LỜI MỞ ĐẦU Đỗ Mỹ Hạnh Đề án môn học LỜI MỞ ĐẦU Yếu tố đầu tiên và quan trọng của bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào là yếu tố vốn Một nền kinh tế muốn phát triển không thể thiếu được hoạt động t[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Yếu tố đầu tiên và quan trọng của bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào
là yếu tố vốn Một nền kinh tế muốn phát triển không thể thiếu được hoạt độngtích tụ và tập trung vốn Thị trường chứng khoán ra đời là một kênh tích tụ và tậptrung vốn vô cùng hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó thúc đẩyphát triển kinh tế
Thấy được vai trò của Thị trường chứng khoán, năm 1997, Ủy ban Chứngkhoán Nhà nước đã ra đời với trách nhiệm là xây dựng và cho ra đời thị trườngChứng khoán Việt Nam
Chỉ ba năm sau, vào năm 2000, Uỷ ban đã đưa Trung tâm giao dịch chứngkhoán Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở giao dịch chứng khoán thành phố HồChí Minh) và hoạt động, đánh dấu sự ra đời của Thị trường chứng khoán ViệtNam
Từ sau khi được chính thức ra đời, Thị trường chứng khoán Việt Nam đãdần phát triển, những dấu mốc được nhắc đến nhiều nhất là sự phát triển vượt bậccủa thị trường trong hai năm 2006, 2007 và sự suy giảm liên tục của thị trườngvào năm 2008
Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, sự suy giảm kinh tế trong vàngoài nước là những nguyên nhân thường được nhắc tới để giải thích cho sự suygiảm của thị trường Tuy nhiên bên cạnh những nguyên nhân vĩ mô từ nền kinh
tế, chúng ta không thể không nhắc tới một nguyên nhân đó là sự phát triển bongbóng của thị trường trong giai đoạn trước đó là năm 2006 và 2007 Nguyên nhânnày có thể là do nhà đầu tư chỉ đầu tư theo tâm lý – kiếm lời nhanh từ Thị trườngchứng khoán, hoặc do nhà đầu tư đã quá kỳ vọng vào thị trường, đánh giá quácao công ty và sẵn sàng trả giá cao cho cổ phiếu Hậu quả là năm 2008, bongbóng chứng khoán vỡ, tình hình kinh tế khó khăn, nhà đầu tư mất lòng tin vào thịtrường, cổ phiếu của các công ty liên tục sụt giảm Nhiều chuyên gia đã đưa ranhận xét: thị giá của nhiều cổ phiếu đã xuống dưới giá trị thực, đây là thời điểmthích hợp để đầu tư vào thị trường Tuy nhiên, thị trường vẫn chưa chứng kiến
sự quay trở lại của các nhà đầu tư Vậy liệu giá cổ phiếu hiện nay đã thực sự thấphơn giá trị, liệu các nhà đầu tư có nhận ra được giá trị thực của cổ phiếu?
Rõ ràng, nguyên nhân và hậu quả của những diễn biến trên Thị trườngchứng khoán Việt Nam trong thời gian qua đều bắt nguồn từ việc thiếu đi sựphân tích công ty, định giá cổ phiếu để có quyết định đầu tư hợp lý, liên tục đầu
tư khi thị giá của cổ phiếu vượt quá giá trị thực nhưng lại thờ ơ khi thị giá cổphiếu giảm xuống dưới giá trị thực
Trước thực trạng đó, em đã quyết định chọn đề tài “cơ sở lý thuyết ứng dụng phân tích công ty, định giá cổ phiếu vào hoạt động đầu tư” để tìm hiểu và
nghiên cứu cho đề án môn học
Em xin chân thành cảm ơn PGS TS Trần Đăng Khâm đã tận tình hướngdẫn và góp ý để em có thể hoàn thành được đề tài
Tuy nhiên, do hạn còn hạn chế về kiến thức, đề án của em không tránh khỏinhững thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để đề án hoànthiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NỘI DUNG CHÍNH
1 Đầu tư chứng khoán
1.1 Khái niệm đầu tư chứng khoán
Ta xem xét khái niệm đầu tư trong nền kinh tế:
Kiếm tiền và chi tiêu dùng là những hoạt động không thể thiếu trong cuộcsống của mỗi người Tuy nhiên, rất hiếm khi mà số tiền một người kiếm được lạicân bằng với nhu cầu tiêu dùng của người đó: Đôi khi, số tiền bạn kiếm được sẽnhiều hơn nhu cầu chi tiêu của bạn và lại có lúc mà nhu cầu chi tiêu lớn hơn khảnăng đáp ứng của bạn Sự mất cân bằng này sẽ dẫn tới việc hoặc là bạn phải vaytiền để chi tiêu hoặc bạn cần tiết kiệm tiền trong một thời gian dài để tự làm tăngthu nhập của bản thân
Khi mà thu nhập hiện tại vượt quá nhu cầu chi tiêu, mọi người thường có xuhướng tiết kiệm, có rất nhiều cách để tiết kiệm Có thể chỉ là giữ tiền bạc, của cảitrong nhà và chờ đến khi mà nhu cầu tiêu dùng lớn hơn thu nhập thì sẽ sử dụng.Tuy nhiên, với cách này thì số tiền có được trong tương lại sẽ vẫn là số tiền mà
họ đã tiết kiệm
Một khả năng hợp lý hơn là mọi người sẽ từ bỏ thu nhập hiện tại với mongmuốn có được một khoản tiền lớn hơn đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu trong tươnglai Chính sự hi sinh tiêu dùng hiện tại để kỳ vọng vào khả năng chi tiêu nhiềuhơn trong tương lai là lý do để tiết kiệm Và việc mà mọi người làm với khoảntiền tiết kiệm đó để làm nó tăng lên qua thời gian là đầu tư
Như vậy, xét theo khía cạnh kinh tế đầu tư có thể được hiểu là “sự hi sinh
nguồn lực hiện tại (như tiền bạc, của cải…) để thu về một lượng giá trị lớn hơn trong tương lai” Khoản chênh lệch này có thể bù đắp cho nhà đầu tư về: thời
gian mà lượng giá trị được đem trao đổi, tỷ lệ lạm phát dự tính và rủi ro thanhtoán (sự không chắc chắn được chi trả số tiền trong tương lai)
Tài sản đầu tư có thể là tài sản thực – các tài sản hữu hình như nhà xưởng,máy móc thiết bị… bên cạnh các tài sản thực, nhà đầu tư có thể bỏ tiền để nắmgiữ các tài sản tài chính Đầu tư vào tài sản tài chính không trực tiếp làm tăngnăng lực sản xuất của nền kinh tế, song là hoạt động đầu tư rất quan trọng nhằmtăng khả năng tích tụ, tập trung và phân phối vốn cho nền kinh tế, từ đó sẽ giántiếp làm tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế
Chứng khoán là một công cụ của thị trường tài chính, vì vậy, “đầu tư chứng
khoán là một loại hình đầu tư tài chính” Các chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái
phiếu và các chứng khoán phái sinh…
1.2 Phân loại đầu tư chứng khoán
Có rất nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư chứng khoán
Căn cứ theo thời hạn đầu tư có thể chia thành đầu tư ngắn hạn, đầu tư trunghạn và đầu tư dài hạn
Trang 3Căn cứ theo loại tài sản đầu tư có thể phân chia thành đầu tư cổ phiếu, đầu
tư trái phiếu, đầu tư chứng khoán phái sinh và đầu tư các tài sản tài chính khác Căn cứ theo mục đích đầu tư có thể phân loại thành: đầu tư ngân quỹ, đầu tưhưởng lợi, đầu tư phòng vệ và hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát
1.2.1 Đầu tư ngân quỹ
Hoạt động đầu tư ngân quỹ thường được thực hiện bởi các tổ chức kinh tế
và các nhà đầu tư lớn Xuất phát từ nhu cầu thanh toán chi trả, nhu cầu dự phòng
và dự trữ, các tổ chức kinh tế và các nhà đầu tư lớn thường phải nắm giữ mộtlượng tiền khá lớn Tuy nhiên, tiền không phải là tài sản sinh lời nên các đốitượng này thường có xu hướng tăng cường đầu tư vào các tài sản sinh lời và giảm
dự trữ tiền mặt Một số chứng khoán ngắn hạn có khả năng chuyển đổi nhanhthành tiền mặt như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng, thương phiếu… lànhững tài sản tài chính thường được lựa chọn để phục vụ hoạt động đầu tư ngânquỹ
1.2.2 Đầu tư hưởng lợi
Khác với hoạt động đầu tư ngân quỹ với mục tiêu thanh toán, chi trả; Đầu tưhưởng lợi nhằm mục tiêu lợi nhuận Lợi nhuận có thể bao gồm lợi tức từ tài sảnđầu tư như cổ tức, hay trái tức, phần chênh lệch giá chứng khoán và các quyềnlợi khác nếu có Hoạt động đầu tư hưởng lợi lại có thể được phân chia thành:
Thứ nhất, kinh doanh chênh lệch giá: Là hoạt động mua bán chứng khoán
nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn từ chênh lệch giá chứng khoán hoăc lợidụng sự chênh lệch giá tại các thị trường khác nhau Ví dụ một cổ phiếu đượcniêm yết đồng thời trên thị trường chứng khoán New York và thị trường chứngkhoán London, như vậy, có thể có cơ hội kinh doanh chênh lệch giá do tỷ giágiữa hai đồng tiền Đôla Mỹ và Bảng Anh Một nhà đầu tư Mỹ có thể dùng Đôla
để mua Bảng Anh, sau đó dùng Bảng Anh để mua cổ phiếu và bán ở Mỹ để thu
về Đôla
Thứ hai, hoạt động đầu cơ: là hoạt động đầu tư chứng khoán nhằm kiếm lợi
tức và chênh lệch giá trong dài hạn
Thứ ba, kinh doanh giảm giá: là hoạt động đầu tư hưởng lợi khi có hiện
tượng giảm giá chứng khoán Khi dự báo giá chứng khoán giảm, nhà đầu tư sẽbán chứng khoán để chờ giá hạ và mua lại Phần chênh lệch giá sau khi trừ đi chiphí giao dịch sẽ là thu nhập của nhà kinh doanh giảm giá Trường hợp đặc biệtcủa kinh doanh giảm giá là bán khống Nhà đầu tư sẽ vay chứng khoán của mộtcông ty chứng khoán và bán đi, chờ khi giá hạ họ sẽ mua lại để trả chứng khoán
Thứ tư, tạo lập thị trường: là trường hợp nhà đầu tư, thường là công ty
chứng khoán, các ngân hàng thương mại đảm nhận tạo thị trường cho các loạichứng khoán trên thị trường OTC Các tổ chức này thường được cấp phép của ủyban chứng khoán, thực hiện nắm giữ một lượng chứng khoán đủ lớn và thực hiệnmua bán theo yêu cầu nhằm tăng tính thanh khoản cho chứng khoán Họ có thểthu được lợi tức đầu tư từ cổ tức, trái tức, chênh lệch tăng giá chứng khoán, tiềnhoa hồng khi thực hiện môi giới cho các nhà đầu tư…Hoạt động tạo lập thịtrường có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính thanh khoản cho các chứngkhoán
1.2.3 Đầu tư phòng vệ
Trang 4Hoạt động đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận lớn, song rủi ro cao, dovậy các công cụ phòng vệ xuất hiện ngày càng nhiều nhằm giúp các nhà đầu tưphòng tránh rủi ro như: hợp đồng giao sau (Forwards), hợp đồng kỳ hạn(Futures), hợp đồng quyền chọn (Options)… các công cụ này được sử dụng cho
cả nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá, nghiệp vụ đầu cơ và nghiệp vụ phòngvệ
1.2.4 Đầu tư nắm quyền kiểm soát
Cổ phiếu là loại chứng khoán cho phép chủ sở hữu có quyền kiểm soát công
ty phát hành thông qua quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông Vìvậy, một số nhà đầu tư lớn, thường là các nhà đầu tư có tổ chức như là các doanhnghiệp hoặc các ngân hàng lớn thường thực hiện hoạt động đầu tư nắm quyềnkiếm soát Thông qua hoạt động đầu tư vốn, các tổ chức này thường tham gia Hộiđồng quản trị nhằm thực hiện hoạt động quản lý, tạo mối liên kết về sở hữu trongtập đoàn
Một hình thái khác của đầu tư nắm quyền kiểm soát là hoạt động đầu tưmạo hiểm Một số tổ chức đầu tư lớn thường tìm kiếm cơ hội đầu tư từ các công
ty chưa phát triển, đặc biệt là yếu kém về công nghệ quản lý Thông qua nắmquyền kiểm soát, các nhà đầu tư lớn thực hiện tái cấu trúc công ty, thay đổi quản
lý, công nghệ từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện hình ảnh trong côngchúng đầu tư, từ đó thực hiện bán cổ phiếu trên thị trường tập trung hoặc thịtrường OTC khi cổ phiếu tăng giá
2 Ứng dụng phân tích công ty, định giá cổ phiếu cho đầu tư chứng khoán
2.1 Phân tích chứng khoán
Phân tích chứng khoán là hoạt động quan trọng nhằm hỗ trợ cho việc raquyết định đầu tư Hiện nay, có ba phương pháp phân tích chứng khoán nhằmxem xét ra quyết định đầu tư, đó là
Thứ nhất: Phân tích cơ bản, gồm có các bước: phân tích vĩ mô nền kinh tế,
phân tích ngành, phân tích công ty và định giá cổ phiếu Mục tiêu của phân tích
cơ bản là nhằm xác định giá trị thực của chứng khoán, trên cơ sở đó, lựa chọnchứng khoán phù hợp dựa trên so sánh giữa giá trị thực với giá cả của chứngkhoán trên thị trường
Thứ hai: Phân tích kỹ thuật, ở phương pháp này, nhà đầu tư xem xét xu
hướng biến động của giá chứng khoán trong quá khứ với nhiều công cụ khácnhau, chủ yếu là đồ thị, từ đó, tìm thời điểm mua bán chứng khoán thích hợp
Cuối cùng: Phân tích hành vi, phương thức này không quan tâm đến cả giá
trị thực lẫn xu hướng biến động giá chứng khoán Họ mua bán theo tâm lí nhàđầu tư: họ mua rẻ từ những “người chán” và sau đó bán cho những “người thích”nhằm mục tiêu mua rẻ bán đắt
Trong ba phương pháp trên thì phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật được
áp dụng khá phổ biến
2.2 Phân tích công ty, định giá cổ phiếu
Trang 5Như đã trình bày, phân tích chứng khoán là hoạt động quan trọng nhằm hỗtrợ cho việc ra quyết định đầu tư Trên thực tế, có rất nhiều cách thức đầu tư vớimục tiêu khác nhau Tuỳ từng mục tiêu đầu tư mà nhà đầu tư sẽ lựa chọn phươngpháp phân tích phù hợp Ví dụ khi kinh doanh chênh lệch giá, nắm giữ chứngkhoán trong ngắn hạn, hoặc chỉ lợi dụng chênh lệch giá chứng khoán ở các thịtrường khác nhau, vì vậy, chỉ phân tích cơ hội chênh lệch giá Trong khi đó, nhàđầu cơ chứng khoán kiếm lời nhờ việc nắm giữ chứng khoán trong dài hạn, dovậy, cần phân tích đánh giá giá trị của chứng khoán và đầu tư vào các cổ phiếuđang bị đánh giá tháp hơn giá trị.
Trong đề án này, em tập trung tìm hiểu cách thức phân tích công ty, định giá cổ phiếu nhằm xác định giá trị của cổ phiếu, từ đó lựa chọn cổ phiếu cho mục tiêu đầu cơ – hay đầu tư dài hạn.
Phân tích công ty và định giá cổ phiếu là bước cuối cùng trong cách phântích từ trên xuống dưới của phân tích cơ bản (phân tích vĩ mô nền kinh tế, phântích ngành, phân tích công ty)
Bước phân tích vĩ mô nền kinh tế nhằm mục tiêu chọn ra cách phân bổ tàisản tối ưu giữa cổ phiếu, trái phiếu, tiền, các tài sản khác…
Bước phân tích ngành nhằm mục tiêu: dựa trên những phân tích vĩ mô đãthực hiện, sẽ xác định những ngành có triển vọng phát triển
Bước phân tích công ty, định giá cổ phiếu có mục tiêu chọn ra những công
ty có triển vọng và những cổ phiếu đang bị đánh giá thấp
2.1.1 Sự cần thiết của kết hợp phân tích công ty và định giá cổ phiếu
Một điều cần khẳng định khi tiến hành phân tích công ty, định giá cổ phiếu
là “cổ phiếu một công ty tăng trưởng không nhất thiết phải là cổ phiếu tăng
trưởng”
Nhiều quan sát cho thấy: Công ty tăng trưởng là những công ty có mức tăngtrưởng về doanh thu và lợi nhuận lớn hơn mức trung bình Cách định nghĩa nàygặp phải hạn chế bởi nhiều công ty có kết quả hoạt động tốt do phương thức tiếnhành kế toán hoặc nhiều công ty có sự lớn mạnh dựa vào liên doanh liên kết.Các nhà tài chính đưa ra khái niệm: một công ty tăng trưởng là một công tyvới đội ngũ quản lý có năng lực và có cơ hội thực hiện đầu tư để có được tỷ suấtlợi nhuận cao hơn tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của công ty Ví dụ, một công ty tăngtrưởng có cơ cấu vốn ở mức chi phí vốn trung bình là 10%, công ty có đội ngũquản lý có năng lực, đồng thời có cơ hội đầu tư vào các dự án với tỷ suất sinh lợi
từ 15% - 20% Kết quả của những cơ hội đầu tư này là doanh số bán hàng và thunhập của công ty sẽ lớn hơn của công ty khác có cùng rủi ro và so với cả nềnkinh tế nói chung Thêm vào đó, một công ty tăng trưởng với cơ hội đầu tư trênmức trung bình thường có xu hướng giữ lại một phần lớn thu nhập để đầu tư vàocác dự án có chất lượng cao (do vậy, tỷ lệ chi trả cổ tức thường thấp)
Cổ phiếu tăng trưởng không nhất thiết phải là cổ phần trong những công tytăng trưởng Một cổ phiếu tăng trưởng là một cổ phiếu có tỷ suất thu nhập caohơn những cổ phiếu khác trên thị trường với cùng độ rủi ro Cổ phiếu đạt đượcthu nhập cao là vì ở một số thời điểm, thị trường đánh giá nó có giá trị kém hơncác cổ phiếu khác Mặc dù thị trường luôn đánh giá giá cổ phiếu một cách nhanhchóng để phản ứng lại những thông tin mới, nhưng những thông tin có sẵnthường không đầy đủ và hoàn hảo Do vậy, sự không đầy đủ và hoàn hảo của
Trang 6thông tin là nguyên nhân dẫn đến cổ phiếu bị định giá thấp hoặc bị định giá thấpvào một thời điểm nào đó.
Nếu cổ phiếu ở dưới giá trị, giá của nó cuối cùng sẽ tăng lên để phản ánhđúng giá trị gốc của nó khi xuất hiện các thông tin chính xác Trong suốt giaiđoạn cổ phiếu được đánh giá lại giá trị này, thu nhập thực tế sẽ vượt quá thu nhập
kỳ vọng để bù đắp rủi ro của cổ phiếu, và nó sẽ được coi như là một cổ phiếutăng trưởng Cổ phiếu tăng trưởng trong tương lai có thể là cổ phiếu của bất kỳcông ty nào, chỉ cần là nó đang bị thị trường định giá dưới giá trị thật
Như vậy, phân tích công ty và lựa chọn cổ phiếu có sự khác biệt Nếu nhà đầu tư chỉ phân tích công ty mà không định giá cổ phiếu, sẽ có xu hướng lựa chọn cổ phiếu của những công ty tốt, tuy nhiên cổ phiếu của những công ty này
có thể đã bị định giá quá cao so với giá trị thực Trong khi đó, cổ phiếu của một công ty có kết quả hoạt động kinh doanh không tốt bằng, song giá thị trường của
cổ phiếu lại thấp hơn giá trị thực của nó Việc đầu tư này sẽ giúp cho nhà đầu tư kiếm được thu nhập từ tăng giá cổ phiếu trong tương lai Do vậy, việc kết hợp giữa phân tích công ty và định giá lựa chọn cổ phiếu là vô cùng quan trọng để có thể đưa ra được quyết định đầu tư tối ưu.
2.1.2 Phân tích công ty
Trong phân tích công ty, cần tiến hành kết hợp giữa phân tích định tính vàphân tích định lượng Bởi không thể nói một công ty có bộ máy quản trị hiệuquả, có chiến lược kinh doanh hợp lý khi mà công ty có kết quả kinh doanh thấp,hay một công ty hiện có kết quả kinh doanh tốt, nhưng không có khả năng cạnhtranh trong ngành thì công ty đó không thể tiếp tục có sự tăng trưởng trong tươnglai
2.1.2.1 Phân tích định tính
Phân tích khả năng cạnh tranh của công ty trong ngành theo mô hình củaPorter kết hợp phân tích cơ bản theo mô hình SWOT (để thấy được điểm mạnh,điểm yếu, cơ hội, thách thức của công ty) là hai phương pháp phân tích định tính
để có thể mang lại những hiểu biết tương đối đầy đủ về khả năng phát triển vàcạnh tranh của công ty
2.1.2.1.1 Phân tích khả năng cạnh tranh của công ty theo mô hình Porter
Trước tiên, để thấy được sự cạnh tranh trong ngành, ta tiến hành phân tích 5nhân tố có thể ảnh hưởng đến cầu trúc cạnh tranh và lợi nhuận tiềm ẩn của
ngành Đó là các yếu tố: Sự cạnh tranh hiện tại (current rivalry), sự đe doạ ra nhập ngành của đối thủ tiềm ẩn (threat of new entrants), nguy cơ từ sản phẩm thay thế (potential substitutes), áp lực từ phía nhà cung cấp – như khả năng đặt giá… (bargaining power of suppliers), áp lực từ phía người mua – khả năng mặc
cả của người mua (bargaining power of buyers)
Sau khi xác định được cấu trúc cạnh tranh trong ngành, ta nên cố gắng xácđịnh khả năng cạnh tranh riêng của mỗi công ty và đánh giá những chiến lượccạnh tranh đó trong từng thời kỳ
Chiến lược cạnh tranh của một công ty có thể là ở thế phòng thủ (defensive) hoặc thế tấn công (offensive)
Một chiến lược cạnh tranh phòng thủ là chiến lược mà vị thế và năng lựccủa công ty có thể mang lại lượng của cải (tài sản) lớn nhất để tránh được những
Trang 7ảnh hưởng của sự cạnh tranh trong nội bộ ngành Ví dụ, chiến lược cạnh tranh cóthể bao gồm đầu tư vào tài sản cố định và công nghệ để làm giảm chi phí sảnxuất hay tạo ra thương hiệu mạnh bằng việc gia tăng chi phí cho quảng cáo
Chiến lược cạnh tranh tấn công là chiến lược mà công ty nỗ lực sử dụngnhững lợi thế, điểm mạnh của nó để gây ảnh hưởng cạnh tranh trong ngành Ví
dụ, Wal – Mart đã sử dụng sức mạnh là người mua của mình để có được mức giá
có lợi từ phía nhà cung cấp Yếu tố thuận lợi về giá cả đầu vào, cùng với việc kếthợp một hệ thống giao hàng tới tận kho tạo điều kiên để Wal – Mart trở nên lớnmạnh hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành và trở thành tập đoàn bán lẻhàng đầu tại Mỹ
Như vậy, nhà đầu tư cần phải biết được những chiến lược cạnh tranh có thể
có và xác định được chiến lược cạnh tranh của từng công ty, đánh giá xem liệuchiến lược cạnh tranh của công ty đó có phù hợp với ngành không và cuối cùng,
dự đoán mức độ thành công của công ty khi công ty thực hiện chiến lược cạnhtranh của nó
Tiếp theo, ta sẽ xem xét vị thế và chiến lược cạnh tranh của công ty Sựphân tích nhằm chỉ ra liệu công ty có đang tận dụng được lợi thế của ngành vàcác điều kiện kinh tế vĩ mô để đối phó với sự cạnh tranh hay không
Potter đưa ra hai chiến lược cạnh tranh: đó là “chiến lược chi phí thấp” và
“chiến lược sự khác biệt” Hai chiến lược cạnh tranh này chỉ ra bằng cách nào
một công ty có thể đối phó với sự cạnh tranh trong ngành
Chiến lược chi phí thấp: Một công ty theo đuổi chiến lược chi phí thấp sẽtrở thành nhà sản xuất với chi phí thấp Lợi thế về chi phí khác nhau tuỳ theongành, và có thể bao gồm giảm chi phí sản xuất, quyền sở hữu về công nghệ, vàđược ưu đãi trong tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào Để tận dụng được lợi thế
từ chi phí thấp, công ty nên giữ mức giá gần với mức trung bình của ngành Bởi,nếu một công ty giảm giá sản phẩm quá nhiều, nó có thể ăn mòn tỷ lệ lợi nhuận
mà nhờ tận dụng lợi thế về chi phí thấp mang lại Trong suốt thập kỷ trước, Wal– Mart được biết đến là tập đoàn có chi phí đầu vào thấp, đó là nhờ khối lượnghàng hoá đặt mua lớn và các giao dịch mua hàng có chi phí thấp hơn Như là mộtkết quả, công ty phải trả chi phí thấp nhờ đó có được lợi nhuận biên và lợi nhuậntrên vốn đầu tư cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh
Chiến lược sự khác biệt: với chiến lược sự khác biệt, một công ty tìm cáchlàm cho công ty mình trở thành duy nhất trong ngành mà trong phạm vi nhất địnhnhân tố duy nhất này là quan trọng đối với người mua Một lần nữa, các yếu tốtạo nên sự khác biệt là khác nhau đối với mỗi ngành Một công ty có thể tạo ra sựkhác biệt dựa trên hệ thống phân phối của nó (như bán hàng ngay tại kho, đặthàng qua email, hay giao hàng ngay tại công trình…) hoặc một vài cách tiếp cậnthị trường riêng biệt Một công ty với chiến lược tạo ra sự khác biệt sẽ có tỷ lệsinh lời cao hơn mức trung bình với điều kiện mức giá cao hơn của công ty nhờ
có sự khác biệt phải lớn hơn chi phí để trở nên duy nhất Do vậy, khi phân tíchcông ty dựa trên chiến lược tạo ra dự khác biệt, nhà đầu tư cần xác định xem liệunhân tố khác biệt này có phải là duy nhất thực sự hay không, liệu công ty có thểchứng tỏ được sự khác biệt không, và về chi phí, liệu mức giá cao hơn nhờ tậndụng lợi thế riêng biệt có lớn hơn chi phí tạo lợi thế hay không
2.1.2.1.2 Phân tích cơ bản công ty theo SWOT
Trang 8Một cách phân tích khác để có thể nắm được vị thế và chiến lược của công
ty là phân tích SWOT
Phân tích SWOT gồm những xem xét về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội vàthách thức của công ty Phân tích này có thể cho thấy liệu các chiến lược củacông ty có khai thác được lợi thế cạnh tranh của bản thân công ty và tránh đượccác điểm yếu của nó hay không Điểm mạnh và điểm yếu bao gồm xác địnhnhững khả năng vốn có và những thiếu sót còn tồn tại trong nội tại công ty Cơhội và thách thức những điều kiện bên ngoài, như áp lực cạnh tranh, sự ra đời củacông nghệ mới, chính sách của chính phủ và tình hình kinh tế trong và ngoàinước
Những điểm mạnh của một công ty có thể mang lại lợi thế so sánh trên thịtrường Điểm mạnh của công ty có thể bao gồm: dịch vụ khách hàng tốt, sảnphẩm chất lượng cao, thương hiệu mạnh, sự trung thành của khách hàng, hoạtđộng nghiên cứu và triển khai, vị thế người dẫn dắt thị trường hoặc tiềm lực tàichính mạnh…
Những điểm yếu của công ty lại là những lợi thế tiềm ẩn mà đối thủ cạnhtranh của công ty có thể tận dụng Một khi những điểm yếu được chỉ ra, công ty
có thể lựa chọn những chiến lược để làm giảm bớt hoặc làm mất đi những điểmyếu Ví dụ, một công ty chỉ là một nhà sản xuất trong nước nhưng trong một thịtrường toàn cầu, tận dụng quá trình toàn cầu hoá, nó có thể đầu tư để xuất khẩusản phẩm của mình ra nước ngoài Hay một công ty không có tiềm lực về tàichính có thể hình thành sự liên kết với những công ty có tiềm lực mạnh về tàichính…
Cơ hội, hay nhân tố môi trường kinh doanh có thể là yếu tố thuận lợi vớicông ty, nó bao gồm sự tăng trưởng của thị trường đối với sản phẩm của công ty(thị trường trong và ngoài nước), sự giảm áp lực cạnh tranh, những thuận lợi về
tỷ giá…
Thách thức là nhân tố bên ngoài có thể cản trở công ty đạt được những mụctiêu của nó Ví dụ, thách thức có thể gồm sự suy giảm kinh tế trong nước (sự suythoái kinh tế nước ngoài đối với doanh nghiệp xuất khẩu), chính sách của chínhphủ, sự gia tăng của đối thủ cạnh tranh trong ngành, đe doạ từ phía người mua vàngười bán về khả năng tăng sức mạnh đàm phán giá, công nghệ mới… Bằng việcphát hiện và hiểu được những cơ hội và thách thức, một nhà đầu tư có thể xemxét xem về cách mà công ty có thể tận dụng được các cơ hội và hạn chế đượcnhững thách thức
Như vậy, việc phân tích định tính công ty có thể cho nhà đầu tư một cáinhìn khái quát về công ty, đặc biệt là về khả năng cạnh tranh, chiến lược tiếp cậnthị trường và khả năng phát triển trong tương lai của công ty
2.1.2.2 Phân tích định lượng – Phân tích tài chính công ty
2.1.2.2.1 Phân tích các chỉ tiêu tài chính
Sau khi có được những nhận định khái quát về công ty, phân tích các chỉtiêu tài chính công ty sẽ giúp các nhà phân tích có cái nhìn cụ thể hơn về công ty,
về khả năng tài chính cũng như tiềm năng phát triển chung của công ty, từ đó cóthể đánh giá toàn diện công ty
Mỗi đối tượng khác nhau sẽ quan tâm đến nội dung tài chính khác nhau.Đối với nhà đầu tư khi xem xét đầu tư vào cổ phiếu của công ty sẽ xem xét đến
Trang 9tất cả các chỉ tiêu tài chính của công ty bởi khi trở thành cổ đông, nhà đầu tư sẽvừa là chủ sở hữu vừa là người đầu tư vì thế họ quan tâm đến cả sự an toàn, khảnăng sinh lợi và phát triển của công ty.
Trong phân tích tài chính, phương pháp phân tích thường được sử dụng làkết hợp phương pháp phân tích tỷ lệ và phương pháp so sánh, một số chỉ tiêu tàichính có sử dụng phương pháp tách Dupont để đánh giá sự tác động của từng yếu
tố cấu thành chỉ tiêu
Kết hợp phương pháp tỷ lệ và phương pháp so sánh là việc hình thành các
tỷ lệ tài chính trong quá trình phân tích và thực hiện so sánh các tỷ lệ này với một
tỷ lệ tuyệt đối (có thể có), so sánh giữa thực hiện với kế hoạch, so sánh giữa hiệntại và quá khứ, so sánh giữa các công ty với nhau và so sánh với mức trung bìnhngành
Các tỷ lệ tài chính được chia thành 4 nhóm chính: Nhóm tỷ lệ về khả năngthanh toán, Nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động, Nhóm tỷ lệ về cơ cấu tài sản và cơcấu tài chính, Nhóm tỷ lệ về mức độ sử dụng chi phí, khả năng tạo lợi nhuận vàphân phối lợi nhuận
Thứ nhất, nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán
1 Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn:
Là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn với các khoản nợ ngắn hạn Hệ số nàycho biết mức độ đảm bảo của TSLĐ với nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là nhữngkhoản nợ phải thanh toán trong 1 năm, do vậy, công ty phải dùng những tài sản
có khả năng chuyển đổi thành tiền để thanh toán
Hệ số thanh toán ngắn hạn = Tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn/Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán củadoanh nghiệp càng tốt, song khả năng sinh lời của tài sản càng kém do doanhnghiệp phải đánh đổi giữa khả năng thanh toán với khả năng sinh lời nhằm tránhrủi ro phá sản doanh nghiệp
Khi tiến hành phân tích so sánh:
Nếu hệ số này >= 1 chứng tỏ sự bình thường trong hoạt động tài chính củadoanh nghiệp Trong trường hợp này, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toáncác khoản nợ ngắn hạn và không cần phải đi vay mượn thêm
Nếu hệ số này <1 thì công ty tạm thời rơi vào tình trạng mất khả năng thanhtoán
Tuy nhiên trên thực tế, việc đánh giá hệ số thanh toán ngắn hạn là cao haythấp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể cần xem xét như: loại hình kinhdoanh, cơ cấu tài sản lưu động…
Vì vậy, khi phân tích cần so sánh với tỷ lệ trung bình ngành cũng như toàn
bộ thị trường để có kết luận chính xác
2 Hệ số thanh toán nhanh:
Thể hiện khả năng huy động về tiền mặt và các tài sản có thể chuyển nhanhthành tiền đáp ứng cho việc thanh toán ngắn hạn So với hệ số khả năng thanhtoán ngắn hạn thì trong công thức xác định hệ số khả năng thanh toán nhanh
Trang 10không tính đến các khoản tồn kho, vì đó không phải là loại tài sản có khả năngdùng để thanh toán cao (đặc biệt khi đó là hàng hóa khó bán)
Hệ số thanh toán nhanh = (tiền + đầu tư ngắn hạn + các khoản phải thu)/
Tổng Nợ ngắn hạn
Nếu hệ số này quá nhỏ thì công ty sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán
nợ, nếu hệ số này quá lớn lại phản ánh lượng tiền tồn quỹ nhiều làm giảm hiệuquả sử dụng vốn
3 Hệ số thanh toán tức thời:
Nếu xét về tính thời điểm thì đây là hệ số đo lường khả năng thanh toán củacông ty một cách hữu hiệu, nó cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ bằngtiền và chứng khoán dễ bán (đầu tư ngắn hạn) của doanh nghiệp
Hệ số thanh toán tức thời = (tiền + đầu tư ngắn hạn)/Tổng nợ ngắn hạn
Thứ hai, nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động
1 Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luânchuyển trong kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/ Hàng tồn kho bình quân
Chỉ số này càng cao càng được đánh giá tốt vì số tiền đầu tư cho hàng tồnkho thấp mà vẫn đạt được hiệu quả cao, tránh được tình trạn ứ đọng vốn Tuynhiên nếu chỉ số này quá cao cũng có nghĩa là công ty đang bị thiếu các đơn đặthàng, hoặc công ty đang thiếu nguyên liệu Ngược lại, nếu chỉ số này thấp, phảnánh hàng tồn kho dự trữ nhiều, sản phẩm không tiêu thụ được do hàng hoá lỗithời, chất lượng kém…
Một điều quan trọng là phải đánh giá hàng tồn kho theo từng ngành Đối vớinhững công ty bán lẻ hàng nông sản, thực phẩm hay hoa quả thì vòng quay hàngtồn kho thường cao bởi họ phải đối mặt với những sản phẩm dễ hỏng, trong khi
đó, các công ty kinh doanh thiết bị có thể có vòng quay tồn kho thấp hơn Vì vậy,cần so sánh chỉ tiêu này với trung bình ngành để có những đánh giá phù hợp
Từ vòng quay hàng tồn kho có thể tính được số ngày trung bình thực hiệnmột vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho = 360/Số vòng quay hàng tồn kho
2 Vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển các khoản phải thu ra tiền mặt
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần/ Các khoản phải thu bình quân
Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, vốncủa doanh nghiệp không bị chiếm dụng và không phải đầu tư nhiều vào việc thuhồi các khoản phải thu Nếu vòng quay nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếmdụng vốn lớn Nhìn chung, vòng quay cao thường tốt hơn bởi vì đó là bằngchứng cho thấy hiệu quả của việc chuyển các khoản phải thu thành tiền; tuynhiên hệ số này quá cao thì chứng tỏ chính sách tín dụng, thu hồi các khoản phảithu của công ty quá chặt chẽ Vì vậy, khi phân tích cần so sánh chỉ tiêu này vớimức trung bình ngành
Trang 11Từ vòng quay các khoản phải thu có thể tính được kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân phản ánh số ngày của một vòng quay các khoản phảithu
Kỳ thu tiền bình quân = 360/vòng quay khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân cao nghĩa là doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn trongthanh toán, khả năng thu hồi vốn chậm
Khi xem xét chỉ tiêu này, cần phải tìm hiểu chính sách tín dụng của doanhnghiệp Nếu kỳ thu tiền bình quân tăng dần hoặc cao hơn nhiều so với mức trungbình ngành chứng tỏ chính sách tín dụng của công ty là quá dễ dãi và các khoảnphải thu là không đảm bảo tính thanh khoản Nếu chính sách tín dụng quá khắtkhe (được phản ánh qua việc thời gian thu hồi các khoản phải thu bình quân đượcrút ngắn lại hoặc thấp hơn so với trung bình ngành) thì công ty có thể sẽ bị mấtnhiều khách hàng quan trọng
Kỳ thu tiền bình quân cũng cần được so sánh với chính sách tín dụng banđầu của công ty Nếu ban đầu quy định là sẽ thu hồi các khoản phải thu trong 30ngày nhưng kỳ thu tiền bình quân là 60 ngày thì có nghĩa là công ty đã không nỗlực thu hồi các khoản phải thu
Ở đây, còn một yếu tố nữa cần xem xét, đó là sức mạnh của công ty trongphạm vi ngành Với những công ty có sức mạnh tài chính thì họ hoàn toàn có thểcho phép thời hạn thu hồi các khoản phải thu dài hơn so với những công ty không
có tiềm lực tài chính mạnh
3 Hiệu suất sử dụng TSCĐ và hiệu suất sử dụng Tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng Tổng tài sản và TSCĐ: phản ánh hiệu quả sử dụng tổngtài sản và TSCĐ Tỷ lệ này cho biết bình quân mỗi đồng Tài sản và TSCĐ tạo rabao nhiêu đồng doanh thu
Hiệu suất sử dụng Tổng tài sản = Doanh thu thuần/ Tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần/TSCĐ
Các tỷ lệ này là khác nhau đối với mỗi ngành nghề khác nhau
Hai hệ số này giúp đánh giá hiệu quả quản lí việc tạo ra doanh thu bán hàngnhờ đầu tư vào tài sản
Vòng quay TSCĐ xem xét mức đầu tư của công ty vào TSCĐ (đất đai, nhàxưởng, trang thiết bị…) và điều này cực kỳ quan trọng đối với những công ty đòihỏi vốn lớn như một nhà sản xuất đối với các khoản đầu tư vào tài sản lâu dài Vòng quay Tổng tài sản lại xem xét mức độ hiệu quả của việc quản lý tất
cả các tài sản của một công ty
Nhìn chung, các hệ số này càng cao thì mức đầu tư để tạo ra doanh số báncàng thấp và do vậy đem lại lợi nhuận càng lớn cho công ty Mức cao cũng cóthể cho thấy công ty hoạt động với công suất cao Nếu các vòng quay tài sảntương đối thấp so với mức của ngành hoặc thấp so với chính mức độ trước đâycủa công ty thì có nghĩa hoặc là công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản hoặc làtốc độ bán hàng quá uể oải Tuy nhiên cũng có cách giải thích hợp lý, ví dụ công
ty đang tiến hành một kế hoạch hiện đại hoá máy móc, trang thiết bị, và kế hoạchnày sẽ đem lại kết quả khả quan theo mục tiêu lâu dài
Thứ ba, nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài sản và cơ cấu tài chính
1 Hệ số cơ cấu tài sản
Trang 12Hệ số cơ câu tài sản = TSCĐ hoặc TSLĐ/ Tổng tài sản
Hệ số này cho biết cơ cấu tài sản của công ty Cơ cấu tài sản của công ty rấtkhác nhau đối với những ngành nghề kinh doanh khác nhau
2 Hệ số về cơ cấu tài chính
Hệ số nợ sẽ cho biết tỷ lệ phần trăm tổng tài sản được hỗ trợ bằng các khoảnvay nợ Hệ số nợ dài hạn trên tổng vốn dài hạn (nợ dài hạn + VCSH) sẽ cho biếtmức độ nợ dài hạn được sử dụng trong tổng nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu Hệ số
nợ trên vốn chủ sở hữu cho biết mức độ mạo hiểm trong cơ cấu vốn của công tydưới góc độ xem xét mối quan hệ giữa vốn đi vay và vốn của chủ sở hữu Tỷ lệphần trăm nợ càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn
Mặc dù nợ bao giờ cũng kèm với rủi ro, song chính bản thân nó cũng tạo cơhội giúp công ty tăng lợi nhuận Nếu sử dụng nợ có hiệu quả (tức là lợi nhuận thuđược từ hoạt động kinh doanh thừa để trang trải các nghĩa vụ cố định phát sinh
do nợ) thì có nghĩa là lợi nhuận của công ty sẽ được tăng thêm nhờ đòn bẩy tàichính (hoạt động vay nợ)
3 Hệ số đo lường khả năng trả gốc và lãi
Hệ số đảm bảo khả năng trả lãi = Thu nhập trước thuế và lãi vay/chi phí lãi vay
Tỷ lệ này cho biết khả năng trả lãi của công ty, đồng thời cho biết công tydùng bao nhiêu phần trăm trong thu nhập trước thuế và lãi vay để trang trải nợnần
Hệ số đo lường khả năng trả gốc = Thu nhập ròng + khấu hao/ gốc vay
Khác với lãi vay là chi phí hợp lí, khoản trả gốc vay được lấy từ thu nhậpròng và khấu hao, vì vậy, hệ số này có thể phản ánh khả năng trả gốc của côngty
Thứ tư, nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng chi phí, khả năng tạo lợi
nhuận và phân phối lợi nhuận
1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng chi phí
* Tỷ suất giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần
Tỷ suất giá vốn hàng bán = (Giá vốn hàng bán/ Doanh thu thuần) * 100%
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số doanh thu thuần thu được thì giá vốnhàng bán chiếm bao nhiêu % hay cứ 100 đồng doanh thu thuần thu được, doanhnghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng giá vốn hàng bán Chỉ tiêu này càng nhỏ,chứng tỏ việc quản lý chi phí trong giá vốn hàng bán càng tốt và ngược lại
Trang 13* Tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu thuần
Tỷ suất chi phí bán hàng = (chi phí bán hàng/Doanh thu thuần) * 100%
Chỉ tiêu này phản ánh để thu được 100 đồng doanh thu thuần, công ty phải
bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí bán hàng Tỷ suất này càng nhỏ chứng tỏ công ty đãtiết kiệm được chi phí bán hàng, kinh doanh ngày càng hiệu quả và ngược lại
* Tỷ suất chi phí quản lý trên doanh thu thuần
Tỷ suất chi phí quản lý = (Chi phí quản lý/Doanh thu thuần) * 100%
Chỉ tiêu này cho biết để thu được 100 đồng doanh thu thuần thì công ty phải
bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí quản lý doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng
tỏ hiệu quả quản lý các khoản chi phí quản trị doanh nghiệp càng cao và ngượclại
2 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi
* Tỷ suất doanh lợi doanh thu
Tỷ suất doanh lợi doanh thu = (Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu thuần) * 100%
Tỷ suất này cho biết trong 100 đồng doanh thu thuần có thể tạo ra bao nhiêuđồng lợi nhuận sau thuế
Hệ số này cho biết khả năng của công ty trong việc chuyển doanh số bánhàng sang lợi nhuận, hệ số cũng phản ánh khả năng của một công ty trong việckiểm soát chi phí sản xuất, chi phí bán hàng quản lý và thuế
* Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản ROA
Hệ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản = Lợi nhuận sau thuế/Tổng TS bình quân
Tỷ số này cho biết bình quân 1 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuậnsau thuế
Hệ số lợi nhuận gộp trên tổng tài sản = EBIT/Tổng TS bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khi sử dụng bình quân 1 đồng tài sản thì tạo ra baonhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay Bằng việc cộng trở lại lãi vay vào lợinhuận trước thuế, ta có tổng thu nhập trước khi phân phối cho cả nhà cho vay và
cổ đông Sở dĩ làm như vậy vì mẫu số bao gồm các nguồn do cả người cho vay
và cổ đông cung cấp nên tử số phải bao hàm nguồn hoàn vốn cho cả hai
Chỉ tiêu này rất quan trọng đối với người cho vay bởi lẽ lợi nhuận trướcthuế và lãi vay là nguồn để trả lãi vay Do đó, nếu tỷ suất sinh lời của tài sản lớnhơn lãi suất vay chứng tỏ công ty sử dụng vốn có hiệu quả, có khả năng thanhtoán được lãi vay Ngược lại, nếu tỷ suất này nhỏ hơn lãi suất vay, công ty sửdụng vốn không hiệu quả
* Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE
Hệ số doanh lợi vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận/ VCSH bình quân
Thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được khả năng sinh lợi và hiệu quả
sử dụng vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng mang lại thunhập từ vốn chủ sở hữu càng cao
Có thể sử dụng phương pháp Dupont để tiến hành phân tích chỉ tiêu này:ROE = NI/E = (NI/S) * (S/A) * (A/E)
Trong đó, NI là lợi nhuận ròng sau thuế; S là doanh thu; A là tổng tài sản; E
là vốn chủ sở hữu Như vậy, ta có tỷ suất lợi nhuận trên VCSH chịu ảnh hưởngcủa ba nhóm nhân tố: tỷ suất lợi nhuận biên (NI/S), hiệu suất sử dụng tổng tài sản(S/A) và đòn bẩy tài chính (A/E)
Trang 14Qua đó có thể thấy, một công ty có thể tăng ROE hoặc bằng cách nâng cao
tỷ suất lợi nhuận biên, nâng cao hiệu suất sử dụng tổng tài sản, hoặc tăng tỷ lệđòn bẩy tài chính – sử dụng nhiều nợ hơn để tài trợ cho tổng tài sản
3 Nhóm chỉ tiêu về phân phối lợi nhuận
Các tỷ lệ về phân phối lợi nhuận là các chỉ tiêu rất được nhà đầu tư quantâm Các chỉ tiêu này bao gồm:
* Thu nhập của một cổ phiếu
EPS = (lợi nhuận sau thuế - cổ tức của cổ phiếu ưu đãi)/cố cổ phiếu đanglưu hành
* Cổ tức
Cổ tức = lợi nhuận dùng để chi trả cổ tức/ số cổ phiếu đang lưu hành
* Chỉ số giá trên thu nhập
P/E = giá cổ phiếu/EPS
2.1.2.2.2 Phân tích khả năng tăng trưởng
Phân tích khả năng tăng trưởng là nội dung quan trọng trong phân tích công
ty Sự tăng trưởng của một công ty phụ thuộc vào
Tổng khối lượng tài sản giữ lại và tái đầu tư
Tỷ lệ thu nhập trên tài sản giữ lại và tái đâu tư
Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại càng cao thì tiềm năng tăng trưởng của công ty cànglớn Nói cách khác, với một mức lợi nhuận tái đầu tư cho trước, công ty nào có tỷ
lệ lợi nhuận giữ lại cao thì có mức tăng trưởng cao hơn
Tỷ lệ tăng trưởng g = Phần trăm lợi nhuận để lại * ROE
Như vậy, quá trình phân tích công ty theo các yếu tố định tính và định lượng đã cho chúng ta thấy được cái nhìn tổng quan về công ty, về hoạt động sản xuất kinh doanh, về tình hình tài chính, về vị thế, năng lực cạnh tranh cũng như khả năng phát triển của công ty trong tương lai Tiếp theo, để có được quyết định đầu tư, ta cần thực hiện định giá cổ phiếu công ty một cách hợp lý xác định được giá trị thực của cổ phiếu
Phương pháp chiết khấu dòng tiền (dựa trên việc định giá công ty)
2.1.3.1 Phương pháp giá trị tài sản thuần
Giá trị thực tế của Doanh nghiệp cổ phần hoá là giá trị toàn bộ tài sản hiện
có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hoá có tính đến khả năng sinh lời củadoanh nghiệp mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được
*Quy trình định giá công ty theo phương pháp giá trị tài sản thuần
-Thu thập các tài liệu có liên quan của doanh nghiệp như quyết định thànhlập doanh nghiệp, quyết định cổ phần hoá, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,báo cáo tài chính 3-5 năm gần nhất…
Trang 15-Chuẩn bị các mẫu biểu: các mẫu biểu theo từng chỉ tiêu có trên bảng cânđối kế toán tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
-Tiến hành kiểm kê, phân loại tài sản, công nợ và xử lý tài chính
-Tổng hợp và kiểm định kết quả kiểm kê
-Thực hiện đánh giá lại tài sản
-Thiết lập hồ sơ và các báo cáo giải trình
* Phương pháp định giá cổ phiếu
Tổng giá trị của tài sản trong doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồnkhác nhau, có thể của chủ doanh nghiệp, có thể của trái chủ, từ nguồn vay vốn,thuế chưa đến kỳ hạn nộp… vì vậy, để xác định giá trị thuần của Công ty, ta cầnđịnh giá giá trị tài sản thuần, nghĩa là giá trị tài sản thuộc về chủ sở hữu
Công thức xác định giá trị tài sản thuần
Vo = Vt – VnTrong đó:
Vo: giá trị tái sản thuần thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp tại thời điểmđịnh giá
Vt: tổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng tại thời điểm định giá
Vn: giá trị các khoản vay nợ vào thời điểm định giá
Sau khi xác định được giá trị thuần của công ty vào thời điểm định giá, chiacho số cổ phần, ta sẽ thu được giá trị mỗi cổ phần của công ty Từ đó xác địnhđược giá trị của cổ phiếu
có tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà người mua, người bán cổphần đều chấp nhận được Song trên thực tế, xác định giá trị doanh nghiệp mớidừng lại ở tài sản thuần, chưa tính đến giá trị tiềm năng trong tương lai
- Định giá theo phương pháp giá trị tài sản thuần còn mất nhiều thời gian vàchi phí, cần có sự tham gia của nhiều chuyên gia định giá tài sản Trong khi quychế lựa chọn, quản lý, giám sát cũng như tiêu chuẩn đánh giá năng lực tổ chứcđịnh giá chưa được quy định rõ, chất lượng dịch vụ của nhiều tổ chức cung ứngchưa cao, độ tin cậy thấp
- Không xem xét phần lớn các yếu tố phi vật chất Nhược điểm lớn củaphương pháp này là không định giá được chính xác các tài sản vô hình: như giátrị quyền sử dụng đất, thương hiệu, lợi thế kinh doanh…
Đối với tài sản vô hình: Do thiếu hướng dẫn cụ thể cho việc địnhgiá các tài sản vô hình như thương hiệu, danh tiếng, uy tín, giá trị thị phần củadoanh nghiệp hiện tại và tương lai, bản quyền, sở hữu trí tuệ… nên việc xác địnhgiá trị của tài sản vô hình phụ thuộc nhiều vào chủ quan của người định giá, dẫn