MỤC LỤC Câu 1 Khái niệm quyền con người Bình luận “Ở Việt Nam, quyền con người được hiểu là nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận, bảo vệ trong pháp luật. đề cương pháp luật về quyền con người chi tiết
Trang 1MỤC LỤC
Câu 1 Khái niệm quyền con người Bình luận: “Ở Việt Nam, quyền con người được hiểu là nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận, bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” 1 Câu 2 Các thuộc tính của quyền con người Bình luận: “Tính không thể tước bỏ của nhân quyền thể hiện: Quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện vì bất
kỳ quốc gia, chủ thể nào, kể cả cơ quan Nhà nước” 3 Câu 3 Bình luận: “Quyền con người vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù” 4
Câu 4 Nghĩa vụ bảo vệ quyền con người của mỗi quốc gia 7 Câu 5 Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền con người ở Việt Nam Những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam Một số giải pháp nâng cao việc bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyển con người ở Việt Nam 9 Câu 7 Mối quan hệ giữa luật quốc tế về quyền con người với pháp luật quốc gia 16 Câu 8 Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật theo Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam
và pháp luật quốc tế 17 Câu 9 Quyền sống theo Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về quyền sống 19 Câu 10 Phân tích nội dung quyền được bảo vệ, không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục trong pháp luật quốc tế Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế 22 Câu 11 Phân tích nội dung quyền được bảo vệ, khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện trong luật nhân quyền quốc tế Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế 23 Câu 12 Nội dung của quyền được xét xử công bằng trong pháp luật quốc tế Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế 25 Câu 13 Nội dung quyền được tham gia vào đời sống chính trị trong pháp luật nhân quyền quốc tế Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế 28 Câu 14 Quyền làm việc và hưởng thù lao công bằng, hợp lý Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế 31 Câu 15 Nội dung của quyền được giáo dục trong pháp luật quốc tế Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế 33 Câu 16 Nội dung quyền của phụ nữ trong Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử chống lại phụ nữ (CEDAW 1979) Sự tương thích giữa pháp luật VN và PL quốc tế 36 Câu 17 Nội dung quyền trẻ em trong Công ước quốc tế Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế 39
Trang 2Câu 1 Khái niệm quyền con người Bình luận: “Ở Việt Nam, quyền con người được hiểu là nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận, bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”.
Quyền con người là sự kết tinh những giá trị văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giớithông qua một tiến trình phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại Mặc dù được Liên hợp quốcthừa nhận từ năm 1948 với sự ra đời của UDHR, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệmtoàn diện, thống nhất bao hàm được tất cả các thuộc tính về quyền con người Bản thân quyềncon người là một phạm trù đa diện, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháplý Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cậnquyền con người theo những góc độ khác nhau
Ở cấp độ quốc tế, Văn phòng Cao Ủy Liên hợp quốc về quyền con người (OHCHR) đã
đưa ra định nghĩa về quyền con người, theo đó quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn
cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc
mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và sự tự do cơ bản của con người.
Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu
và chuyên gia từng nêu ra Những định nghĩa này cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét
chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc
tế Từ khái niệm này có thể thấy quyền con người vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính pháp
lý
Thứ nhất, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người.
Khía cạnh này thể hiện tính tự nhiên của quyền con người Bắt nguồn từ chỗ con người là mộtthực thể tự nhiên, nên quyền con người là bẩm sinh, tức là quyền vốn có của con người ngay từkhi sinh ra mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người Cácquyền của con người có tính tự nhiên, do đó nó không phụ thuộc vào các phong tục, tập quán,truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức hay nhà nước nào
Vì vậy không một chủ thể nào kể cả các nhà nước có thể ban phát hay tước bỏ các quyền conngười bẩm sinh, vốn có của các cá nhân
Những điều viết về quyền con người trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1791
của Pháp (Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và
bình đẳng về quyền lợi), Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ (Mọi người sinh ra đều bình đẳng,
họ được tạo hoá ban cho một số quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc) cũng thừa nhận quyền con người là tự nhiên, vốn có.
Điều 14 HP 2013 của Việt Nam quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Điều này khẳng định chúng ta
đã nhận thức đúng bản chất quyền con người, đó là quyền tự nhiên, vốn có của con người từ lúcsinh ra chứ không phải là sự ban phát, trao quyền từ Nhà nước Do đó Nhà nước chỉ là chủ thểcông nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm cho quyền con người được thực hiện và không bị xâmhại
Thứ hai, quyền con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Khía cạnh này thể hiện tính pháp lý của quyền con người Điều này
trước hết là bởi cho dù quyền con người có là bẩm sinh, vốn có (nguồn gốc tự nhiên) hay phải docác nhà nước quy định (nguồn gốc pháp lý), thì việc thực hiện các quyền vẫn cần có pháp luật.Hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người (các quyền tự nhiên) không thể được bảođảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng vàthực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những
Trang 3quy tắc cư xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất với cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội.Chính vì vậy, quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật và là một phạm trù pháp lý.
Thực tế cho thấy, pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình đẳng giữa các cá nhân con ngườitrong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thôngqua việc pháp điển hóa các quyền và tự do tự nhiên, vốn có của cá nhân Theo nghĩa này, phápluật có vai trò đặc biệt, không thể thay thế trong việc ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy các quyền conngười Vai trò của pháp luật với quyền con người thể hiện ở những khía cạnh cụ thể như sau:
- Pháp luật là phương tiện chính thức hoá, pháp lý hoá giá trị xã hội của các quyền tự nhiên: Mặc dù được thừa nhận song thông thường các quyền tự nhiên không mặc định được áp
dụng trực tiếp trong xã hội Về nguyên tắc, các nhà nước trên thế giới chỉ bảo đảm thực hiệnnhững quyền pháp lý - tức những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người đã được phápluật thừa nhận và bảo vệ Như vậy, chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền tự nhiên mới chuyểnthành những quyền con người có đầy đủ giá trị hiện thực Pháp luật chính là phương tiện để thựchiện quá trình chuyển hoá đó Nó có sứ mệnh cao cả là biến những nghĩa vụ đạo đức về tôntrọng và thực hiện các quyền tự nhiên thành các nghĩa vụ pháp lý (hay các quy tắc cư xử chung
do Nhà nước cưỡng chế thực hiện), từ đó xã hội hoá giá trị của các quyền tự nhiên của conngười
- Pháp luật là phương tiện bảo đảm giá trị thực tế của các quyền con người: Như đã đề
cập, chỉ khi được quy định trong pháp luật, việc tuân thủ và thực hiện các quyền con người mớimang tính bắt buộc với mọi chủ thể trong xã hội Ở đây, pháp luật đóng vai trò là công cụ giúpNhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền con người của các chủ thể khác nhau trong xãhội, đồng thời cũng là công cụ của các cá nhân trong việc bảo vệ các quyền con người của chính
họ thông qua việc vận dụng các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc gia và quốc tế có liên quan
Thực tế cho thấy, tư tưởng đề cao pháp luật, coi pháp luật là phương tiện hữu hiệu để bảođảm các quyền con người đã được khẳng định từ rất sớm Từ nhiều thế kỷ TCN, một vị vua vĩđại của của xứ Babylon là Hammurabi đã tuyên bố rằng, mục đích của ông trong việc ban hànhđạo luật cổ nổi tiếng (mang tên ông) là để “ ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức người yếu”
Trong những giai đoạn sau này, tư tưởng đề cao pháp luật với việc bảo đảm quyền conngười cũng được phát triển bởi nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng của nhân loại, và được minh chứngbằng sự ra đời của ngày càng nhiều các văn bản pháp luật quốc gia và quốc tế về các quyền và tự
do của con người, từ Đại Hiến chương Magna Carta 1251, Bộ luật về các quyền 1689 của nướcAnh; Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789 của nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập 1776 và
Bộ luật về các quyền 1789/1791 của nước Mỹ cho đến Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền conngười năm 1948 và hệ thống đồ sộ hàng trăm văn kiện quốc tế về quyền con người do Liên hợpquốc và các tổ chức quốc tế khác thông qua từ đầu thế kỷ XX đến nay
Việt Nam đã thể hiện sự ghi nhận và bảo vệ quyền con người trong đạo luật cơ bản làHiến pháp 2013 ở Chương II (Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân), trongcác văn bản luật chuyên ngành như Bộ luật hình sự (Các nhóm tội xâm phạm đến quyền conngười, quyền công dân), Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật dân sự (Quyền nhân thân), Bộ luật laođộng, Luật trẻ em, Luật bình đẳng giới Tất cả đã cho thấy vai trò không thể thay thế của phápluật trong việc bảo đảm các quyền con người
Như vậy, ở Việt Nam quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn
có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lýquốc tế Nhìn ở cấp độ quốc tế hay quốc gia thì quyền con người được xác định như là nhữngchuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này kết tinh nhữnggiá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người Nhờ cónhững chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm vàmới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người Do
Trang 4đó, quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội vàtrong mọi giai đoạn lịch sử
Câu 2 Các thuộc tính của quyền con người Bình luận: “Tính không thể tước bỏ của nhân quyền thể hiện: Quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện vì bất
kỳ quốc gia, chủ thể nào, kể cả cơ quan Nhà nước”.
1 Các thuộc tính của quyền con người
Tính phổ biến
Tính phổ biến của nhân quyền thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn
có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại,không có sự phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính,tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân… Liên quan đến tính chất này, cần lưu ý là bản chất của
sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, màbình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người Ở đây, mọi thành viên của nhân loại đều cóthể được công nhận có các quyền con người, song mức độ hưởng thụ các quyền phụ thuộc vàonăng lực của cá nhân từng người, cũng như vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa…
mà người đó đang sống
Tính không thể tước bỏ
Tính không thể tước bỏ của nhân quyền thể hiện ở chỗ các quyền con người không thể bịtước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chứcnhà nước Ở đây, khía cạnh “tùy tiện” nói đến giới hạn của vấn đề Nó cho thấy không phải lúcnào nhân quyền cũng “không thể bị tước bỏ” Trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn khimột người phạm một tội ác thì có thể bị tước tự do theo pháp luật, thậm chí bị tước quyền sống
Tính không thể phân chia
Tính không thể phân chia của nhân quyền bắt nguồn từ nhận thức rằng các quyền conngười đều có tầm quan trọng như nhau, do đó không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơnquyền nào Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đếnnhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người
Tuy nhiên, tính chất không thể phân chia không hàm ý rằng mọi quyền con người đều cầnphải được chú ý quan tâm với mức độ giống hệt nhau trong mọi hoàn cảnh Trong từng bối cảnh
cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhất định, miễn là phải dựa trên những yêu
cầu thực tế của việc bảo đảm các quyền đó chứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị củacác quyền đó Ví dụ, trong bối cảnh dịch bệnh đe dọa hoặc đối vơi những người bị bệnh tật,quyền được ưu tiên thực hiện là quyền được chăm sóc y tế, còn trong bối cảnh nạn đói, quyềnđược ưu tiên phải là quyền về lương thực, thực phẩm Ở góc độ rộng hơn, trong một số hoàncảnh, cần ưu tiên thực hiện quyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong khi vẫn tôntrọng quyền của tất cả các nhóm khác Điều này không có nghĩa là bởi các quyền được ưu tiênthực hiện có giá trị cao hơn các quyền khác, mà bởi vì các quyền đó trong thực tế đang bị đe dọahoặc bị vi phạm nhiều hơn so với các quyền khác
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của nhân quyền thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyềncon người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự viphạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyềnkhác Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tíchcực đến việc bảo đảm các quyền khác
Thực tế cho thấy, để bảo đảm các quyền bầu cử, ứng cử (các quyền chính trị cơ bản), cầnđồng thời bảo đảm một loạt quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa khác có liên quan như quyền đượcgiáo dục, quyền được chăm sóc y tế, quyền có mức sống thích đáng… Nếu không nhưu vậy, các
Trang 5quyền bầu cử, ứng cử rất ít có ý nghĩa đối với những người đói khổ, bệnh tật hay mù chữ Tương
tự, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đều gắn liền với sự phát triển của các quyềndân sự, chính trị, bởi kết quả của việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị chính là sự ổn định,lành mạnh và hiệu qủa trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội – yếu tố nền tảng để thúc đẩy cácđiều kiện sống về kinh tế, xã hội, văn hóa của mọi người dân
Câu 3 Bình luận: “Quyền con người vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù”.
Tính phổ biến
Tính phổ biến của nhân quyền thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn
có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại,không có sự phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính,tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân… Liên quan đến tính chất này, cần lưu ý là bản chất của
sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, màbình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người Ở đây, mọi thành viên của nhân loại đều cóthể được công nhận có các quyền con người, song mức độ hưởng thụ các quyền phụ thuộc vàonăng lực của cá nhân từng người, cũng như vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa…
mà người đó đang sống Ngoài ra, tính phổ biến của quyền con người còn thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, quyền con người là một giá trị chung của con người Tính phổ biến gắn liền với
những quyền cơ bản nhất của con người Do đó, nếu xét từ phương diện tính phổ biến thì quyềncon người có thể đem áp dụng cho tất cả các khu vực, quốc gia, dân tộc trên thế giới Theo đó,tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ nó vượt qua những khác biệt về văn hóa
Thứ hai, tính phổ biến của quyền con người cũng bao hàm ý nghĩa có thể áp dụng đối với
tất cả các giai đoạn phát triển của lịch sử Do đó, không phải chỉ khi xuất hiện Nhà nước, chỉ khi
có những định chế pháp lý thì khi đó mới có quyền con người, mà quyền con người đã có ngay
từ khi con người xuất hiện với tư cách là con người
Thứ ba, tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở tính không bị giới hạn bởi phạm vi,
đối tượng, không gian, thời gian; không bị chi phối bởi bản chất tự nhiên hay bản chất xã hội củacon người; không bị giới hạn bởi thiết chế chính trị xã hội nào không phụ thuộc vào giai cấp, địa
vị xã hội, giới tính, trình độ phát triển của xã hội hay trình độ nhận thức của con người,…
Thứ tư, tính phổ biến của quyền con người phản ánh sự nhận thức chung của con người.
Ví dụ, đối với các quyền căn bản như quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúcthì đều có sự nhận thức chung của tất cả mọi người, mọi quốc gia, dân tộc, giai cấp,… rằng đó lànhững quyền cơ bản, không ai có thể xâm phạm
Thứ năm, tính phổ biến của quyền con người gắn với tính căn bản Một quyền có thể phổ
biến thì nhất định quyền đó phải là quyền căn bản của con người, chẳng hạn như quyền đượcsống, quyền tự do…
Thứ sáu, tính phổ biến của quyền con người không chỉ thể hiện đó là sự nhận thức chung,
mục tiêu chung của con người, giá trị chung của con người mà còn thể hiện ở cơ chế đảm bảochung của quyền con người Nói cách khác, tính phổ biến không chỉ thể hiện trên khía cạnh nhậnthức, lý luận chung mà còn cả trên thực tiễn đảm bảo quyền con người
Tính đặc thù
Tính đặc thù thể hiện ở chỗ có giới hạn, chỉ có thể áp dụng đối với một hoặc một số nhómngười nhất định như quyền của người đồng tính, quyền trẻ em, quyền phụ nữ… Do đó tính đặcthù gắn liền với những thuộc tính không căn bản, không bản chất của con người Chẳng hạn,được chuyển đổi giới tính, được kết hôn với người cùng giới (đối với người đồng tính),… khôngphải là những thuộc tính căn bản của con người Tính không căn bản được xem xét trên góc độnếu thiếu nó, con người vẫn có thể tồn tại, không bị mất đi danh dự, không mất đi giá trị làmngười
Trang 6Quyền con người, một mặt gắn với bản tính tự nhiên của con người, nhưng mặt khác gắnvới sự phát triển của bản thân con người và xã hội loài người Con người càng phát triển, người
ta càng nhận thức và ý thức một cách đầy đủ về các quyền của mình Xã hội càng phát triển, cácđiều kiện đảm bảo cho quyền con người ngày càng được hoàn thiện hơn Thực tế cho thấy, trongmỗi giai đoạn lịch sử, xã hội loài người tồn tại những quan niệm khác nhau về các quyền, tự do
và nghĩa vụ, cũng như những quy phạm và cơ chế khác nhau để thực hiện, giám sát và bảo vệcác quyền, tự do và nghĩa vụ đó Theo dòng lịch sử, ảnh hưởng và tác động của quyền con ngườingày càng mở rộng, từ ý niệm, tư tưởng đến các quy tắc, quy phạm và cơ chế; từ cấp độ cộngđồng đến cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế Trong suốt quá trình phát triển này, quyền conngười luôn mang những dấu ấn về chính trị, kinh tế, văn hoá của từng thời kỳ, từng giai đoạnlịch sử của xã hội loài người Như thế, cùng với sự phát triển của con người và xã hội loài người,nội dung của quyền con người cũng có sự phát triển theo hướng ngày càng tiến bộ hơn, nhân vănhơn Chính sự phát triển của nội dung quyền con người trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhaucủa con người và xã hội loài người tạo nên tính đặc thù của quyền con người Chẳng hạn, nộidung của quyền tự do, dân chủ, bình đẳng không phải ngay từ đầu đã đầy đủ và hoàn thiện nhưtrong giai đoạn hiện nay, mà trong mỗi giai đoạn lại được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện Mặtkhác, các điều kiện để đảm bảo cho các quyền con người trong xã hội hiện nay cũng khác vớicác xã hội trước đó
Nhiều quan điểm cho rằng, tính đặc thù của quyền con người gắn với mỗi quốc gia, dântộc và từng khu vực trên thế giới Có quan điểm nhấn mạnh rằng, trong số các yếu tố tạo ra tínhđặc thù của quyền con người, thì văn hóa truyền thống có ảnh hưởng sâu đậm nhất, và điều nàytồn tại lâu dài theo thời gian Có thể trong cùng một giai đoạn lịch sử, cùng các điều kiện về kinh
tế xã hội, chính trị nhưng nội dung và tính chất của quyền con người có thể có sự khác biệt do
bị chi phối bởi yếu tố văn hóa truyền thống Chẳng hạn, phương Đông có truyền thống đề caocộng đồng hơn đề cao cá nhân, trong khi đó phương Tây đề cao cá nhân hơn đề cao cộng đồng.Điều đó dẫn đến nội dung, tính chất quyền tự do cá nhân ở phương Đông và quyền tự do cá nhân
ở phương Tây có sự khác biệt, chính sự khác biệt đó đã tạo nên tính đặc thù của quyền tự do cánhân nói riêng và quyền con người nói chung Sự khác biệt về văn hóa dẫn đến sự khác biệttrong nhận thức, ý thức của con người về quyền của mình Điều đó cùng với những dấu ấn củacác điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đã tạo nên tính đặc thù về nội dung, tính chất, đặcđiểm… của quyền con người
Tóm lại, tính đặc thù của quyền con người bị quy định bởi các điều kiện kinh tế, xã hội,chính trị, văn hóa, tôn giáo, dân tộc, khu vực Tính đặc thù phản ánh tính có giới hạn về phạm
vi, đối tượng, phản ánh mức độ, tính chất khác nhau của quyền con người, qua đó cũng thể hiệntính phong phú, đa dạng của quyền con người
Quyền con người vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù
Phương pháp luận triết học
Để xem xét tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trên phương diện triết học,cần phải gắn chúng với cặp phạm trù cái chung – cái riêng Đứng trên quan điểm biện chứng,không thể có một sự vật, hiện tượng nào chỉ chứa đựng trong nó thuộc tính vốn có của tất cả mọi
sự vật hiện tượng Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhấtđịnh; còn phạm trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, nhữngquan hệ,… tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng Trong mỗi sự vật, ngoài cái chung còntồn tại cái đơn nhất, đó là những đặc tính, những tính chất, chỉ tồn tại ở một sự vật, một hiệntượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác
Tính phổ biến và tính đăc thù là hai mặt đối lập nhưng không triệt tiêu nhau, cùng tồn tạikhông thể tách rời trong phạm trù quyền con người Sự phát triển của quyền con người chính làquá trình đấu tranh giữa hai mặt đối lập đó Một quyền có tính phổ biến không có nghĩa là quyền
Trang 7đó không có tính đặc thù và ngược lại Trong tính phổ biến của quyền con người ẩn chứa tínhđặc thù, trong tính đặc thù ẩn chứa tính phổ biến và giữa chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau Nhưvậy, trên cơ sở phương pháp luận triết học là cặp phạm trù cái chung – cái riêng, khi nghiên cứutính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người, cần đặt tính phổ biến trong mối quan hệkhông thể tách rời với tính đặc thù Tính đặc thù là biểu hiện cụ thể của tính phổ biến, hay là sự
cụ thể hóa của tính phổ biến Tính phổ biến tồn tại thông qua tính đặc thù nên chắc chắn khôngthể có việc chỉ có tính phổ biến tồn tại một cách độc lập, đơn nhất Vì vậy, từ cơ sở phương phápluận triết học, có thể khẳng định quyền con người vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, đó
là hai mặt không thể tách rời của quyền con người
Mối quan hệ biện chứng giữa tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người
Như phân tích ở trên cho thấy quyền con người có tính phổ biến và tính đặc thù Tính phổbiến là cái chung, tính đặc thù là cái riêng Tính phổ biến của quyền con người được hiểu lànhững đặc điểm chung của quyền con người, được lặp lại mọi lúc, mọi nơi ở phạm vi quốc tế, ởtừng khu vực, từng quốc gia khác nhau Tính đặc thù của quyền con người được dùng để chỉnhững mặt riêng nhất định của quyền con người
Tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người đều tồn tại khách quan, giữa chúng cómối liên hệ hữu cơ với nhau Điều đó thể hiện ở chỗ tính phổ biến chỉ tồn tại trong tính đặc thùcủa quyền con người, thông qua tính đặc thù của quyền con người mà biểu hiện sự tồn tại củamình, nghĩa là không có tính phổ biến thuần túy của quyền con người tồn tại bên ngoài tính đặcthù của quyền con người Chẳng hạn, không có các quyền con người nói chung tồn tại bên cạnhquyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể Tính đặc thù của quyền con người chỉ tồn tạitrong mối liên hệ với tính phổ biến của quyền con người Nghĩa là không có đặc điểm đặc thùnào của quyền con người tồn tại tuyệt đối độc lập mà không có liên hệ với tính phổ biến củaquyền con người, bởi vì các quyền con người là không thể chia cắt, tách biệt một cách cơ học
Tính đặc thù là những đặc điểm toàn bộ, phong phú hơn các đặc điểm thuộc tính phổ biếncủa quyền con người Tính phổ biến là những đặc điểm bộ phận nhưng sâu sắc hơn các đặc điểmthuộc tính đặc thù của quyền con người Tính đặc thù phong phú hơn tính phổ biến vì ngoàinhững đặc điểm chung, tính đặc thù của quyền con người còn có những đặc điểm đặc thù riêng.Chẳng hạn ở mỗi quốc gia đều có mô hình bộ máy bảo đảm, thực thi, thúc đẩy và bảo vệ quyềncon người, nhưng mỗi mô hình bộ máy ở mỗi nước lại có những đặc điểm riêng tùy thuộc vàohoàn cảnh thực tiễn của quốc gia đó Tính phổ biến sâu sắc hơn tính đặc thù vì tính phổ biếnphản ánh những đặc điểm, những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiềuđặc điểm, thuộc tính đặc thù của uyền con người Do đó, tính phổ biến của quyền con người lànhững đặc điểm gắn với bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của các đặc điểmthuộc tính đặc thù của quyền con người
Bên cạnh đó, tính phổ biến chỉ tồn tại trong tính đặc thù, thông qua tính đặc thù để biểuhiện sự tồn tai của mình Do đó chỉ có thể nhận thấy tính phổ biến xuất phát từ tính đặc thù củaquyền con người Chẳng hạn như muốn nhận thức được quy luật phát triển của quyền con người
ở mức độ toàn thế giới thì cần nghiên cứu, phân tích, so sánh quá trình phát triển thực tế ở nhữngthời điểm khác nhau và ở những quốc gia, khu vực khác nhau… từ đó mới tìm ra được nhữngmối liên hệ chung tất nhiên, ổn định của sự phát triển quyền con người
Mặt khác, tính phổ biến là những đăc điểm, bản chất chi phối tính đặc thù của quyền conngười, nên nhận thức về quyền con người trước tiên phải tìm ra tính phổ biến Đồng thời tronghoạt động thực tiễn phải dựa vào tính phổ biến để điều chỉnh tính đặc thù của quyền con người.Mặt khác, do tính phổ biến được biểu hiện thông qua tính đặc thù nên khi áp dụng tính phổ biếncủa quyền con người phải căn cứ vào tình hình cụ thể ở từng thời điểm, từng địa điểm để vậndụng cho thích hợp
Trang 8Câu 4 Nghĩa vụ bảo vệ quyền con người của mỗi quốc gia.
Nội hàm của nghĩa vụ quốc gia về quyền con người
Theo nhận thức chung, nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm quyền cn người thểhiện ở ba hình thức cụ thể dưới đây:
Thứ nhất, nghĩa vụ tôn trọng: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước không được tuỳ tiện
tước bỏ, hạn chế hay can thiệp, kể cả trực tiếp hoặc gián tiếp, vào việc hưởng thụ các quyền conngười Đây được coi là một nghĩa vụ thụ động bởi lẽ không đòi hỏi các nhà nước phải chủ độngđưa ra những sáng kiến, biện pháp hay chương trình nhằm hỗ trợ các công dân trong việc hưởngthụ các quyền Nghĩa vụ này đặc biệt liên quan đến các quyền dân sự và chính trị (các quyền thụđộng)
Thứ hai, nghĩa vụ bảo vệ: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải ngăn chặn sự vi phạm
nhân quyền của các bên thứ ba Đây được coi là một nghĩa vụ chủ động bởi để ngăn chặn sự viphạm nhân quyền của các bên thứ ba, các nhà nước phải chủ động đưa ra những biện pháp vàxây dựng các cơ chế phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm Nghĩa vụ này liên quan đến tất
cả các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, XH, văn hóa, tuy nhiên gần hơn với các quyền dân sự,chính trị
Thứ ba, nghĩa vụ thực hiện: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải có những biện pháp
nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các quyền con người Đây cũng được coi là nghĩa vụchủ động, bởi nó yêu cầu các nhà nước phải có những kế hoạch, chương trình cụ thể để bảo đảmcho mọi công dân được hưởng thụ đến mức cao nhất có thể các quyền con người Nghĩa vụ nàyliên quan mật thiết đến các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (các quyền thụ động)
Ngoài ra, liên quan đến bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, người ta còn đề cậpđến các khái niệm nghĩa vụ tổ chức và nghĩa vụ đạt được kết quả Nghĩa vụ tổ chức được hiểu làviệc các quốc gia phải thực hiện trong thực tế các biện pháp cụ thể để bảo đảm thực thi cácquyền, ví dụ như để cấm lao động cưỡng bức, đưa ra các chương trình chăm sóc sức khỏe chonhân dân hay bảo đảm giáo dục tiểu học miễn phí cho mọi trẻ em Nghĩa vụ đạt được kết quả
đề cập tới yêu cầu với các quốc gia phải bảo đảm rằng những biện pháp và hoạt động đề ra phảimang tính khả thi và hiệu quả, chứ không phải chúng được xây dựng một cách hình thức
Hạn chế thực hiện quyền trong hoàn cảnh khẩn cấp quốc gia
Về nguyên tắc, các nghĩa vụ quốc gia trong việc thực hiện quyền con người mang tính liêntục; tuy nhiên, theo quy định tại Điều 4 ICCPR, trong những bối cảnh khẩn cấp đe dọa sự sốngcòn của đất nước các quốc gia có thể tạm đình chỉ việc thực hiện một số quyền trong Công ướcnày trong một thời gian nhất định
Việc tạm đình chỉ như trên được thể hiện qua những biện pháp mà thường được các quốcgia áp dụng trong bối cảnh khẩn cấp, thông qua một số biện pháp cụ thể như: thiết quân luật(trên cả nước, ở một khu vực hay một địa phương); cấm biểu tình, hội họp đông người; cấm hoặchạn chế hoạt động của một số cơ quan thông tin đại chúng như truyền hình, phát thanh, báochí ; cấm ra, vào một khu vực hoặc xuất, nhập cảnh (với một số cá nhân hay nhóm)…
Mặc dù cho phép các quốc gia tạm đình chỉ (hạn chế thực hiện) một số quyền con ngườitrong hoàn cảnh khẩn cấp, Điều 4 ICCPR đồng thời đòi hỏi:
Thứ nhất, việc tạm đình chỉ như vậy phải thực sự xuất phát từ tình huống khẩn cấp, do
tình hình bắt buộc phải làm để cứu vãn sự sống còn của quốc gia
Thứ hai, các biện pháp áp dụng không được trái với những nghĩa vụ khác xuất phát từ
luật pháp quốc tế, và đặc biệt là không được mang tính chất phân biệt đối xử về chủng tộc, màu
da, tôn giáo, giới tính, ngôn ngữ hoặc nguồn gốc xã hội
Thứ ba, kể cả trong tình huống khẩn cấp, các quốc gia cũng không được tạm đình chỉ việc
thực hiện những quyền bao gồm: quyền sống (Điều 6), quyền không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô
Trang 9nhân đạo hay hạ nhục (Điều 7), quyền không bị bắt giữ làm nô lệ hay nô dịch (Điều 8), quyềnkhông bị bỏ tù chỉ vì lý do không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 11), quyền không bị
áp dụng hồi tố trong tố tụng hình sự (Điều 15), quyền được công nhận là thể nhân trước phápluật (Điều 16), quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo (Điều 18) Những quyền này đượcgọi là những quyền không thể bị đình chỉ (không thể bị hạn chế)
Thứ tư, khi quyết định tạm đình chỉ thực hiện quyền, phải thông báo ngay cho các quốc
gia thành viên khác của ICCPR thông qua Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, trong đó nêu rõ nhữngbiện pháp cụ thể đã áp dụng và thời gian dự định sẽ chấm dứt các biện pháp đó
Liên quan đến vấn đề trên, Ủy ban nhân quyền Liên Hợp Quốc đã xác định những nguyêntắc định hướng cho các quốc gia trong việc tạm đình chỉ thực hiện quyền mà sau đó được tập
hợp trong “Các nguyên tắc Siracusa về các điều khoản giới hạn và tạm đình chỉ thực hiện quyền
trong ICCPR” Có thể tóm tắt những điểm chính của văn kiện này như sau:
Thứ nhất, việc tạm đình chỉ quyền chỉ được coi là phương thức cuối cùng, mang tính tạm
thời, chỉ trong thời gian quốc gia bị đe dọa
Thứ hai, việc tạm đình chỉ quyền không được làm ảnh hưởng đến thực hiện các quyền
khác, đặc biệt là các quyền không thể bị đình chỉ áp dụng trong mọi trường hợp
Thứ ba, chỉ áp dụng biện pháp tạm đình chỉ quyền khi có mối đe dọa cấp thiết và thực sự
với quốc gia Mối đe dọa đó phải tác động đến toàn bộ quốc gia và thực sự ảnh hưởng đến đờisống bình thường của dân chúng mà việc áp dụng các biện pháp khắc phục bình thường khôngmang lại kết quả
Giới hạn áp dụng của một số quyền con người
Giới hạn quyền là quy định được ghi nhận trong một số điều ước quốc tế về quyền conngười mà bản chất của nó là cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện với việcthực hiện/hưởng thụ một số quyền con người nhất định Tương tự như việc tạm đình chỉ thựchiện quyền, không phải tất cả mọi quyền con người đều có thể bị giới hạn Những quyền không
bị giới hạn được gọi là các quyền tuyệt đối
Cách thức quy định về giới hạn quyền trong các điều ước quốc tế về quyền con người làkhác nhau Một số điều ước, ví dụ như ICESCR, dành hẳn một điều riêng (Điều 4) đề cập đếnvấn đề này, gọi là điều khoản giới hạn chung áp dụng cho tất cả các quyền trong công ước; trongkhi ở một số điều ước khác, việc giới hạn được đề cập trong một số điều quy định về các quyền
cụ thể
Một số quyền trong ICCPR và ICESCR cho phép các quốc gia thành viên có thể đặt ranhững giới hạn trong việc áp dụng, bao gồm: Quyền thành lập, gia nhập công đoàn và quyềnđình công (Điều 8 ICESCR); Quyền tự do đi lại, cư trú, xuất nhập cảnh (Điều 12 ICCPR);Quyền được xét xử công khai (Điều 14 ICCPR); Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo(Điều 18 ICCPR); Quyền tự do ngôn luận (Điều 19 ICCPR); Quyền hội họp hòa bình (Điều 21ICCPR); Quyền tự do lập hội (Điều 22 ICCPR)
Theo Điều 4 ICESCR, các quốc gia TV có thể đặt ra những giới hạn với các quyền ghinhận trong Công ước (ngoại trừ một số quyền đã liệt kê ở trên), song phải thỏa mãn các điềukiện sau:
Thứ nhất, sự giới hạn phải được quy định trong pháp luật quốc gia Yêu cầu này nhằm
ngăn ngừa sự tùy tiện trong việc áp đặt các giới hạn Kể cả khi những điều kiện hạn chế đượcquy định trong pháp luật quốc gia thì chúng cũng không được trái với nội dung của ICESCR
Thứ hai, giới hạn đặt ra không được trái với bản chất của các quyền bị giới hạn Yêu cầu
này nhằm bảo đảm những giới hạn đặt ra không làm tổn hại đến khả năng của các cá nhân cóliên quan trong việc hưởng thụ các quyền đó
Thứ ba, chỉ đặt ra giới hạn nếu điều đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ và nhằm mục
đích thúc đẩy phúc lợi chung của cộng đồng Về điều kiện này, trong một số điều ước còn bao
Trang 10gồm những yếu tố như để bảo vệ an ninh quốc gia an toàn của cộng đồng sức khỏe hay đạo đứccủa cộng đồng, các quyền, tự do hợp pháp của người khác.
Câu 5 Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền con người ở Việt Nam Những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam Một số giải pháp nâng cao việc bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyển con người ở Việt Nam.
Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền con người ở Việt Nam
Cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện.
Cơ chế bảo đảm là tổng thể các hoạt động của các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quyđịnh về quyền con người, đảm bảo cho quyền con người được thực hiện và không bị xâm hại
Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện
cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra với các chức năng lập hiến,lập pháp, hoạch định chính sách phát triển đất nước và giám sát các hoạt động của Nhà nước.Mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước đều chịu sự giám sát của Quốc Hội HĐND các cấp làcác cơ quan trực tiếp do nhân dân bầu ra, đại diện cho nhân dân để thực hiện quyền lực của nhândân và giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền tại địa phương.Các ý kiến chất vấn của cử tri đều được đưa ra xem xét tại các cơ quan quyền lực của nhân dân,các cơ quan này có bộ phận chuyên môn chăm lo dân nguyện, yêu cầu các cơ quan và cá nhân cóthẩm quyền phải trả lời và quan tâm đến ý kiến của cử tri
Thực tế cho thấy, chất lượng hoạt động của Quốc Hội phụ thuộc nhiều vào hai yếu tố bêntrong, đó là tổ chức và phương thức hoạt động Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Quốc Hội bảođảm cho Quốc Hội chuyển sang hoạt động thường xuyên hơn với chất lượng cao hơn theohướng: Một là, đổi mới nội dung và cách thức tổ chức các kỳ họp trong năm, tạo điều kiện và đặt
ra yêu cầu đại biểu Quốc Hội giành thời gian tiếp xúc cử tri, tìm hiểu thực tế nhiều hơn Hai là,
tổ chức và củng cố các Ủy ban và thường trực các Ủy ban của Quốc Hội theo hướng chuyênnghiệp hơn Ba là, tăng cường lực lượng đại biểu Quốc Hội chuyên trách, tạo cơ chế phối hợpgiữa đại biểu Quốc Hội chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm, bảo đảm thực hiện tốt sứ mạng củaQuốc Hội trước đồng bào, bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người trong sự phát triểnkinh tế xã hội đất nước
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc Hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất,
chịu trách nhiệm quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ,quyền hạn theo luật định, Chính phủ đứng đầu cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý việc thựchiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối nội và đối ngoạicủa nhà nước HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, thông qua cơ quan chấphành là UBND do HĐND bầu ra để bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật ở địa phương
Trong cải cách hành chính nhà nước, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ là mộttrong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, nhằm bảo đảm cho Chính phủ và hệ thống cơ quan hànhchính nhà nước là cơ quan công quyền có nhiệm vụ cao nhất là phục vụ nhân dân, thực hiện,phát triển và nâng cao các giá trị quyền con người Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
có vị trí pháp lý đặc biệt, vừa là cơ quan hành pháp, cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lựcnhà nước cao nhất, vừa là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, vừa là cơ quan có quyền lậpquy, đồng thời là cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong phạm vi cả nước để bảo đảm thốngnhất quyền lực nhà nước Các hoạt động của cơ quan hành chính công quyền đều trực tiếp tácđộng tới quyền và lợi ích của công dân, tới việc bảo đảm thực hiện và phát triển quyền conngười ở Việt Nam Đổi mới hệ thống cơ quan hành pháp, cải cách hành chính nhà nước là yêucầu cơ bản và cấp bách, bảo đảm hệ thống cơ quan hành chính công quyền là hệ thống tổ chức
bộ máy của dân, do dân và vì dân, là công cụ hữu hiệu bảo đảm thực hiện và phát triển quyềncon người
Trang 11Quyền lực nhà nước ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được tổ chức thống nhất theonguyên tắc mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đồng thời giữa các cơ quan nhà nước có
sự phân công rành mạch các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, bảo đảm tổ chức bộ máy nhànước vận hành có hiệu quả và thể hiện được bản chất bộ máy nhà nước của dân, do dân và vì
dân, vì các quyền và tự do cơ bản của con người Trong hệ thống cơ quan nhà nước, các chính quyền địa phương được phân cấp và giao quyền ngày càng mạnh hơn để chủ động triển khai
những chính sách phát triển kinh tê xã hội và bảo đảm thực hiện quyền con người tại địaphương
TAND có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tôn trọng và bảo vệ
các giá trị quyền con người TAND là cơ quan duy nhất có quyền xét xử Thông qua hoạt độngxét xử, TAND các cấp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế thống nhất, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của pháp nhân và công dân, bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền tài sản, quyềnnhân thân và các quyền, tự do cơ bản của con người Tòa án là biểu hiện điển hình nhất của công
lý, công bằng xã hội, dân chủ, công khai, bộc lộ trực tiếp quyền lực nhà nước trong việc độc lập
áp dụng pháp luật, chính vì vậy tòa án là nơi thể hiện tập trung nhất tinh thần thượng tôn phápluật, nội dung cốt lõi của nhà nước pháp quyền Công dân và xã hội đánh giá bản chất, hiệu lực
và hiệu quả hoạt động của nhà nước trước hết thông qua đánh giá tổ chức và hoạt động của cơquan tư pháp mà trung tâm là tòa án Tòa án là nơi biểu hiện rõ ràng nhất bản chất của nhà nước
và pháp luật, là nơi con người tìm thấy lẽ công bằng, tính nhân đạo, phân biệt được đúng và sai,thiện và ác, đồng thời là nơi thực hiện có hiệu quả nhất việc tuyên truyền phổ biến, nâng cao ýthức pháp luật, là mảnh đất tốt để khuyến khích phát triển và hoàn thiện pháp luật vì con người
và cho cọn người Quyền và tự do của con người gắn bó chặt chẽ với hoạt động xét xử của Tòa
án, quyền lực nhà nước có thể bị biến dạng nếu tòa án không chuyển tải đúng bản chất đã đượcxác định trong pháp luật, nếu không áp dụng đúng đắn pháp luật, nếu tòa án không vô tư kháchquan, độc lập xét xử, nếu tòa án chiu sự chi phối của các tiêu cực xã hội Thực tế cho thấy hệthống cơ quan tư pháp ở nước ta còn không ít bất cập trong tất cả các khâu, từ điều tra, truy tốđến xét xử, phòng ngừa, thi hành án Cải cách tư pháp đang là yêu cầu cấp bách và có ý nghĩa rấtquan trọng của cải cách bộ máy nhà nước, có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng nhất tới xâydựng nhà nước pháp quyền và bảo đảm thực hiện, phát triển quyền con người, đồng thời là quátrình khôi phục và nâng cao vị thế của hệ thống cơ quan này và của toàn bộ bộ máy nhà nước.Cải cách tư pháp hiện nay cần theo hướng coi trọng pháp luật là yếu tố hàng đầu, loại trừ cáchành vi tội phạm và vi phạm pháp luật trong xã hội và trong bộ máy nhà nước, hướng tới việc xử
lý được hầu hết các tranh chấp trong đời sống xã hội, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dânchủ, văn minh, trong đó cần chú trọng đến hạn chế sự lạm quyền, quan liêu, tham nhũng từ phiacác cơ quan hành chính và bộ máy nhà nước Ph.Angghen đã chỉ rõ: Điều kiện đầu tiên của tự
do, đó là tất cả các quan chức nhà nước đều phải chịu trách nhiệm về những hành vi chức vụ củamình đối với bất kỳ công dân nào trước tòa án
Viện kiểm sát
Vị trí của VKSND trong bộ máy nước ta được quy định bởi các nguyên tắc tổ chức vàhoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác lập trong hiến
pháp Theo Điều 107 Hiến pháp 2013 VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp Bên cạnh đó căn cứ vào Hiến pháp VKSND là cơ quan hiến định do
Quốc hội lập ra và chịu sự giám sát của Quốc hội và Chủ tịch nước, hoạt động theo nguyên tắctập trung thống nhất và tổ chức độc lập theo hệ thống ngành dọc gồm 4 cấp: VKSND tối cao,VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện Qua đó cho thấy vị trí của VKSND là
cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước Việt Nam
VKSND thực hiện rất nhiều nhiệm vụ để thi hành 2 chức năng chính của mình, các nhiệm
vụ đó được quy định rõ từ điều 12 đến điều 33 Luật TCVKSND 2014 Bên cạnh những nhiệm
Trang 12vụ đặc thù, chuyên môn VKSND còn có nhiệm vụ khác nhưng không kém phần quan trọng, căn
cứ khoản 3 điều 107 Hiến pháp 2013 và khoản 2 Điều 2 Luật TCVKSND 2014 quy định:
“Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Như vậy VKSND cũng giống như các cơ quan khác, thực thi những nhiệm vụ đặc trưng
của mình VKSND nhưng vẫn luôn phải thực hiện một nhiệm vụ song song đó là bảo vệ quyềncon người
Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về Trách nhiệm thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự như sau: “Viện kiểm sát thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người
vô tội”.
Chức năng thực hành quyền công tố trong việc bảo vệ quyền con người
Chức năng thực hành quyền công tố được Viện kiểm sát thực hiện trong tố tụng hình sự,
cụ thể là thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội hoặc pháp nhân phạm tội
Và chức năng này được diễn ra xuyên suốt ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Trên cơ
sở của việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được quy định cụ thể từ Điều 7 đến Điều 33 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì quyền con người cũng được bảo đảm và bảo
vệ
Thứ nhất, VKSND bảo vệ quyền con người cho các chủ thể bị xâm phạm hoặc có nguy cơ
bị xâm phạm bằng cách bảo đảm mọi hành vi phạm tội, chủ thể phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm
oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội (điểm a khoản 2 Điều 3 Luật
TCVKSND ).
Theo quy định về khái niệm tội phạm tại Điều 8 BLHS 2015 thì các hành vi phạm tội dùxâm phạm đến quan hệ xã hội nào nêu trên cũng đều trực tiếp hoặc gián tiếp xâm hại đến cácquyền cơ bản của con người Điều này có nghĩa là VKSND cùng sự phối hợp với các cơ quantiến hành tố tụng khác tiến hành phát hiện và đưa các hành vi phạm tội ra xử lý theo đúng quyđịnh của pháp luật Điều này cũng gián tiếp thực hiện chức năng của Luật hình sự, cụ thể làphòng chống tội phạm và bảo vệ các quan hệ xã hội được pháp luật quy định
Việc buộc tội của VKSND buộc phải tuân thủ đúng pháp luật, sở dĩ VKSND với cương vị
là một cơ quan mang quyền lực Nhà nước nên bản thân phải thể hiện tinh thần thượng tôn pháp
luật, tuân thủ pháp luật triệt để Đó chính là sự nghiêm minh Bên cạnh đó, phải đảm bảo yếu tố
kịp thời, nghĩa là phải phát hiện, xác định và ngăn chặn tội phạm nhanh nhất có thể để hạn chế
mức tối đa những tác động xấu hay hậu quả có thể xảy ra, để bảo vệ những quyền con người
nhất định Đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội
phạm và người phạm tội là những yêu cầu quan trọng cần phải thực hiện một cách thận trọng đặc
biệt là đối với VKSND Nếu một cá nhân hay một pháp nhân đã thực hiện tội phạm thì chính bảnthân họ phải gánh vác hậu quả bất lợi và chịu trách nhiệm cho chính hành vi đó
Như vậy, trong chức năng thực hành quyền công tố hay nói cách khác là thông qua việcbuộc tội, VKSND đảm nhận một vai trò vô cùng to lớn để bảo vệ quyền con người Khi cácquyền con người bị xâm phạm hoặc có nguy cơ bị xâm phạm thì VKSND sẽ đứng ra bảo vệ cácquyền con người bằng cách ngăn chặn tội phạm, thực hiện việc buộc tội, áp dụng hình phạt đốivới người phạm tội và khôi phục một số quyền con người nhất định đã bị xâm phạm Chẳng hạn
Trang 13như đối với người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có thể phải chịu hình phạt tù có thời hạn vàbồi thường thiệt hại cho người có tài sản bị trộm cắp Tuy nhiên, trong một số trường hợp quyềncon người không thể khôi phục ví dụ như hành vi giết người xâm phạm quyền sống của ngườikhác thì không thể khôi phục lại mạng sống nên hình phạt sẽ chỉ mang tính trừng phạt, giáo dục,cải tạo người phạm tội và thể hiện sự cứng rắn của pháp luật
Nếu như tại điểm a khoản 2 Điều 3 Luật TCVKSND 2014 thể hiện sự bảo vệ quyền conngười bằng cách buộc tội người có tội để bảo vệ các quyền con người đã bị xâm phạm hoặc cónguy cơ bị xâm phạm thì tại điểm b khoản 2 Điều 3 này lại là một sự bảo vệ QCN khác
Thứ hai, VKSND bảo vệ quyền con người đối với những người bị khởi tố, bị bắt, tạm giam,
tạm giữ đảm bảo không họ bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật (điểm b khoản
2 Điều 3 Luật TCVKSND 2014)
Vấn đề đặt ra đối với những đối tượng được đưa vào dạng tình nghi, người bị khởi tố, bịbắt, tạm giam hoặc tạm giữ trong các vụ án hình sự Theo quy định tại Điều 13 BLTTHS 2015thì người bị buộc tội luôn được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục
và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Trong thời gian ấy, các quyền conngười của họ vẫn được VKSND bảo vệ trong phạm vi nhất định, dù không đảm bảo được trọnvẹn nhưng VKSND vẫn công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm những quyền con người là quyềntuyệt đối Chẳng hạn như việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam sẽ làm hạn chếquyền tự do đi lại để phục vụ công tác điều tra, nhưng vẫn được bảo vệ tuyệt đối các quyền vềdanh dự, nhân phẩm, thân thể, sức khỏe, bình đẳng trước pháp luật; không bị tra tấn, bạo lực,truy bức, nhục hình,…Mọi hành vi xâm phạm các quyền trên sẽ bị xử lý nghiêm khắc như quyđịnh tại một số Điều 373 về Tội dùng nhục hình, Điều 374 về Tội bức cung, Điều 377 về Tội lợidụng chức vụ, quyền hạn bắt giữ, giam người trái pháp luật quy định trong BLHS,…
Đồng thời, sự bảo vệ quyền con người của các đối tượng trên trong tố tụng hình sự còn
được thể hiện rất rõ trong các quy định về nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự như tôn trọng
và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; bảo đảm quyền bình đẳngtrước pháp luật, không phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phầnhay địa vị xã hội; bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, việc bắt, tạm giam, tạm giữphải đúng pháp luật và nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình; bảo hộ tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân, danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân; bảo đảmquyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín,điện thoại, điện tín của cá nhân; suy đoán vô tội và một số quy định khác
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người
VKSND được Quốc hội giao cho quyền kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và hoạt độngxét xử VAHS nói riêng, nhằm kiểm sát hoạt động xét xử – một hình thức kiểm soát quyền lựcnhà nước Với hoạt động kiểm sát của mình, VKS sẽ bảo đảm cho các quyền con người củanhững người tham gia tố tụng trong vụ án được TA tuân thủ đúng pháp luật, mọi hành vi viphạm quyền con người của những người tham gia tố tụng được xử lý kịp thời, nghiêm minh vàđúng pháp luật Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong việc bảo vệ quyền con
người sẽ được thể hiện qua từng hoạt động cụ thể như hoạt động điều tra, kiểm sát điều tra, hoạt
động kiểm sát xét xử; hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam;hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án
Trong vấn đề thi hành việc giạm giữ, nhìn chung, các trường hợp bắt tạm giữ được thựchiện đúng quy định của pháp luật; các trường hợp bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ đều có Quyếtđịnh phê chuẩn của VKS Thực hiện việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đều
có căn cứ, đúng trình tự thủ tục tố tụng hình sự quy định Đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản,danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ
Trang 14Trong tạm giam, không để xảy ra các trường hợp bắt tạm giam oan, sai, bức cung, nhục hình,đảm bảo cho người bị tạm giam có đầy đủ các quyền của họ theo quy định của pháp luật
Trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự, VKS truy tố,buộc tội người phạm tội, để Tòa án xét xử, kết tội, quyết định hình phạt Hoạt động kiểm sát xét
xử của Viện kiểm sát còn bảo đảm hoạt động xét xử của Tòa án tuân thủ đúng quy định của phápluật, khắc phục tình trạng xét xử oan người vô tội, quyết định hình phạt và các biện pháp xử lýđối với bị cáo nặng hơn quy định của pháp luật hoặc áp dụng các biện pháp không được áp dụngđối với bị cáo; mọi hoạt động vi phạm pháp luật đều phải được xử lý kịp thời
Trong hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết địnhcủa Tòa án, VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án, Cơ quan thi hành án, tổ chức,đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án, nhằm đảm bảo các bản án, quyết định củaTòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành đúng quy định pháp luật, đầy đủ, kịp thời.Đồng thời, bảo đảm các quyền và lợi ích của con người (của người bị kết án) không bị pháp luậttước bỏ được tôn trọng; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật trong thihành án hình sự theo thẩm quyền; ra quyết định trả tự do ngay cho người đang chấp hành án phạt
tù không có căn cứ và trái pháp luật
Tóm lại, với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện
kiểm sát góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền con người Các quyền năng và biện pháp màViện kiểm sát sử dụng để bảo vệ quyền con người rất đa dạng, như: yêu cầu cơ quan điều tra tiếnhành điều tra; tự mình thực hiện một số hoạt động điều tra để xác minh, làm rõ những vấn đề cònnghi ngờ; yêu cầu hủy bỏ hoặc tự ra quyết định hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quanđiều tra; không phê chuẩn các quyết định hạn chế quyền của người bị tình nghi, bị can khi chưa
đủ căn cứ; đình chỉ vụ án đối với bị can khi có căn cứ xác định bị can không phạm tội hoặc cócăn cứ miễn trách nhiệm hình sự; trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành ánphạt tù khi có căn cứ theo luật định,
Trên thực tế, các VKS thường chậm trễ trong việc phê chuẩn lệnh tạm giam Cơ quan điềutra thường để đến ngày cuối cùng của thời hạn tạm giam hoặc của thời hạn tạm giam lần trướcmới ra lệnh tạm giam (hoặc công văn đề nghị ra lệnh tạm giam) gửi VKS để đề nghị phê chuẩnlệnh tạm giam hoặc gia hạn tạm giam Sự chậm trễ của cả hai cơ quan tiến hành tố tụng khiếncho tình trạng tạm giam quá hạn có cơ hội phát triển Việc đảm bảo các quyền của người bị tạmgiam, đặc biệt là người tự bào chữa và nhờ người bào chữa chưa được Cơ quan điều tra chútrọng Một số trường hợp, Điều tra viên thụ lý vụ án không giải thích các quyền và nghĩa vụ chongười bị tạm giam biết Mặt khác, thực tế cho thấy việc người bào chữa tiếp cận hồ sơ cũng nhưgặp người bị tạm giam còn nhiều khó khăn Do đó cần đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ kiểm sát; đổi mới phương thức quản lí và chỉ đạo điều hành trong ngànhkiểm sát; tăng cường quan hệ phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tiến hành tốtụng và các cơ quan tổ chức có liên quan
Hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Hiến pháp 2013 xác định là “ đội tiền phong của giai
cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc ” và “ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, hoạt động trong
khuôn khổ pháp luật, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ văn minh
MTTQ Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể nhân dân là những lực lượng rất đông đảo trong
cơ chế bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người trong từng lĩnh vực cụ thể và trong toàn
xã hội Các tổ chức này cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh
tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của công dân, chăm lo bảo vệ, tổ chức thựchiện và phát triển quyền con người ở Việt Nam
Trang 15 Những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Sự nghiệp cách mạng Việt Nam từ hơn 6 thế kỷ qua và công cuộc Đổi mới đất nước doĐảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo trong gần 30 năm qua đã mang lại những thayđổi to lớn trên mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội ở Việt Nam, tạo điều kiệncho mọi người dân trong xã hội được thụ hưởng ngày càng đầy đủ các quyền con người.Tuynhiên, đất nước ta vẫn còn phải tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong việc thựchiện cơ chế bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người
- Việt Nam vẫn là một nước nghèo, xuất phát điểm thấp, đời sống của một bộ phận nhândân, nhất là ở vùng núi, vùng sâu vùng xa, vùng thường bị thiên tai, còn rất nhiều khó khăn Mặc
dù Chính phủ đã dành nhiều ưu tiên cho phát triển các vùng đặc biệt khó khăn nhưng do nguồnlực của đất nước còn hạn chế nên ở nhiều địa phương, cơ sở vật chất của các ngành y tế, giáodục, khoa học, văn hóa, thông tin, thể thao còn nhiều thiếu thốn, ảnh hưởng đến việc hưởng thụđầy đủ các quyền của người dân, đã và đang đặt ra những thử thách mới ngày càng phức tạp hơntrong việc vận hành cơ chế bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người Trình độ phát triểnkinh tế hiện có là thực tại khách quan chi phối và ảnh hưởng trực tiếp sự hình thành phát triểncác giá trị xã hội, trong đó có giá trị quyền con người
- Những người dân sống ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, do hạn chế trongviệc tiếp cận với các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, thông tin nên trình độ học vấn còn thấp,
sự hiểu biết về pháp luật, chính sách cũng như năng lực tuân thủ pháp luật còn hạn chế Điều nàygây rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng và triển khai các chính sách cụ thể nhằm đảm bảocác quyền con người, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đồng bào, thu hẹp khoảng cáchphát triển giữa miền núi và đồng bằng, nông thôn và thành thị
- Những biến động của tác động môi trường sống tự nhiên, về khí hậu, thời tiết , nguồnnước, ô nhiễm môi trường đang có những tác động tiêu cực tới cơ chế bảo đảm thực hiện vàphát triển quyền con người Cùng với biến đổi khí hậu theo chiều hướng bất lợi, sự nóng lên củakhia hậu toàn cầu, mực nước biển ngày càng dâng cao; thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngàycàng nặng nề dồn dập, vệ sinh an toàn thực phẩm không bảo đảm cùng với gian lận thương mạiảnh hưởng trực tiếp tới quyền của người tiêu dùng, các loại bệnh, dịch bệnh chưa được giảiquyết dứt điểm và tiếp tục diễn biến phức tạp Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng trựctiếp tới thực hiện quyền và lợi ích của mỗi tập thể và cá nhân trong xã hội mà còn làm phân tán
và suy giảm các nguồn lực của đất nước, làm giảm hiệu quả của các chính sách khuyến khích vàbảo đảm thực hiện, phát triển con người, hạn chế khả năng hưởng thụ các giá trị quyền conngười
- Sự phát triển của kinh tế thị trường một mặt đã đem đến sự đổi mới và phát triển nhanhchóng mọi mặt đời sống xã hội, tôn vinh các giá trị lao động sáng tạo và xuất hiện sự sung túc,giầu sang, thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, nhưng mặtkhác kéo theo những tiêu cực và vấn nạn xã hội đáng lo ngại, ảnh hưởng trực tiếp tới vận hành
cơ chế bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người Thất nghiệp gia tăng; sự phân hoá giàunghèo giữa các tầng lớp dân cư và giữa các vùng miền ngày càng lớn; nạn tham nhũng và sửdụng phung phí tiền bạc, tài sản xã hội diễn biến theo chiều hướng phức tạp Những vấn nạn nàykhông chỉ ảnh hưởng đến từng người dân trong việc hưởng thụ các quyền, đặc biệt là quyền sống
và quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, mà còn là thách thức đối với các cơ quan nhà nước,chính quyền các cấp và các tổ chức xã hội trong việc xây dựng và triển khai các chính sách nhằmcải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân, bảo đảm thực hiện và phát triển quyền conngười
- Trong những bước đi đầu tiên của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam, việc nhận thức và thực hiện pháp luật, thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp
Trang 16luật còn nhiều hạn chế Quyền con người được bảo đảm bằng pháp luật, việc thực hiện pháp luậtkhông nghiêm minh có ảnh hưởng trực tiếp tới hưởng thụ quyền con người Ý thức pháp luật và
sự hiểu biết các quy định pháp luật là yếu tố đầu tiên chi phối hành vi sống và làm việc theoHiếp pháp, pháp luật Tuy nhiên nhiều trường hợp vi phạm pháp luật lại không phải vì khônghiểu biết các quy định pháp luật mà vì chưa có thói quen tôn trọng pháp luật, chưa coi thực hiệnpháp luật như thực hiện mệnh lệnh của cuộc sống
- Công cuộc đổi mới đất nước đang đặt ra những thách thức mới trong cải cách lập pháp,cải cách tư pháp và cải cách hành chính để bảo đảm quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước làthống nhất nhưng có phân công rành mạch giữa ba quyền có tính độc lập cao và kiểm soát lẫnnhau, một nhà nước của dân, do dân và vì dân
- Hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung, trong lĩnh vực quyền con người nói riêng,còn chưa đồng bộ, có chỗ còn chồng chéo, mâu thuẫn dẫn tới khó khăn, thậm chí hiểu sai, trongquá trình vận dụng và thực thi pháp luật Đây chính là vật cản lớn đối với sự phát triển của xãhội cũng như trong việc bảo đảm thực hiện, phát triển con người
- Trình độ và nhận thức về quyền con người của một bộ phận cán bộ lãnh đạo và quản lýcác cấp trong bộ máy nhà nước, trong hệ thống chính trị, trong các tổ chức, đoàn thể xã hội cònnhiều hạn chế, kể cả ở trung ương và địa phương, trong tất cả các ngành và các lĩnh vực côngtác Sự hạn chế về nhận thức không chỉ ở chỗ không hiểu biết các quy định của luật pháp quốc tế
và nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của các công ước quốc tế về quyềncon người, mà còn chưa hiểu biết đầy đủ sứ mệnh phục vụ nhân dân trong thực thi công vụ vànhững yêu cầu cơ bản về nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Không hiểu rõ chính sách,pháp luật và nhận thức hạn chế về quyền con người là một nguyên nhân của căn bệnh quan liêuhành chính và cách điều hành tùy tiện để xảy ra các vụ việc vi phạm, làm hạn chế và ảnh hưởngđến việc thụ hưởng quyền của người dân, là thách thức lớn với sự vận hành của cơ chế bảo đảmthực hiện và phát triển quyền con người
Một số giải pháp nâng cao việc bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyển con người ở Việt Nam
Để vượt qua khó khăn, thách thức đối với sự vận hành của cơ chế bảo đảm thực hiện vàphát triển quyền con người và để đạt được nhiều tiến bộ hơn nữa trong việc nâng cao giá trịquyền con người, đất nước ta cần thực hiện một số ưu tiên quốc gia:
- Tăng trưởng kinh tế phải đi liền với công bằng, bình đẳng Phát triển kinh tế thị trưởngphải gắn bó chặt chẽ với tiến bộ xã hội, phát triển đất nước giàu mạnh đồng thời xóa đói giảmnghèo tiến tới không còn hộ nghèo là một trong các ưu tiên hàng đầu để thực hiện, phát triểnquyền con người
- Vấn đề giải quyết lao động và việc làm cần tiếp tục là một hướng ưu tiên quốc gia,không chỉ để giải quyết những vấn đề bức xúc hiện tại về dân số và phân công lao động xã hội
mà có ý nghĩa cơ bản trong chiến lược phát triển con người Tuy nhiên thực hiện ưu tiên quốcgia này vừa đòi hỏi phải nâng cao trình độ nguồn năng lực lao động đáp ững nhu cầu hội nhậpkinh tế thế giới vừa đòi hỏi các giá trị lao động của con người Việt Nam cần phải được tôn trọng
và bảo vệ, bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người
- Các chương trình cải cách pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp cần tiếp tụcđược đẩy mạnh hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nâng caohiệu lực quản lý nhà nước ngăn chặn và đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, phát huy dânchủ, bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người
Cải cách hành chính có trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa
và công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, đồng thời đổi mới tổ chức bộ máy và hoạt độngcủa chính phủ và hệ thống cơ quan hành pháp và các cơ quan hành chính nhà nước theo hướngthống nhất, tinh giản, gon nhẹ, hiện đại, phục vụ nhân dân
Trang 17Chiến lược cải cách tư pháp thực hiện nhiệm vụ xây dựng một nền tư pháp trong sạchvững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, độc lập xét xử và có hiệu quả, hiệu lực cao.
- Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật thực hiện nhiệm vụ xây dựng một hệ thốngpháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, một hệ thống pháp luật xã hội chủnghĩa của dân, do dân và vì dân, hướng tới bảo đảm quyền con người
- Ưu tiên phát triển các chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm chất lượngquyền sống của con người, nâng cao thể chất và sức khỏe của từng người dân Phát triển mạnglưới an sinh xã hội, hạn chế và triệt tiêu những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, bảo đảm
ổn định và phát triển đời sống dân cư Ưu tiên phát triển giáo dục, thực hiện phát triển giáo dục
là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Các ưu tiên phát triển trên đây thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh, giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất và các nguồnlực xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo,khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng và tạo cơ hội để mọi người trong cộngđồng thoát nghèo, tiến tới xóa nghèo; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từngbước thực hiện các chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đồng thời phát triển văn hóa, giáodục, y tế, giải quyết có hiệu quả các vần đề xã hội vì sự phát triển con người, bảo đảm thực hiệncác quyền và tự do cơ bản của con người
Câu 6 Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân liên quan đến việc bảo đảm thực thi các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người.
Câu 7 Mối quan hệ giữa luật quốc tế về quyền con người với pháp luật quốc gia.
Về cơ bản, mối quan hệ giữa luật quốc tế về quyền con người và pháp luật quốc gia cũng
là mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế nói chung với pháp luật quốc gia Liên quan đến vấn đềnày, quan điểm phổ biến cho rằng, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống khácnhau nhưng không đối lập mà có mối quan hệ, tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau cũng pháttriển Pháp luật quốc tế có thể tác động, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của pháp luật quốc giatrong khi pháp luật quốc gia đóng vai trò là phương tiện truyền tải và điều kiện đảm bảo chopháp luật quốc tế được thực hiện trên thực tế
Xét mối quan hệ cụ thể giữa pháp luật quốc tế về quyền con người và pháp luật quốc gia,
sự tương tác thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, trong thời kỳ đầu, pháp luật quốc gia, đặc biệt trong những thế kỷ XVIII, XIX,
là nền tảng thúc đẩy quá trình hình thành và pháp triển của pháp luật quốc tế về quyền conngười Thực tế cho thấy, các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người đã chịu ảnh hưởng rấtnhiều từ những văn bản pháp luật quốc gia nổi tiếng thế giới như Hiến chương Magna Carta củanước Anh, Tuyên ngôn độc lập Mỹ, Tuyên ngôn về quyền con người và dân quyền ủa nướcPháp…mà trong đó chứa đựng những quy phạm rất tiến bộ, được cộng đồng quốc tế thừa nhậnnhư là những giá trị phổ biến, chung cho toàn nhân loại, vượt ra khỏi phạm vi mọi biên giới quốcgia Cụ thể, nhiều nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về quyền con người như nguyên tắc vềbình đẳng, tự do, suy đoán vô tội, xét xử công bằng; quyền dân tộc tự quyết…đều xuất phát từpháp luật quốc gia
Thứ hai, pháp luật quốc tế về quyền con người tác động, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của
pháp luật quốc gia về quyền con người Sự hình thành và phát triển của hệ thống văn kiện phápluật quốc tế về quyền con người kể khi Liên hợp quốc được thành lập đã đồng thời thúc đẩy quátrình pháp điển hóa các quyền con người vào hệ thống pháp luật quốc gia Trong hơn một nửathế kỷ qua, hệ thống pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã được sửa đổi, bổsung một cách đáng kể theo hướng làm hài hòa với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người
Trang 18Thứ ba, pháp luật quốc gia là phương tiện truyền tải pháp luật quốc tế về quyền con
người, là điều kiện đảm bảo cho pháp luật quốc tế về quyền con người được thực hiện Thôngthường pháp luật quốc tế không được áp dụng trực tiếp bởi tòa án của các quốc gia Để phápluật quốc tế được thực thi trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, thông thường các nhà nước phải ‘nộiluật hoá’ các quy phạm pháp luật quốc tế vào hệ thống pháp luật nước mình, tức là sửa đổi hoặc
bổ sung hệ thống pháp luật nước mình để làm hài hòa với pháp luật quốc tế Trong trường hợppháp luật quốc gia chưa hài hòa với một điều ước quốc tế về quyền con người mà quốc gia đó làthành viên thì hầu hết các quốc gia đặt sự ưu tiên áp dụng với điều ước quốc tế Đây cũng chính
là một nguyên tắc cơ bản (nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế - pactasunt servanda) được nêu trong Công ước Vienna về Luật Điều ước năm 1969
Câu 8 Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật theo Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam
Về khía cạnh thứ nhất – quyền không bị phân biệt đối xử, Điều 1 UDHR nêu rõ, mọingười sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền Điều 2 UDHR quy định
“Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác” Ngoài
ra, Điều này cấm phân biệt đối xử dựa trên địa vị chính trị, pháp lý hoặc quốc tế của quốc giahoặc lãnh thổ mà người đó xuất thân, dù đó là lãnh thổ độc lập, uỷ trị, quản thác, chưa được tựquản hay đang phải chịu bất kỳ hạn chế nào khác về chủ quyền
Hai điều kể trên của UDHR được nhắc lại và cụ thể hóa trong Điều 2 và Điều 3 ICCPR
Theo Điều 2, các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người
trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác (Khoản 1) Các khoản 2 và 3 Điều này đề cập nghĩa vụ của các
quốc gia thành viên phải tiến hành các bước cần thiết nhằm thực hiện các quyền được công
nhận trong Công ước, và bảo đảm rằng bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và tự do như được công nhận trong Công ước này đều nhận được các biện pháp khắc phục hiệu quả, cho dù
sự xâm phạm này là do hành vi của những người thừa hành công vụ gây ra Điều 3 ICCPR tập
trung vào khía cạnh bình đẳng giữa nam và nữ, theo đó các quốc gia thành viên Công ước cam
kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc thực hiện tất cả các quyền dân sự và
chính trị mà Công ước đã quy định.
Về khía cạnh thứ hai – quyền được thừa nhận, Điều 6 UDHR quy định: “Mọi người đều
có quyền được công nhận tư cách là một con người trước pháp luật ở mọi nơi” Quy định này
được tái khẳng định trong Điều 16 ICCPR, theo đó mọi người có quyền được công nhận là thểnhân trước pháp luật ở mọi nơi
Trang 19Về khía cạnh thứ ba – quyền bình đẳng, Điều 7 UDHR quy định: “Mọi người đều bình
đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào” Điều 8 UDHR cụ thể hóa quy định của Điều 7 khi nêu rằng: “Mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các cơ chế tài phán hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được hiến pháp hay luật pháp quy định”.
Điều 26 ICCPR tái khẳng định hai quy định kể trên của UDHR, đồng thời nêu rõ về mặt
này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác.
Bên cạnh những khía cạnh đã nêu cụ thể trong các quy định của UDHR và ICCPR, Ủyban Quyền con người, trong Bình luận chung số 18 thông qua tại phiên họp lần thứ 37 năm 1989của Ủy ban đã phân tích về ý nghĩa và nội hàm của quyền này khá chi tiết, mà có thể tóm tắtnhững điểm quan trọng như sau:
Thứ nhất, không phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ
một cách bình đẳng đóng vai trò là cơ sở và nguyên tắc chung trong việc bảo vệ tất cả các quyềncon người Các quốc gia thành viên có trách nhiệm bảo đảm quyền này cho mọi người có mặttrên lãnh thổ nước mình, bất kể người đó là công dân nước mình, người không quốc tịch hayngười nước ngoài, bất kể các yếu tố dân tộc, chủng tộc, quốc tịch, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo,quan điểm chính trị, thành phần xã hội, tài sản hay bất kỳ yếu tố nào khác (đoạn 1)
Thứ hai, Điều 26 ICCPR không chỉ cho phép tất cả mọi người có vị thế bình đẳng trước
pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, mà còn nghiêm cấm các quốc gia thànhviên ban hành bất kỳ quy định pháp luật nào có tính chất phân biệt đối xử (đoạn 1)
Thứ ba, quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật
bảo vệ một cách bình đẳng phải được áp dụng trong mọi tình huống, kể cả trong tình trạng khẩncấp của quốc gia được quy định ở Điều 4 ICCPR[2] (đoạn 2)
Thứ tư, quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo
vệ một cách bình đẳng mang tính chất khái quát, thể hiện trong nhiều bối cảnh, có mối liên hệvới việc thực hiện các quyền con người khác, cụ thể như với quyền được bình đẳng trước tòa án(các Khoản 1 và 3 Điều 14 ICCPR), quyền được tham gia vào đời sống của cộng đồng (Điều 25ICCPR) (đoạn 2)
Thứ năm, các quốc gia thành viên có quyền tự quyết định các biện pháp thích hợp để thực
hiện quyền này, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cần phải có những hành động chủ động (ví
dụ như để bảo đảm sự bình đẳng về quyền và trách nhiệm của vợ và chồng nêu trong Khoản 4Điều 24 ICCPR ) (đoạn 5)
Thứ sáu, trên thực tế ICCPR không đưa ra định nghĩa về sự phân biệt đối xử, tuy nhiên,
theo HRC, thuật ngữ này được hiểu là bất kỳ sự phân biệt, loại bỏ, hạn chế hay thiên vị nào thựchiện dựa trên bất kỳ yếu tố nào như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểmchính trị hay quan điểm khác, quốc tịch hay thành phần xã hội, tài sản, nguồn gốc hay các vị thếkhác, mà có mục đích hoặc có tác động làm vô hiệu hóa hay làm suy giảm sự thừa nhận, thụhưởng hay thực hiện các quyền và tự do của tất cả mọi người trên cơ sở bình đẳng (đoạn 7).Cũng theo Ủy ban, trong các bối cảnh có liên quan, các định nghĩa về sự phân biệt đối xử vềchủng tộc nêu ở Điều 1 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về chủngtộc, và về phân biệt đối xử chống lại phụ nữ nêu ở Điều 1 Công ước về xóa bỏ tất cả các hìnhthức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ sẽ được áp dụng (đoạn 6)
Thứ bảy, quyền bình đẳng không có nghĩa là áp dụng một kiểu đối xử cho mọi đối tượng
trong cùng một tình huống (tức cào bằng), và không phải mọi sự khác biệt về đối xử đều tạo nên
Trang 20sự phân biệt đối xử Nếu sự đối xử khác biệt được xác định dựa trên các điều kiện hợp lý, kháchquan và nhằm mục đích để đạt được sự bình đẳng thì không bị coi là trái với ICCPR (các đoạn
10 và 13)
Pháp luật Việt Nam
Tương ứng với các Điều 16 và 26 ICCPR, Điều 16 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” Nguyên tắc hiến định này được cụ thể háo trong nhiều văn bản
pháp luật khác, cụ thể như sau:
Trong quan hệ dân sự, nguyên tắc bình đẳng là nguyên tắc cơ bản nhất Tại khoản 1 Điều
3 BLDS 2015 quy định: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do
nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản”.
Trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, Hiến pháp 2013 (Điều 27, 28), Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 (Điều 1 – Việc bầu cử đại biểu Quốc hội
và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp
và bỏ phiếu kín) đều quy định nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng về các quyền bầu cử, ứng
cử và quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Trong quan hệ gia đình, những quy định trong các Chương III (Quan hệ giữa vợ và chồng), Chương V (Quan hệ giữa cha mẹ và con), Chương VI (Quan hệ giữa các thành viên khác của gia đình) của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thể hiện quyền bình đẳng giữa vợ
và chồng trong mọi vấn đề trong quan hệ gia đình cũng như quyền bình đẳng giữa các con
Trong quan hệ kinh doanh, Điều 33 Hiến pháp 2013, Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014, Điều 10 Luật thương mại 2005 (Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong
hoạt động thương mại Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại) đều khẳng định vị thế pháp lý và nguyên tắc đối xử giữa các doanh
nghiệp và các thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế
Trong hoạt động tố tụng, Điều 12 Luật Tổ chức TAND 2014 quy định: “Tòa án xét xử
theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức đều bình đẳng trước Tòa án”
Điều 9 BLTTHS 2015 quy định: “Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế”
Điều 8 BLTTDS 2015 quy định: “Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án”.
Câu 9 Quyền sống theo Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về quyền sống.
Pháp luật quốc tế
Quyền sống chính thức được đề cập lần đầu tiên trong Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền,
cụ thể được quy định trong Điều 3 UDHR: “Ai cũng có quyền được sống, tự do, an toàn thân
thể”
Điều 6 ICCPR cụ thể hóa quy định về quyền sống trong Điều 3 UDHR, theo đó: “Mọi
người đều có quyền cố hữu là được sống Quyền này phải được pháp luật bảo vệ Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện” (Khoản 1) Các khoản 2, 3, 4, 5, 6 Điều này là những
Trang 21quy định mang tính cơ sở về việc tiến dần tới xóa bỏ hình phạt tử hình tại những nước còn duytrì hình phạt này.
Bên cạnh ICCPR, một số công ước khác về quyền con người cũng đề cập đến quyền sống
Tại Điều 6 Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em (hiệu lực từ 2/9/1990) có quy định:
“Các quốc gia thành viên công nhận rằng, mọi trẻ em đều có quyền cố hữu được sống” Điều 2
Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng đưa ra định nghĩa về tội diệt chủng, trong đóbao gồm hành động giết các thành viên của một nhóm dân tộc, chủng tộc, sắc tộc hoặc tôn giáonhất định
Ngoài những khía cạnh đã nêu ở Điều 6 ICCPR, trong Bình luận chung số 6 thông qua tạiphiên họp lần thứ 16 năm 1982, UNHRC đã giải thích thêm một số khía cạnh liên quan đến ýnghĩa và nội dung của quyền sống, có thể tóm tắt như sau:
Thứ nhất, quyền sống là “một quyền cơ bản của con người mà trong bất cứ hoàn cảnh
nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không thể bị vi phạm ”
Thứ hai, quyền sống không chỉ là sự toàn vẹn về tính mạng mà nó còn bao gồm cả những
khía cạnh bảo đảm sự tồn tại của con người, bảo đảm những nhu cầu cần thiết cho sự phát triển
Thứ ba, một trong các nguy cơ phổ biến đe dọa quyền sống là chiến tranh và các tội phạm
nghiêm trọng như diệt chủng hay tội phạm chống nhân loại Vì vậy việc chống chiến tranh vàcác loại phạm này cũng là sự bảo đảm quyền sống
Thứ tư, phòng chống những hành động tội phạm gây nguy hại nhằm tước đoạt tính mạng
con người cũng là biện pháp hết sức quan trọng để bảo đảm quyền sống Các quốc gia thành viêncần tiến hành các biện pháp phòng, chống và trừng trị việc tùy tiện tước đoạt tính mạng conngười do bất kỳ chủ thể nào gây ra, kể cả do các lực lượng an ninh của Nhà nước
Như vậy, quyền sống là “quyền tối cao”, được gắn liền với “tự do và an ninh cá nhân”.
Quyền sống có cả nghĩa thụ động theo đó là một quyền mà không thể bị tước đoạt một cách tùytiện, trái pháp luật Bên cạnh đó còn có cả nghĩa chủ động, tức là Nhà nước phải thông qua cácbiện pháp có tính chất tạo ra môi trường thuận lợi cho sự toàn vẹn tính mạng của cá nhân; chủđộng trong việc triển khai các hoạt động nhằm bảo vệ quyền sống của các cá nhân thuộc quyềntài phán của mình
Quyền sống liên quan đến vấn đề hình phạt tử hình Mặc dù ICCPR chỉ khuyến nghị chứkhông bắt buộc các quốc gia phải xóa bỏ hình phạt tử hình, tuy nhiên các quốc gia có nghĩa vụ
phải hạn chế sử dụng nó, cụ thể là “chỉ được áp dụng hình phạt này với những tội ác nghiêm
trọng nhất”, và việc giới hạn áp dụng hình phạt này cũng được coi là một phương thức bảo đảm
quyền sống Điều 6 ICCPR quy định các nguyên tắc cơ bản trong việc áp dụng hình phạt tử hình
ở những nước còn duy trì hình phạt này
- Việc áp dụng hình phạt tử hình không được trái với những quy định của Công ước này
và của Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng
- Hình phạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu lực pháp luật, do mộttoà án có thẩm quyền phán quyết
- Bất kỳ người nào bị kết án tử hình có quyền xin ân giảm hoặc xin thay đổi mức hìnhphạt Việc ân xá, ân giảm hoặc chuyển đổi hình phạt tử hình có thể được áp dụng với mọi trườnghợp
- Không được phép tuyên án tử hình với người phạm tội dưới 18 tuổi và không được thihành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai
- Không được viện dẫn Điều này để trì hoãn hoặc ngăn cản việc xoá bỏ hình phạt tử hìnhtại bất kỳ quốc gia thành viên nào của Công ước
Pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền sống đã được đề cập trong những đạo luật của các triềuđại phong kiến, tiêu biểu như Quốc triều Hình luật (Hậu Lê), Bộ luật Gia Long (Nguyễn)…
Trang 22thông qua những quy định nhằm ngăn ngừa và trừng trị những hành vi tuỳ tiện tước bỏ tính
mạng của con người Tiếp đó, Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 cho rằng: “Mọi người sinh ra đề
có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc và đây là những quyền không ai có thể xâm phạm được”
Trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và trong các đạo luật chuyên
ngành trước đây, quyền sống không được đề cập như một quyền cụ thể, mà chỉ được thể hiệnthông qua các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
của công dân Chỉ đến Hiến pháp năm 2013, quyền này mới được nêu trực tiếp trong Điều 19
và được gắn với sự bảo hộ pháp lý về tính mạng: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con
người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” Việt Nam cũng đã
tham gia cả hai Công ước quốc tế cơ bản về nhân quyền năm 1966 (ICCPR, ICESCR) và một sốđiều ước quốc tế khác về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như Công ước về quyềntrẻ em, 1989, Công ước về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, 1979… Việt Namcũng đã ký và dự định sớm phê chuẩn Công ước về quyền của những người khuyết tật, 2006.Đây là những cơ sở pháp lý quốc tế để thúc đẩy các quyền của những nhóm yếu thế, bao gồmquyền sống, ở Việt Nam
Ngoài quy định của Hiến pháp năm 2013, quyền sống hiện còn được bảo vệ qua một sốđiều khoản khác của Hiến pháp năm 2013 và trong một số đạo luật chuyên ngành, ví dụ như Bộ
luật hình sự (Chương XIV), Bộ luật dân sự (Điều 33), Luật trẻ em… Xét một cách khái quát,
Việt Nam đã có một khuôn khổ pháp luật khá hoàn chỉnh để bảo đảm quyền sống, bao gồmquyền sống của họ theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, tức là quyền được bảo đảm về tính mạng vàbảo đảm các điều kiện để tồn tại
Tương tự như nhiều quốc gia khác, Việt Nam hiện vẫn còn duy trì hình phạt tử hình, xuấtphát từ yêu cầu khách quan về phòng chống tội phạm Đây là một trong những quyền con người,
quyền công dân bị hạn chế theo quy định của pháp luật Điều này thể hiện tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của
luật trong trường hợp cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, số điều luật có khung hình phạt tử hình trong BLHS
của Việt Nam đã được giảm đi đáng kể Chỉ còn 18 tội danh bị áp dụng hình phạt tử hình Đó làcác nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về matúy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác Tuy nhiên, trong một số trườnghợp sẽ không áp dụng hoặc không thi hành án tử hình: Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi condưới 36 tháng tuổi; người đủ 75 tuổi trở lên; người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tộinhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối
lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lí tội phạm hoặclập công lớn Điều này thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với những người thực hiệnhành vi tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc các trường hợp được quy định tại Bộ luật hình sự2015
Việc pháp luật Việt Nam vẫn còn quy định áp dụng hình phạt tử hình là không mâu thuẫnvới pháp luật quốc tế
Thứ nhất, việc áp dụng hình phạt tử hình là một đảm bảo cho quyền sống của con người.
Từ thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, có thể thấy rằng hình phạt tử hình là biện pháp có hiệuquả răn đe đặc biệt, không thể thay thế trong việc ngăn ngừa và đấu tranh tội phạm đặc biệtnghiêm trọng như giết người, khủng bố, ma túy… Tử hình một người phạm tội giết người hoặcgây ra những tội ác nghiêm trọng khác là phù hợp với công lý, đền bù thích đáng nhất cho sựmất mát, khổ đau của những nạn nhân và gia đình họ Hình phạt tử hình mang lại cho tất cả mọingười, đặc biệt với nạn nhân của tội phạm sự yên bình và không còn bị tội phạm tái xâm phạm
Trang 23Thứ hai, hình phạt tử hình không trái với nguyên tắc nhân đạo Chúng ta cần phải hiểu
rằng tính nhân đạo của pháp luật biểu hiện ở sự dung hòa lợi ích của xã hội và lợi ích của ngườiphạm tội Một người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại đặc biệt cho xã hội và còntiếp tục đe dọa đến sự an toàn của xã hội thì việc nhân đạo đối với họ chính là vô nhân đạo đốivới toàn thể cộng đồng xã hội Như vậy, hình phạt tử hình đã thể hiện tính nhân đạo một cáchtương đối thông qua khía cạnh xã hội là loại bỏ mối đe dọa nguy hiểm cho xã hội, răn đe và giáodục người khác không phạm tội hay từ bỏ ý định phạm tội Do đó, hình phạt tử hình được xem làđiều kiện tốt để mang lại một cuộc sống có chất lượng và an ninh cho toàn xã hội
Theo các công ước quốc tế, hình phạt tử hình phải được áp dụng đối với những ngườiphạm tội nghiêm trọng nhất và việc xóa bỏ hình phạt tử hình cũng chỉ mang tính khuyến nghị màkhông có tính bắt buộc cho tất cả các quốc gia trên thế giới Như vậy việc tiếp tục duy trì hìnhphạt tử hình ở Việt Nam hiện nay là cần thiết và không trái pháp luật quốc tế Như vậy, từ nhữngphân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng giữa quyền sống và hình phạt tử hình có sự liên hệ vớinhau mà cụ thể là việc áp dụng hình phạt tử hình là cách thức nhằm bảo vệ và đảm bảo choquyền sống của con người được tốt hơn
Câu 10 Phân tích nội dung quyền được bảo vệ, không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục trong pháp luật quốc tế Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.
Pháp luật quốc tế
Trong luật nhân quyền quốc tế, quyền này đầu tiên được đề cập tại Điều 5 UDHR, nêu
rằng không ai bị tra tấn hay bị đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân
phẩm
Điều 7 ICCPR cụ thể hóa Điều 5 UDHR, trong đó nêu rõ, không ai có thể bị tra tấn, đối
xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm; không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó.
Bên cạnh các quy định trên, vấn đề chống tra tấn còn được đề cập trong một số điều ước
quốc tế khác về nhân quyền, đặc biệt là Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (CAT, 1984) Tuy nhiên cần chú ý
là chống tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục được coi là một quy
phạm tập quán quốc tế về nhân quyền, bởi vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có nghĩa vụ
phải tuân thủ, bất kể quốc gia đó có là thành viên của ICCPR, CAT hay bất cứ điều ước quốc tếnào khác có liên quan hay không
Mặc dù UDHR và ICCPR không đưa ra định nghĩa về tra tấn, song định nghĩa này được
nêu ở Điều 1 CAT, theo đó, tra tấn được hiểu là: bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc đau
khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi
mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe doạ hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức Tuy nhiên, Điều này cũng nêu rõ, khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với hoặc có liên quan đến các biện pháp trừng phạt hợp pháp.
Định nghĩa trên hiện được sử dụng như một quy định tham chiếu chung trong Luật nhânquyền quốc tế và Luật hình sự quốc tế khi đề cập đến vấn đề tra tấn, tuy nó bị phê phán là đã loạitrừ những đối tượng và hoàn cảnh mà hành động tra tấn được thực hiện bởi những thủ phạm phicông chức (ví dụ, việc một nhóm phiến quân bắt cóc con tin và tra tấn họ hay việc một ngườichồng đánh đập vợ mình sẽ không thuộc nội hàm của hành động tra tấn theo định nghĩa này)