷ giá hối đoái sẽ tác động đến hoạtđộng kinh tế trong nước, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu Một sự tăng lên trong giátrị đồng bản tệ so với ngoại tệ sẽ hạn chế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, hạn chếxuất khẩu Do đó sẽ gây bất lợi cho những cuộc dịch chuyển ngoại tệ từ nước ngoài vàotrong nước Khi đó khối lượng dự trữ ngoại hối dễ bị xói mòn

Ngược lại, một tỷ giá hối đoái cao (đồng bản tệ giảm giá so với ngoại tệ) có tác dụngbất lợi cho nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu vì làm cho hàng nhập khẩu đắt lên, hàngxuất khẩu rẻ đi sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh, dễ tìm được thị trường hơn Lưu lượngngoại tệ có khuynh hướng chuyển vào trong nước khá hơn, khối lượng dự trữ ngoại hối có

cơ hội gia tăng

Như vậy một tỷ giá hối đoái cáo hay thấp đều xuất hiện những tác động kép: tích cực

và tiêu cực Chính vì vậy nhiệm vụ của Ngân hàng trung ương là sử dụng những công cụ,chính sách của mình để can thiệp giữ cho tỷ giá hối đoái không biến động lớn, tránh gây

sự bất ổn trong nền kinh tế nhằm khuyến khích xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu

3.1.3 Tăng trường kinh tế

Tăng trường kinh tế cao và bền vững là mục tiêu vĩ mô của bất cứ một quốc gia nào.Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn chặt với mục tiêu việc làm cao Chính sách tiền tệ

có thể tác động đồng thời đến hai mục tiêu này Khi cung ứng tiền tệ tăng lên, trong ngắnhạn lãi suất tín dụng giảm sẽ khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăngsản lượng và tăng trường kinh tế Ngược lại khi cung tiền tệ giảm, trong ngắn hạn lãi suấttăng sẽ hạn chế đầu tư, thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho mức sản lượnggiảm, tăng trưởng kinh tế chậm lại Mỗi quốc gia phải xác định một tỷ lệ tăng tưởng kinh

tế dự kiến phù hợp phù hợp với điều kiện nội tại của nền kinh tế nước đó Trên cơ sở đó

Trang 9

căn cứ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện tại là thấp hay cao để sự điều tiết của Chínhsách tiền tệ sẽ hướng vào khuyến khích hay kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế.

3.1.4 Tạo việc làm, giảm thất nghiệp

Việc làm cho người lao động là một vấn đề quan trọng đối với bất cứ quốc gia nào trênthế giới và Việc làm cho người lao động cũng là một mục tiêu của Chính sách tiền tệ.Chúng ta cũng biết rằng nơi nào sức lao động là hàng hóa thì thất nghiệp là một că nbệnh kinh niên

Nếu thất nghiệp cao, nền kinh tế không chỉ tăng thêm những người lao động ngồikhông mà còn tăng thêm những nguồn tài nguyên để không như máy móc, thiết bị, vàlàm cho tổng sản phẩm quốc dân (GDP) giảm xuống Rõ ràng công ăn việc làm cao làđiều ai cũng mong muốn, thông qua Chính sách tiền tệ có thể tác động đến công ăn việclàm tức là tác động đến tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế Nếu Chính sách tiền tệ củaNgân hàng trung ương mở rộng cung tiền thì tạo điều kiện mở rộng đầu tư sản cuất tạonhiều công ăn việc làm, nạn thất nghiệp giảm Ngược lại, cung ứng tiền tệ giảm xuống sẽthu hẹp các hoạt động kinh doanh, công ăn việc làm giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng

3.2 Mục tiêu điều hành

3.2.1 Sự cần thiết phải xác định mục tiêu điều hành

Chính sách tiền tệ là một chính sách điều khiển vĩ mô nền kinh tế hướng đến mục tiêukinh tế vĩ mô Căn cứ vào những mục tiêu này Ngân hàng trung ương lựa chọn nhữngcông cụ can thiệp cần thiết, các công cụ này chủ yếu tác động vào các nguồn đối ứng củakhối tiền tệ

3.2.2 Các loại mục tiêu điều hành

Mục tiêu trung gian là biến số tiền tệ có tác động trực tiếp đến mục tiêu cuối cùng củaChính sách tiền tệ và chịu tác đông gián tiếp bởi sự can thiệp tiền tệ của Ngân hàng trungương Việc đo nhanh và đúng một biến số của chỉ tiêu trung gian là cần thiết, bởi vì chỉtiêu trung gian chí có ích nếu nó báo hiệu nhanh hơn là mục tiêu khi chính sách đi chệchhướng Ngân hàng trung ương phải có khả năng kiểm soát thực sự một biến số, nếu biến

số đó hoạt động như một chỉ tiêu hữu ích Một đặc tính nữa là, nó có khả năng tính trướcđược đối với mục tiêu, một biến số cần phải có thể làm một chỉ tiêu trung gian hữu ích là

nó phải có một ảnh hưởng đón trước được đỗi với mục tiêu

Mục tiêu hoạt động được hiểu là các biến số tiền tệ mà Ngân hàng trung ương có thểtác động trực tiếp, làm thay đổi mục tiêu trung gian và qua thay đổi biến số này, Ngânhàng trung ương điều chỉnh xu hướng diễn biến của thị trường tiền tệ

4.Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là một bộ phận quan trọng cấu thành chính sách kinh tế vĩ mô củaNhà nước Nếu chính sách tài chính tập trung vào thành phần, kết cấu các mức chi phí,thuế khoá của Nhà nước, thì chính sách tiền tệ quốc gia lại tập trung vào việc giải quyết

Trang 10

khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượngtiền cung ứng cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và tín dụng đáp ứng vốn chohoạt động kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo nhữngquỹ đạo đã định, kiểm soát hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chứctín dụng khác, cùng với việc xác định tỷ giá hối đoái hợp lý nhằm ổn định và thúc đẩykinh tế đối ngoại, hướng tới mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua củađồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá.

Nội dung quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là việc cung ứng tiền cho nền kinh tế.Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thể thông qua hoạtđộng của thị trường mở (mua bán giấy tờ có giá), thị trường hối đoái (mua bán ngoại tệ)

và để điều tiết mức tiền cung ứng, Ngân hàng trung ương các nước sử dụng các công cụkhác nhau như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc…

Chính vì thế mà chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế là một điều hiển nhiên, bởi

nó được sinh ra là để điều tiết tiền tệ, mà sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế lạinhư máu lưu thông trong cơ thể con người Không khó khăn nếu muốn chứng minh về vấn

đề này, nhất là trong giai đoạn gần đây - chính phản ứng của thị trường đối với nhữngthay đổi của chính sách tiền tệ sẽ là biểu hiện rõ nhất về những tác động của chính sáchtiền tệ đối với nền kinh tế Những thông tin hàng ngày, hàng giờ về sự suy giảm và khủnghoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ “đại dịch” về cho vay bất động sản ở Mỹ là minh chứng

rõ nhất cho thấy những tác động từ chính sách tiền tệ không chỉ mang lại sự tăng trưởngkinh tế mà còn có thể mang lại hiểm họa cho cả thế giới Tình hình kinh tế Việt Nam trongthời gian gần đây cũng đang có những dấu hiệu bất ổn, ngoài những nguyên nhân kháchquan, chủ quan; trong nước, ngoài nước thì trong đó, chính sách tiền tệ cũng đóng mộtvai trò không kém phần quan trọng

4.1 Kiểm soát cung wngsg tiền và điều hòa lưu thông tiền tệ

Việc vạch và thực thi Chính sách tiền tệ phải khống chế sao cho “khối lượng tiền tệcung ứng trong thời kỳ nhất địnhphải cân đôi với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân danhnghĩa và vòng quay tiền tệ trong thời kỳ đó Tuy nhiên khối lượng tiền tệ tăng lên haygiảm đi chỉ là chỉ tiêu định lượng Điều quan trọng là Ngân hàng trung ương phải theo dõidiễn biến của hoạt động kinh tế, của giá cả và tỷ giá hối đoái, khuynh hướng chỉ tiêu củadân chúng, về mức độ hoạt động không bằng tiền mặt trong nền kinh tế… Từ đó điềuchỉnh kịp thời việc cung ứng tiền sao cho khối lượng tiền tệ tăng hay giảm mà không làmtăng giá cả hoặc thiếu phương tiện thanh toán cho nền kinh tế

4.2 Kiểm soát hoạt động tín dụng

Khối lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại cung ứng cho nền kinh tế chủ yếu từ 3nguồn:

 Vốn tự có của ngân hàng

 Vốn huy động từ các nguồn nhàn rỗi trong nền kinh tế

Trang 11

 Vay tái cấp vốn tại Ngân hàng trung ương

Khi ngân hàng cấp phát tín dụng sẽ diễn ra quá trình tạo tiền gửi và phát sinh bội sốtín dụng Để điều tiết tín dụng và khối lượng tiền tệ, Ngân hàng trung ương sẽ sử dụngmột số công cụ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ tối thiểu bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở…Hoạt động tìn dụng này chỉ xuất hiện khi nền kinh tế thực sự có nhu cầu Khi các Ngânhàng thương mại thiếu phương tiện thanh toán thì họ mới đến Ngân hàng trung ương xinvay tái cấp vốn Ngân hàng trung ương luôn đóng vai trò là chủ jvaf là người cho vay cuốicùng đối với hệ thống Ngân hàng thương mại, nhằm kiểm soát chất lượng và số lượng tíndụng, kiểm soát các nguồn tiền gửi của các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng

4.3 Kiểm soát ngoại hối

Ngoại hối là danh từ dùng chung cho các phương tiện thanh toán quốc tế như vậyngoại hối bao gồm ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ vàbằng các công cụ tiền tệ khác Để ổn định giá trị đối ngoại của đồng bản tệ, Ngân hàngtrung ương thực hiện các giao dịch về tài chính – tiền tệ và sử dụng một số chính sách đểtác động đến khối lượng tiền tệ trên các phương tiện:

 Xây dựng quản lý dự trữ ngoại hối

 Lập và theo dõi diễn biến cán cân thanh toán quốc tế

 Thực hiện các nghiệp cụ hối đoái, tổ chức và điều tiết thị trường ngoại tệ liênngân hàng và tham gia vào thị trường ngoại hối quốc tế

 Ổn định tỷ giá hối đoái để kìm giữ lạm phát, ổn định tỷ giá trong nước

 Quan hệ với các Ngân hàng trung ương khác, các tổ chức tín dụng quốc tếnhằm tìm kiếm nguồn tài trợ có điều kiện ưu đãi, khuyến khích đầu tư nướcngoài và thu hút kiều hối

5.Công cụ chính sách tiền tệ

5.1 Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở là việc Ngân hàng trung ương mua và bán các chứng khoán

có giá mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc nhà nước, nhằm làm thay đổi lượng tiền cung ứng

Sở dĩ Ngân hàng trung ương tiến hành đại bộ phận nghiệp vụ thị trường tự do của mìnhvới tín phiếu kho bạc nhà nước là vì thị trường tín phiếu kho bạc có dung lượng lớn, tínhlỏng cao, rủi ro thấp

Ngân hàng trung ương mua bán chứng khoán trên thị trường sẽ làm thay đổi cơ số tiền

tệ, đó là nguồn gốc chính gây nên sự biến động trong cung ứng tiền tệ Khi ngân hàngmua chứng khoán làm tăng cơ số tiền tệ, qua đó làm tăng lượng tiền cung ứng Khi ngânhàng bán chứng khoán, thu hẹp cơ số tiền tệ, qua đó làm giảm lượng tiền cung ứng Thị trường mở là nghiệp vụ quan trọng nhất của Ngân hàng trung ương trong việc điềutiết lượng tiền cung ứng bởi những ưu thế vốn có của nó:

Trang 12

 Ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị

trường tự do

 Linh hoạt và chính xác, có thể sử dụng ở bất cứ mức độ nào, điều chỉnh mộtlượng tiền cung ứng lớn hay nhỏ

 Ngân hàng trung ương dễ dàng đảo ngược tình thế của mình

 Thực hiện nhanh chóng, ít tốn kém vè chi phí và thời gian

5.2 Chính sách chiết khấu

Chính sách chiết khấu là công cụ của Ngân hàng trung ương trong việc thực thi chínhsách tiền tệ bằng cách cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng kinh doanh Khi Ngân hàngtrung ương cho các ngân hàng kinh doanh vay làm tăng thêm lượng tiền dự trữ cho hệthống ngân hàng, từ đó làm tăng thêm lượng tiền cung ứng

Ngân hàng trung ương kiểm soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động đến giá cảkhoản vay (lãi suất cho vay tái chiết khấu) Khi Ngân hàng trung ương nâng lãi suất tàichiết khấu tức là làm cho giá của khaorn vay tăng, hạn chế cho vay các ngân hàng kinhdoanh giảm xuống, lượng tiền cung ứng giảm Ngược lại, khi Ngân hàng trung ương giảmlãi suất cho vay tái chiết khấu , giá của khoản vay rẻ hơn, khuyến khích cho vay các ngânhàng kinh doanh, làm cho khả năng cho vay của ngân hàng kinh doanh đối với nền kinh

kế tăng lên, lượng tiền cung ứng tăng lên

Những khoản cho vay của Ngân hàng trung ương đối với các Ngân hàng thương mạiđược gọi là cửa số chiết khấu Ngân hàng trung ương quản lý cửa số chiết khấu bằngnhiều cách để khoản vốn cho vay của mình không bị sử dụng không đúng và hạn chế việc

đó Ngoài việc sử dụng làm một công cụ để ảnh hưởng đến cơ sở tiền tệ, chính sách chiếtkhấu còn quan trọng ở chỗ nhằm tránh khỏi những cơn hoảng loạn tài chính cho các Ngânhàng thương mại Bởi vì tiền dự trữ bắt buộc được lập tức điều đến các ngân hàng nàocần thêm tiền Ngân hàng trung ương sử dụng công cụ chiết khấu để tránh những cơn sụp

đổ tài chính bằng cách thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng, là một yêu cầu cực kỳquan trọng để tiến hành Chính sách tiền tệ thành công

Chính sách chiết khấu là một công cụ rất quan trọng trong việc thực thi Chính sáchtiền tệ của Ngân hàng trung ương Nó không chỉ điều tiết lượng tiền cung ứng mà còn đểthực hiện vai trò người cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín dụng và tác động đếnviệc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế

5.3 Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại mà không được dùng đểcho vay hoặc đầu tư, mức dự trữ này cho Ngân hàng trung ương quy định và bằng 1 tỷ lệnhất định so với số tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng Dự trữ bắt buộc làmang tính bắt buộc được giữ ở Ngân hàng trung ương và không được hưởng lãi

Trang 13

Ngân hàng trung ương sử dụng lượng dự trữ bắt buộc để tác động đến lượng tiền cungứng trên hai phương tiện:

Thứ nhất, tỷ lệ dữ trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo tiền gửi của các Ngân hàngthương mại Theo thuyết tạo tiền từ một lượng tiền dự trữ ban đầu hệ thống Ngân hàngthương mại có thể tạo ra một lượng tiền gửi lớn gấp nhiều lần

 Các Ngân hàng thương mại không có tiền dự trữ dư thừa so với tỷ lệ dự trữ bắtbuộc mà Ngân hàng trung ương yêu cầu

 Các khoản tiền gửi do Ngân hàng thương mại tạo ra đều được giữ lại trong hệthống ngân hàng

Như vậy, nếu Ngân hàng trung ương quyết định tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc

sẽ làm cho hệ số tạo tiền thu hẹp hoặc tăng lên

Thứ hai, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của hệ thống Ngân hàngthương mại Tiền dự trữ bắt buộc phải mở tài khoản và gửi tại Ngân hàng trung ương vàkhông được hưởng lãi mặc dù các Ngân hàng thương mại vẫn phải trả lợi tức cho nhữngkhoản tiền gửi ở ngân hàng mình Vì vậy khi mức dự trữ tăng lên đòi hỏi các ngân hàngphải tăng lãi suất

5.4 Kiếm soát hạn mức tín dụng

5.5 Quản lý lãi suất của ngân hàng thương mại

6.Quá trình hình thành ngân hàng trung ương

6.1 Quá trình hình thành

Trong thời kỳ đầu hoạt động, các ngân hàng thực hiện đồng thời các nghiệp vụ : Nhậntiền gửi và cho vay đối với khách hàng, phát hành các kỳ phiếu của mình và lưu thông,thực hiện các dịch vụ ngân hàng như thanh toán, chuyển tiền, đổi tiền … Từ thế kỷ XVIII,nhà nước của các nước đã bắt đầu can thiệp vào hệ thống ngân hàng bằng cách hạn chế

số lượng các ngân hàng phát hành kỳ phiếu ngân hàng Đến thứ kỷ XIX, ở các nước pháttriển có xu hướng ra đời các đạo luật chỉ cho phép một ngân hàng duy nhất phát hànhtiền, còn các ngân hàng khác đơn thuần kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng.Đầu thế kỷ XX, ở các nước ngân hàng được phép phát hành tiền đều thuộc sở hữu tưnhân, Nhà nước không có điều kiện can thiệp vào các hoạt động kinh tế thông qua các tácđộng của tiền tệ Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã buộc chính phủ các nướctăng cường hơn nữa can thiệp của mình vào lĩnh vực kinh tế thông qua hệ thống luậtpháp, chính sách… Nhà nước cần phải nắm lấy phương tiện cơ bản của kinh tế thị trường,tiền tệ để góp phần giải quyết tình trạng bất ổn định trong nền kinh tế Vì thế, sau cuộc

Ngày đăng: 23/03/2023, 15:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w