LỜI MỞ ĐẦU Đề án kinh tế thương mại ĐỀ TÀI NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU DẦU MỎ CỦA VIỆT NAM Lời mở đầu 3 Chương 1 Tổng quan chung về dầu mỏ và thị trường dầu mỏ 4 1 1 Dầu mỏ nghành công nghiệ[.]
Trang 1ĐỀ TÀI: NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
DẦU MỎ CỦA VIỆT NAM
Lời mở đầu 3
Chương 1: Tổng quan chung về dầu mỏ và thị trường dầu mỏ 4
1.1 Dầu mỏ nghành công nghiệp dầu mỏ 4
1.1.1 Khái niệm dầu mỏ 4
1.1.2 Vai trò dầu mỏ 5
1.1.3 Ngành công nghiệp dầu mỏ 6
1.1.4 Khai thác xuất khẩu dầu mỏ 8
1.2 Thị trường dầu mỏ thế giới 9
1.2.1 Đặc điểm thị trường dầu mỏ thế giới 9
1.2.2 Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC 12
1.2.3 Những biến động thị trường dầu mỏ thế giới 14
1.2.4 Nguyên nhân biến động 16
1.2.5 Kinh nghiệm các nước trước sự biến động giá dầu 19
Chương 2: Hoạt động xuất khẩu dầu mỏ ở Việt Nam 20
2.1 Thực trạng xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam 20
2.1.1 Khai thác dầu mỏ Việt Nam 20
2.1.2 Tình hình xuất khẩu dầu mỏ Việt Nam sang một số thị trường chính 26
Trang 22.2 Tác động sự biến động mức giá trên thị trường dầu mỏ tới hoạt
động xuất khẩu mỏ của Việt Nam 33
2.2.1 Thuận lợi 33
2.2.2 Khó khăn 34
2.2.3 Tác động việc gia nhập WTO lên ngành dầu mỏ Việt Nam 36
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam 38
3.1 Dự báo về thị trường dầu mỏ và những biến động giá trên thị trường thế giới 38
3.2 Dự báo triển vọng khai thác xuất khẩu dầu mỏ ở Việt Nam 42
3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu dầu mỏ Việt Nam 45
3.3.1 Giải pháp về phía nhà nước 45
3.3.1.1 Đầu tư cho các hoạt động khai thác xây dựng nhà máy lọc dầu 45
3.3.1.2 Xây dựng cơ quan dự báo về biến động thị trường dầu mỏ 47
3.3.1.3 Các biện pháp tài chính 47
3.3.2 Các giải pháp phía doanh nghiệp 48
Kết luận 53
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nhận định chung cho rằng thế kỷ XIX là thế kỷ của than, thế kỷ XX
là thế kỷ của dầu mỏ và trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, chắcchắn loại nhiên liệu không thể tái sinh được này vẫn chưa thể bị thay thếbởi khí đốt, than, thuỷ điện, năng lượng hạt nhân, năng lượng gió, mặttrời, địa nhiệt, bởi hơn 80% năng lượng hiện nay được tạo ra bởi dầu mỏ
Trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, mặt hàng dầu thô
(dầu mỏ chưa qua tinh chế) là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực, luônchiếm vị trí số một về giá trị kim ngạch xuất khẩu (tổng trị giá xuất khẩucủa toàn bộ nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008 là 63500 triệu USD thìxuất khẩu dầu thô đạt 10900 triệu USD - tương đương 17.17% tổng trịgiá kim ngạch xuất khẩu) Dự báo trong những năm tới sản lượng xuấtkhẩu dầu thô sẽ ngày càng giảm đi nhưng vẫn là một trong những mặthàng mũi nhọn xuất khẩu của Việt Nam Việc khai thác và xuất khẩu hiệuquả mặt hàng này sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp ViệtNam, tăng doanh thu xuất khẩu cho đất nước
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, thị trường dầu thô thế giới biếnđộng không ngừng do nhiều nguyên nhân khác nhau, do vậy làm ảnhhưởng rất nhiều tới tình hình xuất khẩu dầu thô của Việt Nam Giá dầutrên thế giới biến động lúc tăng, lúc giảm tạo ra những thuận lợi và cảnhững khó khăn cho hoạt động xuất khẩu dầu của Việt Nam Do vậy,
việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu dầu
mỏ của Việt Nam” để tận dụng những thuận lợi, khắc phục khó khăn, tạo
điều kiện cho hoạt động xuất khẩu dầu thô một cách hiệu quả nhất là mộttất yếu khách quan
Trang 4CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ DẦU MỎ VÀ
THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ
1.1 Dầu mỏ và ngành công nghiệp dầu mỏ
1.1.1 Khái niệm dầu mỏ
Dầu mỏ là một loại tài nguyên khoáng sản quý mà thiên nhiên bantặng cho con người So với các khoáng sản khác như: than đá, đồng, chì,nhôm, sắt…thì dầu mỏ được con người biết đến và sử dụng tương đốimuộn hơn
Dầu mỏ là hợp chất hydrocacbon được khai thác lên từ lòng đất,thường ở thể lỏng và thể khí Ở thể khí, chúng bao gồm khí thiên nhiên
và khí đồng hành Khí thiên nhiên là toàn bộ hydrocacbon ở thể khí khaithác từ giếng khoan bao gồm cả khí ẩm và khí thô Khí đồng hành là khí
tự nhiên nằm trong các vỉ dầu dưới dạng mũ khí hoặc khí hoà tan và đượckhai thác đồng thời với dầu thô Trong bảng tuần hoàn Menđêleep, cácnguyên tố cacbon và hydro có đặc tính kỳ diệu là trong các điều kiệnnhiệt độ và áp suất khác nhau chúng kết hợp và tạo thành những hợp chấthydrocacbon khác nhau Loài người đã sớm biết sử dụng đặc tính quý giánày để phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình
Có nhiều lý thuyết giải thích việc hình thành dầu mỏ Theo lý thuyếttổng hợp sinh học được nhiều nhà khoa học đồng ý, dầu mỏ phát sinh từnhững xác chết của các sinh vật ở đáy biển, hay từ các thực vật bị chôntrong đất Khi thiếu khí ôxy, bị đè nén dưới áp suất và ở nhiệt độ cao cácchất hữu cơ trong các sinh vật này được chuyển hoá thành các hợp chấttạo nên dầu Dầu tích tụ trong các lớp đá xốp, do nhẹ hơn nước nên dầu
đã chuyển dần dần lên trên cho đến khi gặp phải các lớp đá không thẩmthấu thì tích tụ lại ở đấy và tạo thành mỏ dầu.Cuối thế kỷ XIX, nhà hoá
Trang 5học người Nga Menđêleep đã đưa ra lý thuyết vô cơ giải thích sự hìnhthành của dầu mỏ Theo lý thuyết này, dầu mỏ phát sinh từ phản ứng hoáhọc giữa cacbua kim loại với nước tại nhiệt độ cao ở sâu trong lòng đấttạo thành các hiđrôcacbon và sau đó bị đẩy lên trên Các vi sinh vật sốngtrong lòng đất qua hàng tỷ năm đã chuyển chúng thành các hỗn hợphiđrocacbon khác nhau Lý thuyết này là một đề tài gây nhiều tranh cãitrong giới khoa học.
Dầu mỏ là loại khoáng sản năng lượng, có tính “linh động” cao Saunữa, chúng có bản chất sinh thành, di cư và tích tụ gần giống nhau Giốngnhư nhiều loại tài nguyên khoáng sản khác, dầu mỏ được hình thành dokết quả quá trình vận động phức tạp lâu dài hàng triệu năm về vật lý, hoáhọc, địa chất, sinh học…trong vỏ trái đất Thông thường dầu mỏ sau khikhai thác có thể xử lý, tàng trữ và xuất khẩu ngay
1.1.2 Vai trò của dầu mỏ
Dầu mỏ cùng với các loại khí đốt được coi là “Vàng đen”, đóng vaitrò quan trọng trong đời sống kinh tế toàn cầu Đây cũng là một trongnhững nguyên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đại dùng để sản xuấtđiện và cũng là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông vận tải.Hơn nữa dầu mỏ cũng được sử dụng trong công nghiệp hoá dầu để sảnxuất các chất dẻo và nhiều sản phẩm khác
Dầu mỏ mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho các quốc gia và dân tộctrên thế giới đang sở hữu và tham gia trực tiếp kinh doanh nguồn tàinguyên trời cho này
Hiện nay, trong cán cân năng lượng, dầu mỏ vẫn giữ vai trò quantrọng nhất so với các dạng năng lượng khác Cùng với than đá, dầu mỏcùng các loại khí đốt khác chiếm tới 90% tổng tiêu thụ năng lượng toàncầu
Trang 6Không ít các cuộc chiến tranh, các cuộc khủng hoảng kinh tế vàchính trị có nguyên nhân sâu xa từ các hoạt động cạnh tranh sản xuấtkinh doanh trong lĩnh vực dầu mỏ Không phải ngẫu nhiên mà giá cổphiếu của các công ty sản xuất kinh doanh dầu mỏ biến động tuỳ thuộcrất lớn vào những kết quả tìm kiếm thăm dò của chính các công ty đó trênthế giới Lợi dụng hiện tượng biến động này, không ít các những thôngtin không đúng sự thật về các kết quả thăm dò dầu mỏ được tung ra làmđiêu đứng những nhà đầu tư chứng khoán trên lĩnh vực này, thậm chí làmkhuynh đảo cả chính sách của các quốc gia.
Đối với nước ta, vai trò và ý nghĩa của dầu khí nói chung trong đó
có dầu mỏ càng trở nên quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá Không chỉ là vấn đề thu nhập kinh tế đơnthuần, trong những năm qua dầu mỏ đã góp phần đáng kể vào ngân sáchquốc gia, làm cân đối hơn cán cân xuất nhập khẩu thương mại quốc tế,góp phần tạo nên sự phát triển ổn định nước nhà trong những năm đổimới đất nước
Hơn thế nữa, với sự ra đời của dầu mỏ đã giúp chúng ta chuyểnsang thế chủ động trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp, tiếp thu côngnghệ hiện đại của nước ngoài, phát triển ngành nghề dịch vụ, giải quyếtcông ăn việc làm Đồng thời, dầu mỏ có thể chủ động đảm bảo cung cấpnhiên liệu cho các ngành kinh tế quốc dân, cung cấp nhiên liệu cho cácngành công nghiệp khác
1.1.3 Ngành công nghiệp dầu mỏ
Thứ nhất, ngành công nghiệp dầu mỏ là một ngành mang tính tổnghợp và đa dạng cao Ngành này cũng đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn, rủi ronhiều và lợi nhuận cao Thông thường, khi đầu tư vào một lô tìm kiếmthăm dò, các công ty phải bỏ ra hàng trăm triệu đôla Mỹ Nếu kết quả tìm
Trang 7kiếm, thăm dò không đạt kết quả (thường xác suất xảy ra điều này rấtcao), số tiền đầu tư coi như mất trắng Các sự cố trong khi khai thác, vậnchuyển dầu thường gây những tổn thất vô cùng lớn Sự cố chìm giànkhoan dầu P - 36 ngoài khơi Braxin tháng 3 - 2001 vừa qua đã gây tổnthất tới 450 triệu đôla Mỹ cho Công ty Petrobras Vì vậy các công ty dầu
mỏ thường liên minh để giảm thiểu rủi ro và một khi phát hiện dòng dầucông nghiệp, thì họ càng khai thác càng nhanh càng tốt để sớm thu hồivốn đầu tư
Thứ hai, ngành công nghiệp dầu mỏ cũng là ngành công nghệ cao
và là con đẻ của ngành công nghiệp nặng Tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnhvực thăm dò, khoan, khai thác, xây dựng công trình biển…có nhiều bướcnhảy vọt Có thể nói, ngành công nghiệp dầu mỏ nói riêng và côngnghiệp dầu khí noi chung đang sử dụng những công nghệ hiện đại nhấttrong tất cả các lĩnh vực và đang là ngành dẫn đầu trong phát triển và ứngdụng các công nghệ ngày càng tiên tiến hơn
Thứ ba, công nghiệp dầu mỏ là một ngành mang tính quốc tế cao,khác với than đá trước đây, việc thăm dò, khai thác, chế biến và phânphối dầu khí đã nhanh chóng mang tính toàn cầu Có lẽ, hiện tượng toàncầu hoá xảy ra sớm nhất trong ngành này Trong quá trình phát triển củamình, đặc biệt nhất là trong “thập kỷ vàng”, các hoạt động dầu khí chủyếu được tiến hành thông qua các hợp đồng ký giữa các công ty đa quốcgia với nước chủ nhà có nguồn tài nguyên dầu Có nhiều dạng hợp đồng
đã được sử dụng, nhưng phổ biến và vẫn còn ý nghĩa cho tới ngày nay làdạng “hợp đồng phân chia sản phẩm” Điều khoản cơ bản của dạng hợpđồng này là nhà đầu tư (các công ty dầu mỏ) đồng ý tiến hành mọi hoạtđộng tìm kiếm, thăm dò bằng nguồn tài chính của riêng mình Nếu cóphát hiện thương mại, nhà đầu tư tiếp tục chi cho các hoạt động pháttriển, khai thác Lượng dầu khí khai thác lên sau khi nộp cho thuế tài
Trang 8nguyên sẽ được chia theo tỷ lệ sản lượng cho nước chủ nhà Để san sẻ rủi
ro và đảm bảo lợi nhuận ổn định, ngoài việc liên minh, liên kết trong cáchợp đồng phân chia sản phẩm, hầu hết các công ty dầu mỏ có chiến lượcphát triển theo mạng đầu tư ở nhiều nơi, nhiều nước và theo chiều dọc Trong quá trình thực hiện các hợp đồng phân chia sản phẩm, cácnước sở hữu dầu mỏ nhận thấy rằng cần phải giảm thiểu sự phụ thuộcvào các công ty đa quốc gia, tiếp cận trực tiếp với ngành công nghiệp này
và đảm bảo an ninh năng lượng cho mình vì thế các công ty dầu mỏ ở cácquốc gia ra đời Quá trình chuyển giao năng lượng trong ngành này từcác nước phát triển sang các nước đang phát triển đã diễn ra mạnh mẽ.Nhờ đó các công ty dầu mỏ quốc gia này ngày càng tham gia tích cựchơn vào thị trường dầu mỏ quốc tế Nhiều công ty đã tiến hành hoạt độngxuất khẩu và đầu tư rất có hiệu quả
Một đặc điểm nữa của công nghiệp dầu mỏ là luôn tồn tại sự biếnđộng về giá dầu thô và sản phẩm buộc các tập đoàn phải có những giảipháp tổ chức áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, nghiên cứu ứng dụng và pháttriển, để tạo thế cạnh tranh về môi trường địa chất, địa lý, về giá thànhthăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, lợi nhuận
1.1.4 Khai thác và xuất khẩu dầu mỏ
Suốt từ năm 1858 đến năm 1960, mọi hoạt động dầu mỏ được thựchiện chủ yếu ở các vùng thuộc châu Mỹ, Trung Đông và một số vùngkhác Các tập đoàn tư bản đã nhanh chóng nắm bắt khai thác nguồn nănglượng mới này để khống chế chi phí và thu lợi nhuận tối đa Hoạt độngxuất khẩu dầu mỏ đầu tiên được thực hiện tại nước Nga (1884) và sự pháthiện vùng dầu Texas vào cuối thế kỷ XIX, những năm đầu thế kỷ XXVenuezela bắt đầu khai thác dầu, đến chiến tranh thế giới lần hai thì về
cơ bản giá dầu đã ở mức từ 5 - 7 USD/1thùng Cuối năm 1960, Tổ chức
Trang 9các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC ra đời, từ đó lấy lại thế bình quântrong cạnh tranh và chi phối giá cả, lợi nhuận dầu khí trên toàn thế giới
và cũng đặt nền móng cho hoạt động xuất khẩu dầu khí của các quốc gia
- một hoạt động mang lại rất nhiều lợi nhuận cho các quốc gia
Tuỳ theo nguồn tính toán, trữ lượng dầu mỏ thế giới vào khoảng từ
1148 tỉ thùng (theo BP Statistical Review 2004) đến 1260 tỉ thùng (theoOeldorado 2004 của Exxon Mobil) Trữ lượng dầu mỏ tìm thấy và có khảnăng khai thác mang lại hiệu quả kinh tế với kỹ thuật hiện đại đã tăng lêntrong những năm gần đây và đạt mức cao nhất vào năm 2003 Người ta
dự đoán rằng trữ lượng dầu mỏ sẽ đủ dùng cho 50 năm nữa
Việt Nam được xếp vào các nước xuất khẩu dầu mỏ là từ năm 1991,khi sản lượng khai thác mới đạt vài ba triệu tấn Đến nay, sản lượng dầukhí khai thác và xuất khẩu hàng năm đã đạt hơn hai chục triệu tấn Côngviệc khai thác đã từng bước được hoàn thiện
1.2 Thị trường dầu mỏ thế giới
1.2.1 Đặc điểm thị trường dầu mỏ thế giới
Thị trường dầu mỏ thế giới là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch,mua bán về dầu mỏ giữa các quốc gia trên khắp thế giới Nó có nhữngđặc điểm chung song cũng có những điểm hết sức khác biệt so với các thịtrường khác
Thứ nhất, đây là một thị trường lớn do nhu cầu phong phú, đa dạng
về dầu mỏ của các quốc gia trên khắp thế giới Trong khi mà các nguồntài nguyên không thể tái sinh ngày càng cạn kiệt và những nguồn nănglượng khác chưa thể thay thế được vai trò chiến lược của dầu mỏ thì nhucầu về dầu mỏ vẫn ngày một tăng với một số lượng lớn các giao dịchmua bán dầu mỏ giữa các quốc gia, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên
Trang 10Thứ hai, thị trường dầu mỏ còn hết sức nhạy cảm với những biếnđộng về kinh tế, chính trị trên toàn cầu từ đó dẫn đến những biến độngtrên chính thị trường dầu mỏ Chỉ cần xảy ra một sự bất ổn định về mặtchính trị của một trong những quốc gia xuất khẩu dầu như là sự căngthẳng về chính trị tại Nigieria hay các hoạt động phá hoại của lực lượngchống đối tại Iraq, sự bất ổn các nguồn cung từ Nga (vụ Yukos) cũng cóthể làm chao đảo thị trường dầu mỏ mà điển hình là sự tăng giá dầu đếnmức kỷ lục vào tháng 10/2004.
Thứ ba, thị trường dầu mỏ thế giới chịu sự chi phối rất lớn của tổchức OPEC Các quyết định, chính sách của OPEC về cung cầu dầu mỏcũng như giá dầu đều có tác động rất lớn đến thị trường dầu mỏ thế giới.Chẳng hạn như khi OPEC ra quyết định cắt giảm sản lượng vào tháng4/2004, ngay lập tức thị trường đã có những phản ứng và biến động khácnhau trước quyết định này Trên các thị trường kỳ hạn, giá dầu có xuhướng giảm nhẹ ngay sau khi OPEC cắt giảm sản lượng do các nhà giaodịch bán ồ ạt các hợp đồng kỳ hạn để kiếm lợi Ngày 1/4/2004, giá dầuthô tại thị trường New York giao tháng 5 giảm 1,49 USD xuống còn34,27 USD/1 thùng nhưng sau đó giá dầu lại tiếp tục tăng mạnh trên cácthị trường giao dịch Bảng 1 sẽ cho ta thấy sự biến động giá xăng dầu sauquyết định cắt giảm sản lượng của OPEC
Trang 11Bảng 1: Biến động giá xăng dầu sau quyết định cắt giảm sản lượng
của OPEC Đơn vị: USD/thùng
Ngày 02/04
Ngày 08/04
Ngày 16/04
Tại sở giao dịch hàng hoá
Giá sản phẩm dầu tại thị
trường Singapore, FOB
Singapore
46,95-47,05
45,80
43,65-43,75
43,65
43,55-Nguồn: Viện nghiên cứu Bộ Thương mại
Trang 121.2.2 Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC
Thị trường dầu mỏ thế giới chịu sự chi phối và phụ thuộc rất nhiềuvào tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC Đây là một tổ chức đa chính phủđược thành lập bởi các nước Iran, I-rắc, Kwait, Ả Rập Saudi vàVenezuela trong hội nghị tại Baghda (từ ngày 10 tháng 9 đến 14 tháng 9năm 1960) Các thành viên gồm Qatar (1961), Nam Dương (1962), LiBi(1962) Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (1967), Algeria (1969) vàNigeria (1971) lần lượt gia nhập tổ chức sau đó Ecuador (1973 - 1992)
và Gabon (1975 - 1994) cũng từng là thành viên của OPEC Trong nămnăm đầu tiên đặt trụ sở cuả OPEC tại Geneve, Thuỵ Sĩ, sau đó chuyển vềViên, Áo từ tháng 9/1965 Các nước thành viên OPEC khai thác vàokhoảng 40% tổng sản lượng dầu thế giới và nắm giữ khoảng 3/4 trữlượng dầu thế giới
OPEC có khả năng điều chỉnh hạn ngạch khai thác dầu của các nướcthành viên và qua đó có khả năng khống chế giá dầu trên thị trường thếgiới Hội nghị các bộ trưởng phụ trách vấn đề năng lượng và dầu mỏthuộc tổ chức OPEC được tổ chức mỗi năm hai lần nhằm đánh giá thịtrường dầu mỏ và đề ra các biện pháp phù hợp để đảm bảo việc cung cấpdầu trên thị trường dầu mỏ thế giới Bộ trưởng các nước thành viên thaynhau theo nguyên tắc xoay vòng làm chủ tịch của tổ chức hai năm mộtnhiệm kỳ
Mục tiêu chính thức được ghi vào hiệp định thành lập OPEC là ổnđịnh thị trường dầu thô, bao gồm các chính sách khai thác dầu, ổn địnhgiá dầu thế giới và ủng hộ về mặt chính trị cho các thành viên khi bị cácbiện pháp cưỡng chế vì các quyết định của OPEC Nhưng thật ra nhiềubiện pháp được đề ra lại có động cơ bắt nguồn từ quyền lợi quốc gia, thí
dụ như trong cơn khủng hoảng dầu, OPEC đã không tìm cách hạ giá dầu
Trang 13thật ra là một chính sách dầu chung nhằm để giữ giá.OPEC dựa vào việcphân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh lượng khai thác dầu,tạo ra khan hiếm hoặc dư dầu giả, thông qua đó có thể có thể tăng, giảmhoặc giữ giá dầu ổn định Có thể coi OPEC như là một liên minh độcquyền luôn tìm cách giữ giá dầu ở mức có lợi nhất cho mình OPEC giữmột vị trí quan trọng nhất trên thị trường dầu mỏ thế giới Các mốc chínhđánh dấu hoạt động của OPEC.
* 14/9/1960: thành lập tổ chức OPEC theo đề xuất của Venezuela tạiBaghdad
* 1965: Dời trụ sở về Viên Các thành viên thống nhất một chính sáchkhai thác chung để bảo vệ giá
* 1970: Nâng giá dầu lên 30%., nâng thuế tối thiểu áp dụng cho cáccông ty khai thác dầu lên 55% của lợi nhuận
* 1971: Nâng giá dầu sau khi thương lượng với các tập đoàn khai thác.Tiến tới đạt tỷ lệ quốc gia hoá 50% các tập đoàn
* 1973: Tăng giá dầu từ 2,89 USD một thùng lên 11,65USD Thời giannày được gọi là cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, OPEC khai thác 55%lượng dầu của thế giới
* Từ 1974 đến 1978: tăng giá dầu 5-10% hầu như mỗi nửa năm mộtlần để chống lại việc USD bị lạm phát
* 1979: Khủng hoảng dầu lần thứ hai Sau cuộc cách mạng Hồi giáo,giá dầu từ 15,5 USD/1 thùng được nâng lên 24USD Lybia, Algeria vàIraq thậm chí đòi đến 30 USD cho một barrel
* 1980: Đỉnh điểm chính sách cao giá của OPEC Lybia đòi 41 USD,
Ả Rập Saudi đòi 32 USD và các nước thành viên còn lại là 36 USD chomột thùng dầu
Trang 14* 1981: Lượng tiêu thụ dầu giảm do các nước công nghiệp lâm vàocuộc khủng hoảng kinh tế và bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng dầu lần thứnhất, do giá dầu cao, nhiều nước trên thế giới đầu tư vào các nguồn nănglượng khác Lượng tiêu thụ dầu trên thế giới giảm 11% trong thời gian từnăm 1979 đến 1983, thị phần dầu của OPEC trên thị trường giảm còn40%.
* 1982: Quyết định cắt giảm sản lượng sản xuất tuy được thông quanhưng lại không được các thành viên giữ đúng Thị phần của OPEC giảmxuống còn 33% và vào năm 1985 còn 30% trên tổng số lượng khai thácdầu trên thế giới Lượng khai thác dầu giảm xuống mức kỷ lục là 17,43triệu thùng một ngày
* 1983: Giảm giá dầu từ 34 USD xuống 29 USD/1 thùng Giảm hạnngạch khai thác từ 13,5 triệu xuống 16 triệu thùng một ngày
* 1986: Giá dầu rơi xuống đến dưới 10 USD một thùng do sản xuất dưthừa và do một số nước trong OPEC giảm giá dầu
* 1990: Giá dầu được nâng lên trong tầm từ 18 đến 21 USD/1 thùng.Nhờ vào chiến tranh vùng vịnh giá dầu đạt đến mức đề ra
* 2000: Giá dầu đã dao động mạnh, vượt qua cả hai mức thấp và caonhất trong lịch sử Nếu trong quý I, chỉ với 9 USD người ta cũng có thểmua được một thùng dầu thì trong quý IV giá đã vượt trên 37USD/thùng Các nước thành viên của OPEC đồng ý giữ giá dầu ở mức22-28 USD/thùng
* 1/2005: OPEC quyết định giữ nguyên lượng khai thác 27 triệu thùng.Các thành viên đã nhất trí “tạm ngưng” không giữ giá dầu ở mức 22-28USD/thùng
1.2.3 Những biến động trên thị trường dầu mỏ thế giới
Trang 15Kể từ khi có ngành công nghiệp dầu khí đến nay, với khởi đầu Côngnghiệp dầu khí Mỹ, rồi khi Nga bắt đầu xuất khẩu dầu (1884), và pháthiện vùng dầu Texas vào cuối thế kỷ XIX, những năm đầu thế kỷ XXVenezuala bắt đầu khai thác dầu, đến chiến tranh thế giới lần thứ hai thì
về cơ bản giá dầu cũng chỉ ở mức từ 5 - 7 USD/1 thùng Từ thập kỷ 70của thế kỷ XX đã liên tiếp xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng giá dầu Đặcbiệt trong những năm gần đây giá dầu thế giới luôn ở mức cao, gây ra sựbiến động trên thị trường dầu mỏ đặc biệt là từ năm 2004 đến nay
Từ năm 1948 đến những năm cuối 1960, giá dầu trung bình của thếgiới chỉ dao động từ 2,5 - 3 USD/1 thùng Sự ra đời của các nước thànhviên OPEC đảm bảo cho sự ổn định về giá dầu Cú sốc giá dầu lần thứnhất bắt đầu vào cuối tháng 10/1973 khi Syria và Ai Cập tấn công Isarel
Mỹ và các nước phương tây đã hỗ trợ mạnh cho Isarel Trả đũa cho hànhđộng này, hàng loạt các nước xuất khẩu dầu trong khối Arab đã cấm vậnxuất dầu cho các nước thân với Isarel Họ đã cắt giảm lượng dầu sản xuất
từ 5 triệu thùng một ngày xuống còn một triệu thùng Kết quả là trongvòng 6 tháng, giá dầu thế giới đã tăng 400% Từ năm 1972 - 1978, giádầu dao động từ 12 - 14 USD/1 thùng so với giai đoạn trước chỉ có 3USD/1 thùng Lần biến động tiếp theo được châm ngòi bằng cuộc chiếntranh giữa Iran và Iraq năm 1979 Kết quả là lượng dầu sản xuất của haiquốc gia này sụt giảm Giá dầu lập tức tăng từ 14 USD/1 thùng năm 1978lên 38 USD/1 thùng năm 1981, tức tăng 271% Cú sốc giá dầu thứ ba xảy
ra vào giai đoạn Iraq tấn công Kuwait năm 1990 - 1991 Giá dầu từ mức
20 USD/1 thùng đã tăng lên 35 USD/1 thùng vào tháng 10/1990
Trang 16Biểu đồ 1: Biến động của giá dầu trên thị trường thế giới năm 2008
Theo dõi diễn biến giá dầu thô từ đầu năm 2002 đến nay, nếu bỏqua các thăng giáng đột xuất, ngắn ngày, thì khuynh hướng chung là tăngtuyến tính theo thời gian đặc biệt là biến động tăng giá dầu trong nhữngnăm gần đây Vào ngày 11/7/2008 giá dầu đạt mức giá cao nhất là 147,27USD/1 thùng Giá dầu tăng cao do USD mất giá, căng thẳng về chính trị,trữ lượng dầu có phần hạn chế, hoạt động đầu cơ trên thị trường, tìnhhình thời tiết không mấy thuận lợi Từ sau thời điểm 11/07/2008, giá dầu
đã trượt dốc không phanh Trong phiên giao dịch ngày 19/12/2008 tại thịtrường New York - Mỹ, giá dầu đã xuống mức 33,87USD/thùng Giá dầugiảm mạnh do cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng ra toàn cầu Kinh tế
Mỹ, kinh tế Nhật và kinh tế châu Âu đồng loạt bước vào suy thoái Nhucầu sử dụng dầu mỏ trên thế giới giảm mạnh
1.2.4 Nguyên nhân của biến động
Trang 17Giá dầu thô cùng với những sản phẩm của nó có những vị trí hết sức
quan trọng Khi giá dầu lên cao có thể gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tếcác nước và tác động đến nền kinh tế toàn cầu nói chung, làm cho thươngmại và đầu tư quốc tế suy giảm Bối cảnh kinh tế nói chung khi giá dầutăng hiện nay rất khác so với những cơn sốt giá dầu trước đây, tất cả đềuxảy ra đồng thời với với hiện tượng phát triển bùng nổ kinh tế do nhiềunền kinh tế hoạt động quá nóng Biến động của giá dầu do nhiều nhân tốnhư nhân tố chính trị và sự bất ổn trên thế giới với yếu tố tâm lý, lànhững nhân tố có tác động mạnh, còn nhân tố cung cầu là nhân tố quyếtđịnh sự biến động giá dầu trên thị trường thế giới
Nhân tố quyết định gây nên sự biến động trên thị trường mỏ chính lànhân tố cung cầu Cung dầu thô ngày càng hạn chế do dầu thô là nguồntài nguyên không tái tạo được Hiện nay trên thế giới đang diễn ra hàngloạt các tranh luận gay gắt về tình trạng cạn kiệt dầu Trong những nămgần đây, các mỏ mới và lớn, phát hiện ngày càng ít dần, trong lúc các mỏđang khai thác thì đang đi vào giai đoạn đỉnh điểm của hoặc đang chuyểnsang giai đoạn kết thúc Theo thông báo của Trung tâm phân tích tìnhtrạng cạn kiệt dầu có trụ sở ở London, thì năm 2000 có 13 mỏ mới đượcphát hiện với trữ lượng 500 triệu thùng trở lên, năm 2001 giảm xuốngcòn 6 mỏ, năm 2002 phát hiện 2 mỏ và đến năm 2003 chỉ còn 1 mỏ thuộctầm cỡ nói trên Các mỏ có trữ lượng trên 500 triệu thùng cung cấp đến80% sản lượng dầu tiêu thụ trên thị trường thế giới, do đó hiện tượng cạnkiệt dầu trở thành một nguy cơ đối với toàn cầu.Trong khi đó, nhu cầutiêu thụ dầu không ngừng gia tăng, đặc biệt ở những nước đang pháttriển, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ Và từ năm 2003, Mỹ đã tăng mức
dự trữ dầu thô chiến lựoc lên đến 700 triệu thùng, cũng làm cho nhu cầu
sử dụng dầu trên thế giới tăng lên Để đảm bảo an ninh năng lượng, các
Trang 18nước công nghiệp đều lo dự trữ dầu và tìm cách khống chế các nguồncung dầu bằng các biện pháp quân sự, gây bất ổn định chính trị xã hội Những tác động về mặt kinh tế toàn cầu cũng có ảnh hưởng khôngnhỏ đến sự biến động của giá dầu Nền kinh tế thế giới ngày càng tăngtrưởng mạnh Cùng với việc tăng trưởng, thì nhu cầu sử dụng dầu thôcũng tăng theo; đặc biệt là nhu cầu dầu thô của Trung Quốc, Mỹ và Ấn
Độ trong đó Trung Quốc chiếm đến 40% lượng dầu tăng của toàn thếgiới Năm 2003, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản và trở thành quốc gia thứhai tiêu thụ dầu thô trên thế giới, sau Mỹ Nhìn chung các nguồn nănglượng của Trung Quốc tương đối phong phú nhưng chủ yếu là than đá,còn dầu mỏ và khí đốt là để phục vụ nhu cầu trong nước vẫn còn thiếuhụt Trong 10 năm qua mức tiêu thụ dầu mỏ của Trung Quốc tăng khoảng6%/năm trong khi sản lượng dầu chỉ tăng 1,5% Chính sách truyền thống
về tự cung tự cấp dầu mỏ nay đã trở thành dĩ vãng Là nước nhập khẩulớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ và chiếm 40% mức tăng tiêu thụ dầu mỏthế giới, hàng ngày Trung Quốc nhập khẩu khoảng hai triệu thùng, tươngđương 270.000 tấn Chính phủ Trung Quốc dự báo đến năm 2030, con sốnày sẽ tăng lên 9,8 triệu thùng, tương đương 1,35 triệu tấn Đến năm
2020, theo như cam kết tăng gấp bốn lần GDP hiện nay tại Đại hội Đảngthứ XVI, Trung Quốc sẽ nhập khẩu khoảng 250 triệu tấn dầu mỗi năm vàtrở thành quốc gia nhập khẩu dầu lớn nhất trên thế giới Khi cuộc khủnghoảng tài chính từ Mỹ lan rộng các nước trên toàn thế giới dẫn đến suygiảm kinh tế nhiều quốc gia Giá dầu đã giảm mạnh có mức hạ giá lớnnhất trong hàng thập kỷ nay
Bên cạnh đó, chính trị cũng là một nhân tố rất quan trọng gây nên sựbiến động trên thị trường dầu mỏ Trước mắt, chính trị dầu mỏ khôngphải liên quan đến vấn đề thế giới sẽ thiếu dầu mà liên quan đến sự ra đời
và ảnh hưởng ngày càng tăng của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ
Trang 19OPEC đối với nền kinh tế thế giới, tình hình bất ổn ở Trung Đông và cáccuộc xung đột, tranh chấp biên giới, lãnh thổ ở các khu vực hiện nay đặc
biệt ở các khu vực có trữ lượng dầu lớn
Cuối cùng, tâm lý lo ngại cũng là một trong những nguyên nhân gâynên sự biến động tăng của giá dầu Tâm trạng lo ngại, sự lo lắng của giớikinh doanh về sự biến động giá dầu có thể phần nào được tạo ra bởi sựđầu cơ, đã kéo dài cơn sốt giá của thị trường dầu mỏ thế giới
1.2.5 Kinh nghiệm của các nước trước sự biến động giá dầu
Giá dầu cao tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế thế giới, hạnchế tốc đô tăng trưởng, làm cho đời sống khó khăn và theo sau đó lànhững lộn xộn về chính trị xã hội Các nước xử lý vấn đề này tuỳ thuộcvào điều kiện kinh tế xã hội và tình hình tài nguyên mỗi nước
Các nước OPEC chủ trương giữ giá dầu cao một cách hợp lý theo lýluận của họ bằng cách điều chỉnh sản lượng chi để mức cung xấp xỉ mứccầu Trước tình hình giá dầu giảm xuống dưới 40USD/thùng, các nướcOPEC muốn giá dầu không giảm thêm nữa mà ở mức 40USD/thùng trởlên Chỉ khi giá dầu đạt được mức 70-75 USD/thùng thì các quốc giaOPEC mới có thể duy trì đầu tư chính vì vậy họ muốn sử dụng mức giánày trong thời gian tới Với biện pháp này OPEC vừa đảm bảo có thunhập cao vừa giữ được nguồn tài nguyên mà họ tin rằng sau vài chục nămnữa, vai trò của họ trên thị trường dầu khí sẽ là tuyệt đối
Các nước sản xuất và xuất khẩu dầu nhỏ hơn thì hoặc là tranh thủkhai thác để tăng nguồn thu, hoặc là hạn chế khai thác trong nước, mởrộng đầu tư khai thác ở nước ngoài, phụ thuộc vào nhu cầu ngân sách.Chủ trương tăng cường khai thác để xuất khẩu chứa một nguy cơ tiềm ẩn,bởi vì sau này họ sẽ là những nước nhập khẩu với giá dầu cao hơn gấpnhiều lần Do vậy, các nước có tiềm năng tài chính thì phát triển chế biến
Trang 20trong nước để xuất khẩu sản phẩm lọc dầu, hạn chế tối đa xuất sản phẩmthô.
Các nước công nghiệp phát triển và các nước thiếu dầu khí thì chủtrương đa dạng hoá nguồn cung, đa dạng hoá nguồn nhiên liệu (sử dụngđiện, hydro thay xăng hoặc sản xuất xăng dầu từ khí đốt, than đá…), tiếtkiệm năng lượng kể cả đánh thuế cao, nhằm hạn chế nhu cầu sử dụng,đồng thời đầu tư nghiên cứu các nguồn năng lượng mới Để giữ cho giáxăng dầu nội địa ít biến động, các nước này rất tích cực lập kho dự trữchiến lược, đặc biệt là Mỹ, mục tiêu dầu dự trữ phải đủ dùng trong 9tháng, Trung Quốc mục tiêu này là 3 tháng
Trang 21CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU DẦU MỎ
CỦA VIỆT NAM.
2.1 Thực trạng xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam
2.1.1 Khai thác dầu mỏ ở Việt Nam
Công tác tìm kiếm thăm dò dầu mỏ trên đất liền miền Bắc đã bắt đầu
từ những năm 60 của thế kỷ trước và thực sự được mở rộng ra toàn lãnhthổ và lãnh hải Việt Nam từ sau ngày đất nước thống nhất Ngày26/6/1986 đã đánh dấu sự bắt đầu của ngành công nghiệp khai thác dầukhi mỏ Bạch Hổ (thuộc thềm lục địa phía Nam, ngoài khơi tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu) đã khai thác dòng dầu đầu tiên và chính thức đưa Việt Namvào danh sách các nước xuất khẩu dầu thô từ năm 1991 Điều đặc biệtquan trọng mang tính bước ngoặt là vào năm 1988 đã khẳng định nguồntrữ lượng dầu lớn tích tụ trong đá móng granít nứt nẻ và đã được khaithác Từ đó đến nay, móng granít nứt nẻ thuộc mỏ Bạch Hổ luôn đóngvai trò chủ lực trong khai thác dầu của Việt Nam Với việc phát hiện vàđưa vào khai thác dầu từ móng granít nứt nẻ tại mỏ Bạch Hổ, ngành dầukhí Việt Nam chẳng những đã chứng tỏ được sự lớn mạnh của mình màcòn mang đến cho nền công nghiệp dầu thế giới những quan điểm hết sứcmới mẻ về việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu trong đá móng granítnứt nẻ, một đối tượng mà từ trước đến nay thường ít được chú ý
Qua tìm kiếm thăm dò cho đến nay, các tính toán dự báo đã khẳngđịnh tiềm năng dầu khí Việt Nam tập trung chủ yếu ở thềm lục địa, trữlượng khí thiên nhiên có khả năng nhiều hơn dầu Với trữ lượng đã đượcthẩm định, nước ta có khả năng tự đáp ứng được nhu cầu về sản lượngdầu khí trong những thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ 3
Tổng tiềm năng dầu khí tại các bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh,
Trang 22Mây đã được xác định tiềm năng và trữ lượng đến thời điểm này là từ0,9 đến 1,2 tỷ m3 dầu và từ 2.100 đến 2.800 tỷ m3 khí Trữ lượng đãđược xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí Trữ lượngkhí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triểntrong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3 Với các biện pháp đồng bộ,đẩy mạnh công tác tìm kiếm - thăm dò, khoảng từ 40 đến 60% trữ lượngnguồn khí thiên nhiên của nước ta sẽ được phát hiện đến năm 2010.
Hiện nay, ngành Dầu khí nước ta đang khai thác dầu khí chủ yếu tại 6khu mỏ bao gồm: Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Hồng Ngọc, Rạng Đông,Bunga Kekwa - Cái Nước và chuẩn bị chính thức đưa vào khai thác mỏkhí Lan Tây - lô 06.l Công tác phát triển các mỏ Rạng Đông, Ruby vàEmeral, Lan Tây - Lan Đỏ, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Hải Thạch, RồngĐôi, Kim Long, Ác Quỷ, Cá Voi đang được triển khai tích cực theochương trình đã đề ra, đảm bảo duy trì và tăng sản lượng khai thác dầukhí cho những năm tới Dự kiến, mỏ Sư Tử Đen (lô 15-1) sẽ được đưavào khai thác trong quý 4 năm nay
Những phát hiện về dầu khí mới đây ở thềm lục địa miền Nam nước tarất đáng phấn khởi, tăng thêm niềm tin và thu hút sự quan tâm của cácnhà đầu tư là: lô 09-2, giếng Cá Ngừ Vàng - IX, kết quả thử vỉa thu được
330 tấn dầu và 170.000m3 khí/ngày Lô 16-l, giếng Voi Trắng-IX cho kếtquả 420 tấn dầu và 22.000m3 khí/ ngày Lô 15.1, giếng Sư Tử Vàng – 2Xcho kết quả 820 tấn dầu và giếng Sư Tử Đen – 4X cho kết quả 980 tấndầu/ngày Triển khai tìm kiếm thăm dò mở rộng các khu mỏ Bạch Hổ,Rồng, Đại Hùng với các giếng R-10, 05- ĐH-10 cho kết quả 650.000m3khí ngày đêm và dòng dầu 180 tấn/ngày đêm; Giếng R-10 khoan tầngmóng đã cho kết quả 500.000 m3 khí/ngày đêm và 160 tấnCondensate/ngày đêm
Trang 23Tính chung, 2 năm đầu thế kỷ mới, ngành Dầu khí nước ta đã thăm dòphát hiện gia tăng thêm trữ lượng trên 70 triệu tấn dầu thô và hàng chục
tỷ m3 khí để tăng sản lượng khai thác trong những năm tiếp theo
Biểu đồ 2: Sản lượng khai thác dầu thô của Việt Nam( năm
2001-2008)
Năm 2004, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã khai thác 20,35 triệutấn dầu thô (tăng hơn 3 triệu tấn so với mức đã thực hiện trong năm2002) Đây là năm đầu tiên nước ta khai thác trên 20 triệu tấn dầu thô Cóthể thấy năm 2004 là năm sản lượng khai thác dầu thô lớn nhất từ trướcđến nay(tính đến năm 2008) Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy có 2 xuhướng xuất hiện chính tính từ năm 2001 đến nay Xu hướng đầu tiên sảnlượng khai thác dầu liên tục tăng từ năm 2001 đến năm 2004 Điều này
có thể lý giải bằng việc ngành dầu khí liên tục nhận được vốn đầu tưnước ngoài và tiếp nhận khoa học kỹ thuật công nghệ trong ngành hóadầu Chúng ta tìm kiếm phát hiện đưa vào khai thác rất nhiều mỏ dầu mới
do đó sản lượng khai thác dầu tăng rất nhanh
Triệu tấn
Năm
Trang 24Nhưng bắt đầu từ khoảng 2004, sản lượng khai thác được của ViệtNam đã bắt đầu đi theo đà suy giảm rõ rệt Năm 2004 được 20.35 triệutấn, năm 2005 giảm xuống còn 18.84 triệu tấn, năm 2006 còn 17.25 triệutấn và năm 2007 ước lượng chỉ có 16.12 triệu tấn Việc này là do khaithác nhiên liệu ở vùng Nam Côn Sơn lại gặp phải vấn đề áp suất cao,nhiệt độ cao, vừa khó giải quyết về mặt kỹ thuật vừa tốn kém Thêm nữa,các vùng thăm dò - khai thác ở miền Bắc thường có tỉ lệ CO2 rất cao (70-90%) gây ra thách thức lớn về mặt kỹ thuật và môi trường Có một sốvùng có trữ lượng dầu đủ lớn để có ý nghĩa về thương mại, nhưng lạiphân bố dưới nền đá granite Với những vùng này, việc thăm dò và khaithác là đặc biệt phức tạp
Trữ lượng dầu ở các mỏ đang cạn dần, nếu không tìm ra được cácnguồn dầu lửa mới, và nếu không tính các nguồn dầu khai thác ở nướcngoài, thì sản lượng dầu mỏ khai thác được của Việt Nam được dự báo sẽliên tục suy giảm và chỉ còn khoảng 3 triệu tấn/năm vào năm 2025 Nói cách khác, nếu không tìm thấy các nguồn dầu mỏ mới, Việt Nam sẽgần như cạn kiệt nguồn dầu lửa trong vòng khoảng 15 năm Trong khicác nguồn dầu và khí đốt được tìm thấy đang cạn dần, để tìm kiếm cácnguồn mới đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện các dự án tìm kiếm và khaithác phức tạp hơn nhiều Thí dụ, các nguồn dầu chưa được tìm thấy phân
bổ chủ yếu ở các vùng nước sâu xa bờ, không thuận tiện về vận chuyển,lại thường xuyên bị Trung Quốc phản đối và tìm cách phá hoại
Trang 25Bảng 3: Sản lượng khai thác khí gas của Việt Nam(năm 2001-2008)
Trái ngược với sản lượng khai thác dầu thô thì sản lượng khai thác khígas của nước ta trong những năm vừa qua là liên tục tăng Nhưng chúng
ta có thể dễ dàng nhận thấy khi tốc độ tăng trong từng thời kỳ là khônggiống nhau Từ năm 2001 đến năm 2004 tốc độ tăng sản lượng khai tháckhí lên đến gần 50% Nhưng tốc độ này giảm sút với những năm sau đóvới tốc độ chỉ xấp xỉ 15% mỗi năm Chúng ta được khá nhiều thuận lợikhi được đối tác nước ngoài chuyển giao kỹ thuật tìm kiếm thăm dò vàkhai thác khí thiên nhiên ở thềm lục địa Điều này khiến sản lượng khíkhai thác có lượng tăng đột biến, nhưng gần đây trữ lượng khí ở các mỏđang dần cạn kiệt chưa có nguồn thay thế kịp thời Kéo theo sản lượngkhai thác khí đang có mức tăng chậm lại
Sau gần 30 năm hoạt động, vào năm 2004 Việt Nam đã đạt sản lượngtrung bình ngày 400 nghìn thùng (53 nghìn tấn) dầu thô Điều này đã đưanước ta trở thành quốc gia đứng thứ ba về sản xuất và xuất khẩu dầu trongkhu vực Tính đến nay, PVN đã khai thác được trên 250 triệu tấn dầu thô,
Tỷ m3 khí
Năm
Trang 26hoàn tất 1 đề án mở rộng phát triển mỏ Đã khai thác được 15 triệu tấndầu và condensate, 7,5 tỷ m3 khí Quý 1 năm 2009 Sản lượng khai thácdầu thô là 4,42 triệu tấn và khai thác khí là 2,01 tỷ m3
2.1.2 Tình hình xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam sang 1 số thị trường chính
Biểu đồ 4: Biểu đồ giá trị xuất khẩu dầu thô Việt Nam 2008
Từ năm 1986 đến nay Việt Nam chủ yếu xuất khẩu dầu thô - sản phẩmdầu mỏ song chưa qua tinh chế(chúng ta đang tích cức đưa nhà máy lọcdầu Dung Quất vào hoạt động quý I năm 2009) Theo dòng thời gian, sauBạch Hổ, dầu thô khai thác từ những mỏ khác cũng lần lượt được đưavào thị trường thế giới Năm 1994, từ mỏ Đại Hùng đã có dầu thô xuấtkhẩu, đây là những sản phẩm đầu tiên có sự hợp tác với các công ty dầukhí phương tây, khi đó là công ty BHPP của Australia Tiếp đến năm
1997, ta có xuất khẩu dầu thô từ mỏ PM3 - CAA, năm 1998 từ hai mỏRạng Đông và Ruby và năm 2003 có thêm hai mỏ nữa có dầu đó là mỏ
Sư Tử Đen và mỏ Cái Nước
Việt Nam được xếp vào các nước xuất khẩu dầu mỏ là từ năm 1991khi sản lượng khai thác mới đạt vài ba triệu tấn Đến nay, hàng năm sản
Trang 27lượng dầu khai thác và xuất khẩu của Việt Nam đã đạt hai chục triệu tấn.Tổng số dầu thô xuất khẩu của Việt Nam tính đến năm 2008 đạt khoảngtrên 250 triệu tấn với doanh thu trên 50 tỷ USD
Việt Nam đứng thứ 31 trong số các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ về
sản lượng dầu xuất ra so sánh với các quốc gia khác trên thế giới và khuvực Dầu thô giữ vị trí số một trong xuất khẩu song kim ngạch xuất khẩuphụ thuộc nhiều vào biến động giá cả trên thị trường quốc tế 9 tháng đầunăm, giá dầu XK của VN trung bình đạt 116USD/thùng (tương đươngvới 872USD/tấn) với sản lượng XK đạt 10,43 triệu tấn Với mức giá khảquan này, kim ngạch XK dầu thô đã vượt trội, đạt 9,097 tỉ USD, tăng66% so với kế hoạch đề ra 9 tháng và tăng 20% so với kế hoạch cả năm.Tuy nhiên, kể từ cuối tháng 10, đầu tháng 11, kinh tế thế giới bước vàosuy thoái khiến giá dầu giảm mạnh Giá dầu giảm đương nhiên sẽ tácđộng đến nguồn thu từ xuất khẩudầu mỏ
Biểu đồ 5: Sản lượng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam 2008
Trang 28Mặc dù 2 năm 2007,2008 PetroVietnam không đạt sản lượng khaithác, song kim ngạch XK vẫn "ăn theo" giá Năm 2008, trong tổng sảnlượng khai thác quy dầu, dự kiến đạt 22,8 triệu tấn thì dầu thô khai thácchỉ đạt 15,3 triệu tấn (bằng 96% kế hoạch năm).
Sản lượng dầu thô XK còn thấp hơn, dự kiến chỉ đạt 14,68 triệu tấn,bằng 94% kế hoạch, nhưng doanh thu XK thì đạt tới 11,31 triệu tấn, tăngxấp xỉ 50% kế hoạch năm Sản lượng xuất khẩu dầu thô Việt Nam giảm
do một số nguyên nhân là một số mỏ dầu trong nước giảm sản lượng vàmục tiêu khai thác 1 triệu tấn dầu thô từ nước ngoài không đạt Sản lượngkhai thác vẫn tiếp tục đi xuống Một số mỏ mới dự định đưa vào khaithác chưa hoàn tất các công việc chuẩn bị phát triển mỏ
Do phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp thiết bị đặt hàng của nướcngoài, trong khi các nhà cung cấp thiết bị khoan, khai thác đều bị quá tải
do bội thực khả năng đáp ứng Giá dầu tăng cao làm cho hoạt động khaithác dầu khí ngày càng nhộn nhịp
Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động,như vậy sẽ cần mộtlượng dầu thô tương đối lớn,làm cho lượng xuất khẩu dầu thô giảm đi Việc điều chỉnh giảm sản lượng dầu thô xuất khẩu của năm nay lànằm trong chiến lược thăm dò, khai thác dầu khí lâu dài của PetroVietnam, nhằm đảm bảo nguồn dự trữ dầu thô cho quốc gia Trữ lượngdầu thô của Việt Nam là không lớn, chỉ xếp thứ tư ở Đông Nam Á Chính
vì vậy, với việc đưa vào hoạt động một số nhà máy lọc dầu trong thờigian tới, Petro Vietnam sẽ điều chỉnh hoạt động kinh doanh sang hướnggiảm dần lệ thuộc vào xuất khẩu
Dầu thô giữ một vai trò rất quan trọng trong việc làm tăng đáng kểgiá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước Là một nước xuất khẩu dầu mỏ(chiếm khoảng hơn một phần năm tổng giá trị xuất khẩu), Việt Nam phụ