Chương 1 Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế PHẦN MỞ ĐẦU Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đối với kiềm chế lạm phát luôn là mục tiêu kinh tế hàng đầu đối với tất cả các nền kinh tế trên thế giới, kể[.]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đối với kiềm chế lạm phát luôn là mục tiêu kinh
tế hàng đầu đối với tất cả các nền kinh tế trên thế giới, kể cả nền kinh tế thị trường pháttriển Ở bất kỳ quốc gia nào cũng vậy, mục tiêu kinh tế hàng đầu là đạt tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao và ổn định Trong những năm qua, Việt Nam đã đặt ra mục tiêu tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững nhằm phù hợp với xu thế kinh tế thế giới và đáp ứngđược yêu cầu phát triển nội tại của nền kinh tế đất nước
Tăng trưởng cao và liên tục không chỉ là điều kiện cần mà còn là động lực cho sựphát triển kinh tế xã hội để rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam và các nước hàng đầutrên thế giới, đó cũng là nền tảng xác lập vị thế đất nước trong quá trình cạnh tranh hộinhập toàn cầu hiện nay
Mặc dù việc tăng trưởng kinh tế cao đã mang lại nhiều tác dụng đối với nền kinh
tế nói riêng và với sự phát triển đất nước nói chung, nhưng trên thực tế chúng ta vẫnđang phải đối mặt với nguy cơ bị các nước đi trước bỏ xa hơn Điều đáng chú ý là nguy
cơ tụt hậu của nền kinh tế Việt Nam xuất phát từ chỗ bỏ qua những cơ hội mở ra chophát triển, ở sự thiếu sẵn sàng trong việc chuẩn bị tốt các điều kiện nguồn lực vốn cócủa đất nước để cạnh tranh nắm bắt các cơ hội đó
Chính vì những lý do này mà trong thời điểm hiện nay, việc nghiên cứu về tăngtrưởng kinh tế và sự đóng góp của các nhân tố đối với sự tăng trưởng kinh tế có ý nghĩarất quan trọng về nhiều mặt, nó không những xác định vị trí và ảnh hưởng của từng yếu
tố để có kế hoạch khai thác hiệu quả, mà còn có ý nghĩa xác định được yếu tố tiềm ẩngia tăng lạm phát để tìm ra biện pháp kiểm soát hạn chế Việc nghiên cứu vấn đề này sẽgiúp xác định được đúng hướng đầu tư cho phát triển nền kinh tế bền vững trong tươnglai
Trang 2CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I KHÁI NIỆM VÀ ĐO LƯỜNG
Như chúng ta đã biết, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh
tế trong một khoảng thời gian nhất định ( thường là một năm) Sự gia tăng được thểhiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còntốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự giatăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dướidạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI
và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người
Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền
kinh tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hayviệc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao Theo khía cạnh này, điều đượcnhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục,có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độtăng thu nhập bình quân đầu người Hơn thế nữa quá trình ấy phải được tạo nên bởinhân tố đóng vai trò quyết định khoa học công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiệnmột cơ cấu kinh tế hợp lý
II CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.Mô hình cổ điển
Được hình thành cách đây 200 năm bởi Adam Smith và Ricardo, mô hình này
có những nội dung cơ bản sau:
Yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn Trong ba yếu
tố trên thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, là giới hạn của sự tăng trưởng
Phân chia xã hội thành 3 nhóm người: địa chủ, tư bản và công nhân Sự phânphối thu nhập của ba nhóm này phụ thuộc vào quyền sở hữu của họ đối với các yếu tốsản xuất Địa chủ có đất thì nhận địa tô, tư bản có vốn thì nhận lợi nhuận, công nhân
có sức lao động thì nhận tiền công Cách phân phối này đuợc họ cho là hợp lý Vậy:
Thu nhập xã hội = địa tô + lợi nhuận + tiền công
Trang 3Trong 3 nhóm người này, thì nhà tư bản giữ vai trò quan trọng trong cả sản xuất,tích luỹ và phân phối Họ đứng ra tổ chức sản xuất, giành lại một phần lợi nhuận đểtích luỹ và chủ động trong quá trình phân phối
Các nhà kinh tế học cổ điển còn cho rằng, hoạt động của các chủ thể kinh tế bịchi phối bởi bàn tay vô hình-cơ chế thị trường, phủ nhận vai trò của nhà nước, chorằng đây là cản trở cho phát triển kinh tế
Về yếu tố vốn và tiến bộ kĩ thuật, Mác cho rằng mục đích của các nhà tư bản làtăng giá trị thặng dư, tuy nhiên, việc tăng sức lao động cơ bắp của người công nhâncần dựa vào cải tiến kĩ thuật Tiến bộ kĩ thuật làm tăng số máy móc và dụng cụ laođộng, nghĩa là cấu tạo hữu cơ của tư bản C/V có xu hướng tăng lên
Do đó, các nhà tư bản cần nhiều tiền vốn hơn để mua máy móc, trang thiết bị,ứng dụng công nghệ mới Cách duy nhất để gia tăng vốn là tiết kiệm Vì vậy, các nhà
tư bản chia giá trị thặng dư ra hai phần: một phần để tiêu dùng, một phần tích luỹ pháttriển sản xuất Đó là nguyên lý tích luỹ của chủ nghĩa tư bản
Cũng như các nhà kinh tế học cổ điển, Mác cho rằng khu vực sản xuất ra của cảivật chất cho xã hội gồm 3 nhóm: địa chủ, tư bản, công nhân Tương ứng, thu nhập của
họ là địa tô, lợi nhuận và tiền công Tuy nhiên, sự phân phối này mang tính bóc lột:thực chất là 2 giai cấp: bóc lột và bị bóc lột
Các nhà kinh tế trước Mác chỉ phân biệt rõ hai thuộc tính có mâu thuẫn củahàng hoá: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Trái lại, Mác khẳng định rằng hàng hoá là
sự thống nhất biện chứng của hai mặt: giá trị sử dụng và giá trị Mác là người đầu tiênđưa ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá và xây dựng lý luận về tư bản bấtbiến, tư bản khả biến, hoàn thiện việc phân chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định
và tư bản lưu động
- Về mặt giá trị: Mác đã phân chia sản phẩm xã hội thành 3 phần c+v+m , trên cơ
sở đó, Mác cho rằng :
Tổng sản phẩm xã hội = C + V + m Tổng thu nhập quốc dân = V + m
( Trong đó C: tư bản bất biến; V: tư bản khả biến; m: giá trị thặng dư)
- Về mặt hiện vật, Mác chia làm hai khu vực:
Khu vực 1: sản xuất ra tư liệu sản xuất
Trang 4Khu vực 2: sản xuất ra tư liệu tiêu dùng
Về quan hệ cung cầu và vai trò của nhà nước: trong khi phân tích chu kì kinhdoanh và khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản, Mác cho rằng, khủng hoảng thừa
do thiếu số cầu tiêu thụ, đây là biểu hiện của mức tiền công giảm và mức tiêu dùngcủa cá nhân nhà tư bản cũng giảm vì khát vọng tăng tích luỹ Muốn giải thoát khỏikhủng hoảng, nhà nước phải có những biện pháp kích cầu nền kinh tế
Như vậy, Mác đã đặt nền tảng đầu tiên cho xác định vai trò của nhà nước trongđiều tiết cung cầu kinh tế
3 Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế
Vào cuối thế kỉ XIX, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ , trườngphái kinh tế tân cổ điển ra đời Bên cạnh một số quan điểm về tăng trưởng kinh tếtương đồng cùng trường phái cổ điển như sự tự điều tiết của bàn tay vô hình, mô hìnhnày có các quan điểm mới sau:
- Đối với các nguồn lực về tăng trưởng kinh tế, mô hình nhấn mạnh vai trò đặcbiệt quan trọng của vốn Từ đó họ đưa ra hai khái niệm:
+ Phát triển kinh tế theo chiều sâu: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng số lượngvốn cho một đơn vị lao động
+ Phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng vốn tươngứng với sự gia tăng lao động
- Để chỉ quan hệ giữa gia tăng sản phẩm và tăng đầu vào, họ sử dụng hàm sảnxuất Cobb Douglass Y = F(K, L, R, T)
Sau khi biến đổi, Cobb-Douglass thiết lập mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởngcác biến số:
g = t + ak + bl + cr
Trong đó:
g : tốc độ tăng trưởng GDP
k, l, r : tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên
t : phần dư còn lại, phản ánh tác động khoa học kĩ thuật
a, b, c: các hệ số, phản ánh tỉ trọng của các yếu tố đầu vào trong tổng sản phẩm(a + b + c = 1)
4 Mô hình của Keynes về tăng trưởng kinh tế
Nhấn mạnh vai trò của tổng cầu trong xác định sản lượng của nền kinh tế: saukhi phân tích các xu hướng biến đổi của tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, và ảnh hưởng củachúng đến tổng cầu , khẳng định cần thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao tổng cầu
và việc làm trong xã hội
Nhấn mạnh vai trò điều tiết của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế.Những chính sách làm tăng tiêu dùng: tác động vào tổng cầu như: sử dụng ngân sáchnhà nước để kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước và trợ cấp vốn
Trang 5cho các doanh nghiệp, giảm lãi suất ngân hàng để khuyến khích đầu tư, đánh giá caovai trò của hệ thống thuế, công trái nhà nước để bổ sung ngân sách, tăng đầu tư củanhà nước vào các công trình công cộng và một số biện pháp hỗ trợ khác khi đầu tư tưnhân giảm sút.
Phát triển tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 của thế kỉ 20, hai nhà kinh
tế học là Harrod người Anh và Domar người Mĩ đưa ra mô hình xem xét mối quan hệtăng trưởng với các nhu cầu về vốn:
k: hệ số ICOR: hệ số gia tăng tư bản- đầu ra
Hệ số ICOR phản ánh trình độ kĩ thuật của sản xuất và là số đo năng lực sản xuấtcủa đầu tư (để tăng 1 đồng tổng sản phẩm cần k đồng vốn)
5 Mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại của P.A Samuelson-hỗn hợp
Sau một thời gian áp dụng mô hình kinh tế chỉ huy của Keynes, quá nhấnmạnh tới vai trò bàn tay hữu hình của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ
mô, hạn chế bàn tay vô hình, tạo trở ngại cho quá trình tăng trưởng Các nhà kinh
tế học của trường phái hỗn hợp ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp.Trên thực tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế hỗnhợp ở những mức độ khác nhau, vì thế , đây được coi là mô hình tăng trưởng kinh
tế hiện đại, nội dung cơ bản của nó là:
Thống nhất với mô hình kinh tế tân cổ điển, mô hình kinh tế học hiện đạicho rằng, tổng mức cung của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào củaquá trình sản xuất, đó là tài nguyên, lao động, vốn, khoa học công nghệ Thốngnhất với kiểu phân tích của hàm sản xuất Cobb-Douglass về sự tác động của cácyếu tố trên với tăng trưởng
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng thống nhất với mô hình Harrod-Domar
về vai trò tiết kiệm và vốn đầu tư trong tăng trưởng kinh tế
Chính vì thế , nhiều người cho rằng mô hình kinh tế hỗn hợp là sự xích lạigần nhau của học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes
III CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1 Mục tiêu của tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế cao, tăng năng suất lao động, nâng cao mức sống, khảnăng phát triển ở nước ngoài, sự ổn định chi phí và giá cả là các mục tiêu kinh tế của
Trang 6Sự tăng trưởng tạo điều kiện để nâng cao mức sống và đẩy mạnh anh ninh quốcgia Nó kích thích kinh doanh táo bạo,khuyến khích sự đổi mới và mang lại một sựkhích lệ thường xuyên đối với hiệu quả kỹ thuật và quản lý Hơn nữa, một nền kinh tếđang tăng trưởng tạo thuận lợi cho tính năng động về mặt kinh tế và xã hội; Tính năngđộng về kinh tế, bởi vì những thay đổi trong mô hình công nghiệp có thể diễn ra thôngqua nguồn nhân lực mới của lực lượng lao động và dòng đầu tư mới; tính năng động
về mặt xã hội, bởi vì sự mở rộng quy mô kinh tế sẽ tăng cường cơ hội cho các thànhviên dám nghĩ dám làm và sáng tạo trong cộng đồng Sự tăng trưởng tạo nguồn vốncho cộng đồng
2 Vai trò của năng suất đến sự tăng trưởng kinh tế
Mục trên đã cho thấy tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế và khẳng định đó làmục tiêu của các chính phủ, nhưng một câu hỏi đặt ra là vậy thì điều gì quyết địnhtăng trưởng; vì sao có sự khác biệt to lớn về mức sống giữa các nước Như chúng ta đãthấy, lời giải thích chỉ gói gọn trong một từ duy nhất: năng suất Nhìn từ một góc độkhác, sự khác biệt giữa các nước lại thật khó hiểu Để giải thích vì sao thu nhập ở một
số nước lại cao hơn các nước khác đến thế, chúng ta cần phải xem xét các yếu tố quyếtđịnh năng suất của một nước
Thuật ngữ năng suất phản ánh lượng hàng hóa và dịch vụ mà một công nhânsản xuất ra trong mỗi giờ lao động Do đó những công nhân nào sản xuất ra nhiềuhàng hóa và dịch vụ thì đời sống của họ sẽ sung túc hơn Như vậy năng suất cũngđóng vai trò mức sống của một nước Hãy nhớ lại rằng tổng sản phẩm trong một nướcphản ánh đòng thời: tổng thu nhập của tất cả các thành viên trong nền kinh tế và tổngchi tiêu cho sản lượng hàng hóa và dich vụ của nền kinh tế
Đất nước chỉ có thể hưởng thụ cuộc sống tốt đẹp hơn khi nó sản xuất được lượnghàng hóa và dịch vụ lớn hơn Người Mỹ sống sung túc hơn người Nigieria vì côngnhân Mỹ có năng suất cao hơn công nhân Nigieria nghĩa là mức sỗng của một nướcphụ thuộc vào năng lưc sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nước đó
3 Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế
Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nước
đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát triểnkinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế lànguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốn nhân tố này khác nhau ởmỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tươngứng
3.1.Vốn nhân lực
Nhiều nhà kinh tế cho rằng chất lượng đầu vào lao động - kỹ năng, kiến thức
và kỷ luật của lực lượng lao động - là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế.Hầu hết các yếu tố khác của sản xuất như tư bản hiện vật, nguyên vật liệu, công nghệđều có thể mua hoặc vay được trong nền kinh tế thế giới Một nước có thể nhập khẩu
Trang 7các thiết bị thông tin viễn thông, máy tính , máy phát điện, các loại máy móc hiện đạinhất Nhưng những hàng tư bản này chỉ có thể được sử dụng một cách có hiệu quảnhất nếu như người công nhân có kỹ năng và được đào tạo, có trình độ văn hóa, kỷluật lao động cao làm cho năng suất lao động tăng, và người quản lý có tri thức và khảnăng quản lý những quy trình công nghệ hiện đại một cách có hiệu quả.
Nói tóm lại nguồn vốn nhân lực có vai trò rất lớn trong tăng trưởng của nềnkinh tế Hằng năm Chính phủ của các nước thường có những chính sách đặc biệt đểthu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, và đào tạo lao động có trình độ chuyên môn
cao
3.2 Tài nguyên thiên nhiên
Một trong các yếu tố sẩn xuất quan trọng nữa là tài nguyên thiên nhiên Tàinguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất do thiên nhiên mang lại,như đất đai, sông ngòi và khoáng sản, sự khác biệt về nguồn tài nguyên thiên nhiêngây ra một số khác biệt về mức sống trên thế giới Sự thành công có ý nghĩa lịch sửcủa Mỹ bắt nguồn từ cung đất đai mênh mông, thích hợp cho ngành nông nghiệp,ngày nay một số nước ở vùng trung đông như Cô-oet, và Arapxeut rất giàu chỉ vì họsống trên những giếng dầu lớn nhất thế giới
Mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng nhưng đó khôngnhất thiết là nguyên nhân làm cho nền kinh tế có năng suất cao Ví dụ: Nhật là mộttrong những quốc gia giàu nhất thế giới lại nghèo tài nguyên thiên nhiên Như vậy tàinguyên thiên nhiên chỉ là một yếu tố tác động vào tăng trưởng kinh tế
3.3 Tư bản
Tư bản là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà ngườilao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗilao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tưnghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong sự pháttriển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sựtăng trưởng cao và bền vững Tuy nhiên, tư bản không chỉ là máy móc, thiết bị do tưnhân đầu tư cho sản xuất nó còn là tư bản cố định xã hội, những thứ tạo tiền đề chosản xuất và thương mại phát triển Tư bản cố định xã hội thường là những dự án quy
mô lớn, gần như không thể chia nhỏ được và nhiều khi có lợi suất tăng dần theo quy
mô nên phải do chính phủ thực hiện Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông,mạng lưới điện quốc gia ), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi
3.4 Tri thức công nghệ
phụ thuộc vào nhân tố hết sức quan trọng là tri thức công nghệ
Trong lịch sử, tăng trưởng của các nước trên thế giới có hình mẫu khácnhau, không phải là quá trình sao chép giản đơn, tăng thêm nhà máy hoặc côngnhân Trái lại là một quá trình sáng chế và thay đổi công nghệ không ngừng đãđem lại một bước tiến xa về khả năng sản xuất của các nước Châu Âu, Mỹ, Nhật
Trang 8Ngày nay nhờ tiến bộ trong kỹ thuật trồng trọt, chỉ một phần nhỏ dân sốtrong nông nghiệp cũng đủ nuôi sống toàn xã hội, thay đổi công nghệ là nhữngthay đổi trong quá trình sản xuất hoặc đưa ra những sản phẩm mới sao cho có thểtạo ra được sản lượng nhiều hơn và cải tiến hơn với cùng một lượng đầu vào Như vậy nhân tố quan trọng thứ tư là tri thức công nghệ.
Trên đây là bốn nguồn của tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên các nhân tố đó cóthể khác nhau giữa các nước và một số nước có thể kết hợp chúng hiệu quả hơncác nước khác Điều quan trọng là cần nghiên cứu và áp dụng hiệu quả vào điềukiện của nền kinh tế
Trang 9CHƯƠNG II TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2001 – 2005
I BỐI CẢNH
1 Bối cảnh quốc tế
Thế giới đã bước qua thế kỷ 20, thế kỷ có những biến động lớn lao nhất trong lịch sử,
đó là: sự ra đời và sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa; sự phát triển như vũbão của khoa học công nghệ, đem lại cho con người những thay đổi sâu sắc trong nhậnthức, trong cải thiện đời sống vật chất tinh thần
Xã hội loài người đang bước vào một nền văn minh mới, một nền kinh tế mới và một
xu hướng phát triển mới, đó là văn minh trí tuệ, kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóanền kinh tế.Những xu hướng này sẽ tác động đến mọi quốc gia, dân tộc, trong đó có ViệtNam
2 Bối cảnh trong nước
Sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, bước vào những năm đầu của thế kỷ
21, thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế đã có những thay đổi căn bản so vớitrước
- Việt Nam đã vững vàng bước qua cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, đạt đượcnhiều thành tựu kinh tế xã hội, và đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước để đến năm 2020 về cơ bản có thể trở thành một nước côngnghiệp
- Kết thúc thế kỷ 20, bước vào thế kỷ 21, chúng ta đã có quan hệ ngoại giao vàkinh tế với hầu hết các quốc gia trên thế giới, vai trò và vị thế của Việt Nam ngàycàng được nâng cao Đây là điều kiện hết sức quan trọng để giúp chúng ta có thể thuhút được ngày càng nhiều nguồn lực từ bên ngoài phục vụ cho sự phát triển của đấtnước
II THỰC TRẠNG GIAI ĐOẠN 2001 – 2005
1 Một số thành tựu đạt được
1.1 Tăng trưởng về quy mô và tốc độ
Đây là giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm, kết thúc nửa chặng đường thực hiệnchiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong thế kỉ 21 Trong suốt 5 năm,2001-2005 kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục, với tốc độ năm sau cao hơn nămtrước
- Về quy mô: Tăng trưởng của nước ta trong giai đoạn này cũng có sự tăng lênđáng kể được thể hiện qua bảng sau:
Trang 10Bảng 1: GDP của Việt Nam qua các năm theo giá thực tế
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2006
Trong giai đoạn này, GDP của năm sau tăng cao hơn so với năm trước Năm 2002
là 313.247 tỷ đồng, năm 2003 là 336.242 tỷ đồng, 2005 tăng so với năm 2001 hơn100.000 tỷ đồng Chứng tỏ quy mô sản xuất của chúng ta ngày càng được mở rộng
- Về tốc độ: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn này thể hiện trong bảng
Bảng 3: Tốc độ tăng GDP của nền kinh tế
Trang 11Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn này đạt 7.5%, cao hơn so vớimức 6.9% là tốc độ tăng trưởng bình quân của 5 năm trước (1996-2000) Tuy nhiên tốc độ tăngtrưởng là không đồng đều giữa các năm, đến năm 2003 tốc độ tăng bình quân mới đạt7.1%/năm Phải nhờ sự tăng đột biến của năm 2004 mới nhích lên 7.28%/năm và đặt biệt là sựtăng vọt vào năm 2005 mới hoàn thành kế hoạch là đạt tốc độ tăng trung bình 7.5%/năm Tốc
độ tăng trưởng kinh tế lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng dân số( khoảng 1.3 - 1.4%) nhờ đóGDP bình quân đầu người cũng tăng rõ rệt, từ 412.9USD năm 2001 lên 637.3 USD năm 2005
Tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2005
Nguồn: Tổng cục thống kê và Viện NCQLKTTW
Trong tốc độ tăng trưởng bình quân 7.5%, khu vực nông-lâm-thuỷ sản do tỷ trọnggiảm dần và tốc độ tăng trưởng thấp nên đóng góp vào tốc độ tăng trưởng bình quân là0.82%, đóng góp của khu vực dịch vụ bình quân là 2.84% và khá cao vào năm 2005 là3.42% trong tổng số 8.43% Về công ngiệp-xây dựng, trong giai đoạn 2001-2005 vẫn
là khu vực có đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng trưởng: bình quân 3.84%
Việt Nam đã đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã diễn ra trong cả ba khu vực:
Trang 12Bảng 5: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế
Đơn vị: %Năm
Nông-lâm-thủy sản 23.24 23.03 22.54 21.81 20.70
Công nghiệp- xây dựng 38.13 38.49 39.47 40.21 40.80
Riêng công nghiệp chế biến 19.78 20.58 20.45 20.34 20.70
+ Nông nghiệp: (bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản): Giá trị sản xuất toàn
ngành vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân trong 5 năm đạt 5.4%, caohơn so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 4.8%, trong đó nông nghiệp tăng 4.0%; lâmnghiệp tăng 1.3%; ngư nghiệp tăng 10.7% Đặc biệt sản xuất lương thực có thể gọi là
kỳ tích của nước ta Sản lượng lương thực tăng bình quân mỗi năm 1.1 triệu tấn, từ34.3 triệu tấn năm 2001 đã tăng lên đến 39.9 triệu tấn vào năm 2005 Năm 2005 ViệtNam đã xuất khẩu được 5.2 triệu tấn gạo chiếm 30% sản lượng Sản lượng ngànhthủy sản năm 2005 đạt khoảng 3.3 triệu tấn, tăng gấp 1.4 lần so với năm 2001 Lâmnghiệp tăng trưởng chậm hơn nhưng cũng đã có những chuyển biến tích cực, từngbước chuyển hướng từ lâm nghiệp do nhà nước quản lý là chính sang thu hút sự đónggóp của nhiều thành phần kinh tế Nhờ đó, tốc độ che phủ của rừng từ 33.7% năm
2000 lên đến khoảng 38% năm 2005
+ Công nghiệp và xây dựng: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân
trong 5 năm là 10.3%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế,
và được coi là đầu tàu tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Thời kỳ này, trừ năm 2002GDP của công nghiệp chỉ đạt mức tăng trưởng 9.48%, tất cả các năm khác côngnghiệp đều đạt mức tăng trưởng hai con số, rong đó năm 2005 đạt mức tăng trưởnglên đến trên 11%.Giá trị hàng công nghiệp xuất khẩu trong 5 năm(2001-2005) đạt trên
79 tỷ USD chiếm 73% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.Giá trị sản xuất công nghiệptăng bình quân 15.7% cao hơn so với mức 13.9% của giai đoạn 1996-2000 Với quy
mô ngày càng mở rộng và tốc độ tăng trưởng cao, công nghiệp hiện đang đóng góp tớitrên 50% mức tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế
+ Dịch vụ: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân hàng năm giai đoạn
2001-2005 là 7.0%, cao hơn mức 6.8% của giai đoạn 1996-2000 Các ngành thuộckhu vực này đều có bước tăng trưởng khá Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ củangành thương mại bình quân trong 5 năm tăng 14.8 % Du lịch có bước phát triểnmạnh, lượng khách du kịch quốc tế đến Việt Nam tăng từ 2.1 lượt triệu khách năm
Trang 132000 lên 3.2 triệu năm 2005 Các ngành bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm,
tư vấn, y tế, giáo dục phát triển ngày càng mạnh mẽ
- Về cơ cấu các ngành kinh tế, tuy nông nghiệp (gồm cả lâm ngư nghiệp) vẫntăng nhưng tốc độ chậm hơn so với công nghiệp và dịch vụ, nên tỷ trọng của ngànhnày tiếp tục giảm xuống Tỷ trọng của công nghiệp (gồm cả xây dựng) tăng lên rõ rệt,điều đó là phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước trong thời
kỳ công nghiệp hóa Tỷ trọng của các ngành dịch vụ sau khi giảm chút ít trong ba nămđầu, sau đó đã ổn định lại và bắt đầu tăng lên vào năm 2005.Tỷ lệ cơ cấu ngành củaViệt Nam năm 2005 gần giống với của Thái Lan những năm 70 và của Malaixianhững năm 60
- Về cơ cấu thành phần kinh tế, khu vực nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn,tới 38% GDP Khu vực ngoài quốc doanh nói chung chiếm 39.4% GDP Khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài chiếm 15% GDP năm 2004
Ngoài ra, giai đoạn 2001-2005 còn đánh dấu bước chuyển biến tích cực củakinh tế đối ngoại Việt Nam Nước ta đã đạt được thành tựu to lớn trong xuất khẩu.Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005 đạt hơn 32.2 tỷ USD (bình quân đầu người là380USD), tăng gấp 2.2 lần so với mức 14.4 tỷ USD năm 2000.Kim ngạch xuất khẩu
so với GDP năm 2005 đạt tỷ lệ 60.9% Quy mô xuất khẩu của Việt Nam hiện đã đứngthứ 42 trong tổng số 131 nước và vùng lãnh thổ được xếp hạng trên thế giới
1.2 Tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
Vốn, lao động, khoa học công nghệ (KHCN) là 3 nhân tố chính tác động đếntăng trưởng
- Thứ nhất, về vốn:
Trong giai đoạn 2001-2005, thị trường vốn cung cấp cho nền kinh tế là 93753 tỷđồng, tương đương 7.8% tổng nhu cầu vốn đầu tư.Trong đó, nguồn vốn nhà nước vẫnchiếm tỷ lệ lớn nhất, bình quân thời kỳ 2001-2005 là 55% Nguồn vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài và nguồn vốn ODA chiếm 17.9% và 10.2% trong tổng nguồn vốn cho đầu
tư phát triển Vốn vẫn là yếu tố chủ đạo đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong giaiđoạn này, cụ thể là 55-57% (Theo Bộ trưởng Bộ KHĐT-Võ Hồng Phúc)
Kể từ năm 2000, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng tăng trởlại, từ mức 2695 triệu USD năm 2000, đến năm 2005 đã đạt 5814 triệu USD Tínhchung trong 5 năm 2001-2005, Việt Nam đã thu hút được hơn 19 tỷ USD vốn đầu tưtrực tiếp FDI theo đăng ký Nguồn vốn này đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyểngiao công nghệ và giảm chi phí nguyên liệu đầu vào, làm nâng cao năng lực cạnhtranh của hàng hóa trong nước.Tỷ trọng đóng góp của FDI vào GDP bình quân giaiđoạn 2001-2005 đạt 14.36%, trong khi giai đoạn 1996-2000 chỉ đạt 10.2% Doanh thucủa khu vực FDI giai đoạn 2001-2005 đạt hơn 77.9 tỷ USD, tăng gần 2.9 lần so vớigiai đoạn 1996-2000 Nộp ngân sách của khu vực FDI giai đoạn 2001-2005 là 3.55 tỷUSD, tăng gần 2.4 lần giai đoạn 1996-2000
Trang 14Không chỉ nguồn vốn trực tiếp, mà cả nguồn vốn đầu tư gián tiếp các loại vàoViệt Nam cũng được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm Vốn ODA của các nhà tàitrợ ký kết cho Việt Nam giai đoạn 2001-2005 đạt 11080 triệu USD, trong đó tổng sốvốn đã giải ngân là 7840 triệu USD Đây là nguồn vốn đã mang lại cho đất nước,người dân nhiều công trình kinh tế, phúc lợi quan trọng như: cầu Mỹ thuận, cầu sôngGianh, dự án nâng cấp quốc lộ 1A, dự án thủy lợi Cửa Đạt- Thanh Hóa…
Ngoài ra, lượng kiều hối chuyển về nước cũng tăng lên qua các năm, từ 1757triệu USD năm 2000, đến năm 2005 con số này đã lên đến 3800 triệu USD
Tuy nguồn vốn đầu tư tăng và đạt được tỷ lệ đầu tư toàn xã hội khá cao 38.7%vào năm 2005 nhưng hiệu quả của vốn đầu tư còn nhiều bất cập, đặc biệt vốn đầu tưcủa khu vực nhà nước Theo tính toán của các tổ chức quốc tế, hệ số ICOR của khuvực nhà nước là 7.3, của khu vực ngoài quốc doanh là 3.9, trong khi, hệ số ICOR củatoàn bộ nền kinh tế là 5
- Thứ 2, về lao động:
Lao động là thứ nước ta sẵn có tức là nội lực hơn nữa lại có rất nhiều đến mức
dư thừa Trong 5 năm qua, số lao động đang làm việc hàng năm tăng khoảng hơn 1triệu người, năm 2000 là 37.6 triệu người; năm 2005 là 42.7 triệu người Tỷ lệ thấtnghiệp ở thành thị giảm từ 6.4% năm 2000 xuống 5.3% năm 2005 Tỷ lệ sử dụng thờigian lao động trong độ tuổi ở nông thôn tăng từ 74.2% lên 80.6% trong những nămtương ứng Trong giai đoạn này lao động đóng góp 18-20% (Theo Bộ trưởng BộKHĐT-Võ Hồng Phúc)
Do tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực 2 và 3 nhanh hơn khu vực 1 nên cơ cấulao động cũng chuyển dịch dần theo hướng giảm tỷ trọng lao động làm việc trong cácngành nông ngư nghiệp và tăng trong ngành công nghiệp và dịch vụ
Bảng 6: Cơ cấu lao động theo ngành
Trang 15
Bảng 7: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thời gian lao động ở nông thôn
Đơn vị: %
Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao
động trong độ tuổi ở thành thị 6.42 6.28 6.01 5.78 5.6 5.3
Tỷ lệ thời gian làm việc của lực
lượng lao động trong độ tuổi ở nông
Nguồn: Niên giám thống kê
Trong thời gian 2001-2005, năng suất lao động xã hội của Việt Nam tăng4.81%/ năm, về quy mô đạt 19.62 triệu đồng 1 lao động/ năm (năm 2005) Nếu tínhbằng USD chia cho số lượng lao động theo tỷ giá hối đoái thực tế của Việt Nam năm
2005 thì mới đạt 1234 USD thấp xa so với nhiều nước trong khu vực.Trong đó TrungQuốc là 2152.3 USD, Thái Lan 4514.1 USD, Mailaixia là 11276.2 USD, Hàn Quốc29057.6 USD, Singapore 48563.9 USD, Nhật Bản 73014.4 USD… Việt Nam đứngthứ 20 về năng suất lao động so với các nước trên thế giới, nhưng về tốc độ tăng năngsuất lao động thì chúng ta đứng thứ 3 Điều đó chứng tỏ Việt Nam đang là nước có tốc
độ tăng năng suất lao động cao, nhưng năng suất lao động còn thấp Điều đó có thểgiải thích trình độ khoa học công nghệ còn thấp, cơ sở vật chất nghèo nàn, công tácquản lý hạn chế, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên đặc biệt là nông nghiệpNhư vậy, thị trường lao động ở Việt nam trong 5 năm (2001-2005) đã có nhữngbước phát triển rõ rệt Qua các năm, nguồn cung lao động ngày càng tăng cả về sốlượng và chất lượng, số người có việc làm tăng và theo cơ cấu ngày càng tiến bộ, thunhập và năng suất lao động đều tăng…
- Thứ ba, về khoa học công nghệ (KHCN):
Tăng trưởng kinh tế được phân thành 2 loại, tăng trưởng kinh tế theo chiềurộng, phản ánh tăng thu nhập phụ thuộc vào tăng quy mô nguồn vốn, số lượng nguồnlao động và khai thác tài nguyên thiên nhiên; và tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, là
sự gia tăng của thu nhập do tác động của yếu tố công nghệ đến hiệu quả sử dụng cácyếu tố đầu vào(TFP) Theo xu hướng hiện nay thì chúng ta cần nhấn mạnh việc tăng
Trang 16độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những tác động từ môi trường bên ngoài Do đó,đồng thời với việc khai thác lợi thế so sánh về lao động và tài nguyên thì cần phải chú
ý nâng cao tác động của nhân tố năng suất tổng hợp
Trong suốt 10 năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực để tăng cường đầu tưcho KH&CN Chi cho KH&CN từ ngân sách nhà nước tăng bình quân hàng năm trên23% trong giai đoạn 1996-2005 Từ năm 2000 đến nay, đầu tư tài chính cho KH&CNluôn đảm bảo ở mức 2% tổng chi ngân sách nhà nước, đạt đến 4.270 tỷ đồng trongnăm 2005 Tuy nhiên, xét cả về số lượng tuyệt đối và tương đối, đầu tư cho R&D ởnước ta còn thấp hơn nhiều lần so với các nước trong khu vực Theo tiêu chí chi R&Dtính trên 1 đầu cán bộ nghiên cứu thì Việt Nam thấp hơn 4 lần Thái Lan, 7 lần TrungQuốc, 8 lần Malaixia và 26 lần so với Xingapo Đáng quan tâm là tỷ trọng chi R&Dcủa khu vực ngoài Nhà nước so với tổng chi R&D vào năm 2000 của nước ta cònthấp, mới đạt khoảng 19%, trong khi ở Trung Quốc là 45%, Malaixia là 60% và NhậtBản là trên 72% (trung bình, các doanh nghiệp Việt Nam mới đầu tư cho R&D chừng0,03% doanh thu, tỷ lệ này ở các nước công nghiệp là khoảng 3%)
Kết thúc kế hoạch 5 năm 2001-2005 ở nhiều ngành sản xuất, dịch vụ, máy mócthiết bị đã được đổi mới Một số ngành đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến, tiếp cậnvới trình độ công nghệ hiện đại của của thế giới như các ngành bưu chính- viễn thông,thăm dò- khai thác dầu khí Tuy vậy, đối với phần lớn các ngành doanh nghiệp nhànước cũng như các doang nghiệp vừa và nhỏ của khu vực ngoài quốc doanh nhìnchung máy móc thiết bị còn lạc hậu Trong nông nghiệp, thiếu công nghệ bảo quản vàchế biến nên đến nay trên 60% hàng nông sản vẫn xuất khẩu dưới dạng sơ chế, làmcho giá trị gia tăng của hàng nông sản thấp
Qua những phân tích trên có thể thấy, chúng ta chưa tận dụng được lợi thế củakhoa học công nghệ đối với các nước đi sau, tiếp thu những thành tựu khoa học côngnghệ của thế giới, để tăng trưởng cả về chiều rộng cũng như chiều sâu.Vì thế tronggiai đoạn này đóng góp của KHCN vào tăng trưởng mới chỉ đạt 23-27%, một con sốthấp Trong đó ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc tỉ lệ này trung bình là 40-60%
1.3 Đóng góp của yếu tố đầu vào cho tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế xét ở đầu vào, có ba yếu tố đóng góp Đó là sự đóng gópcủa yếu tố số lượng vốn đầu tư, sự đóng góp của số lượng lao động và sự đóng gópcủa yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)
Theo tính toán ban đầu, yếu tố số lượng vốn đầu tư đã đóng góp khoảng 57%,yếu tố số lượng lao động đóng góp khoảng 20%, yếu tố TFP đóng góp 23%
Từ sự đóng góp như trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Một là tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa chủ yếu vào sự đóng góp của yếu
tố số lượng vốn đầu tư
Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ năm 2004 đến nay đều đã vượt qua mốc 40%(năm 2004 đạt 40,7%, năm 2005 đạt 40,9%, năm 2006 đạt 41%, ước năm 2007 đạt40,4%), kế hoạch năm 2008 còn cao hơn, lên đến 42%