Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn... 2, Quyền và n
Trang 1A Mở đầu
Từ xưa đến nay, quyền con người, quyền công dân là một vấn đề được quantâm hàng đầu của nhân loại trong cả lý luận và thực tiễn Quyền con người vàquyền công dân là một mục tiêu nhất quán, xuyên suốt trong cương lĩnh, đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước ta Mục tiêu này được thể hiện rõ nhất trongHiến pháp Việt Nam Từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cho đến Hiến pháp sửa đổinăm 2013 đều nhất quán quy định các quyền con người và quyền công dân Ởnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dânđã được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Quanđiểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam là chăm lo cho con người, tôn trọng, bảo vệquyền con người, quyền công dân Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt kể từngày Đảng ta ra đời, được thể hiện rõ từ trong Cương lĩnh chính trị năm 1930,Tuyên ngôn độc lập, Hiến pháp đến các văn kiện của Đảng và pháp luật của ViệtNam Đặc biệt, tại Hiến pháp năm 2013,quyền con người tiếp tục được khẳng
định và bảo đảm thể hiện tại khoản 1, Điều 14 : “ Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Bên cạnh việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền
công dân, thì Hiến pháp năm 2013 có chế định về nguyên tắc giới hạn quyền thể
hiện tại khoản 2, Điều 14: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” Hai nội
dung này rất quan trọng vì nó làm rõ việc bảo vệ, bảo đảm các quyền con người,quyền công dân phải đồng thời với việc bảo đảm các quyền, lợi ích chung của cộngđồng; quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân khác và đồng thời cũng nhằm bảo đảmchức năng quản lý xã hội của Nhà nước Chính vì vậy, nhóm chúng tôi sẽ đi sâu
vào phân tích” nguyên tắc quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và nguyên tắc về giới hạn quyền con người, quyền công dân tại Khoản 2, Điều 14 Hiến Pháp 2013”.
B NỘI DUNG
I Khái niệm
Trang 21, Quyền con người:
Về khái niệm quyền con người, đây lại là phạm trù đa diện có nhiều định nghĩakhác nhau và theo một tài liệu của Liên hợp quốc, từ trước đến nay có đến gần 50định nghĩa quyền con người được công bốnhư quyền con người của học thuyết về
quyền tự nhiên “Quyền con người là những sự được phép mà tất thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người”, hay học thuyết về các quyền pháp lý ghi nhận “Quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa” Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc, quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người
Ở Việt Nam hiện nay, vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về quyềncon người như một định nghĩa Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm quyền con ngườiđược thể hiện trong những quy định cụ thể:
Khái niệm “ Quyền con người” lần đầu tiên nhắc đến trong hiến pháp năm
1992“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính
trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công
dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” ( Điều 50) Tuy nhiên, quyền con
người lúc này vẫn chỉ dừng lại ở một quy định vì Hiến pháp năm 1992 chỉ quyđịnh chế định “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” mà chưa có chế định vềquyền con người, và vì vậy quyền con người vẫn chưa được quy định thông quaquyền công dân.Đến hiến pháp 2013 Điều 14 quyền con người đã được ghi nhậnmột cách đầy đủ, trang trọng bên cạnh quyền và nghĩa vụ của công dân trong chế
định “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”là:“Ở nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật
Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
Trang 3xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.Như vậy, trên phương diện
nghiên cứu khoa học pháp lý, thì quyền con người có thể hiểu là tổng thể những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được công nhận, tôn trọng, bảo vệ
và bảo đảm trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế
Những chuẩn mực của quyền con người:
- Kết tinh những giá trị văn hóa của toàn nhân loại
- Được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ
- Chỉ áp dụng với con người
- Cho tất cả mọi người
- Nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người
Từ nhận định, có thể thấy, quyền con người là một phạm trù có nội dung rộng lớn,
vì thế, khi nghiên cứu cũng như trong các văn bản pháp luật, nó thường được chia
ra thành từng nhóm theo nhiều tiêu chí khác nhau Trên cơ sởba văn kiện pháp lý của Liên hợp quốc về quyền con người, thì quyền con người dưới góc độ pháp lý được chia thành hai nhóm chính: Các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Nhóm các quyền dân sự, chính trị bao gồm:
- Quyền sống;
- Quyền không bị phân biệt đối xử;
- Quyền được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật;
- Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc bị hạ nhục;
- Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt lằm nô lệ hay nô dịch;
- Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện;
- Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước tự do;
- Quyền về xét xử công bằng;
- Quyền tự do đi lại, cư trú;
- Quyền được bảo vệ đời tư;
- Quyền tự do chính kiến, niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo;
- Quyền tự do ý kiến và biểu đạt;
Trang 4- Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân; - Quyền tự do lập hội;
- Quyền tự do hội họp một các hòa bình;
- Quyền được tham gia vào đời sống chính trị;
Nhóm các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa bao gồm:
- Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng; - Quyền làm việc và hưởng thù lao công bằng, hợp lý;
- Quyền được hỗ trợ về gia đình;
- Quyền về sức khỏe;
- Quyền được giáo dục;
- Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu của khoa học
2, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Thuật ngữ “công dân”, theo Từ điển Merriam Webster’s Collegiate, công dân(citizen) là một thành viên của một nhà nước mà người đó có nghĩa vụ trung thànhvà được hưởng sự bảo vệ Ở một nghĩa khác, công dân được hiểu là người mangquốc tịch của một hoặc nhiều quốc gia và có quyền và nghĩa vụ đối với quốc giađó Với Việt Nam, điều này được ghi nhận tại Điều 17 Hiến pháp năm 2013:
“Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”
Từ những nhận định về khái niệm công dân ở trên, ta có thể khẳng định “quyền
và nghĩa vụ của công dân” không phải là các quyền và nghĩa vụ cho tất cả mọi người, mọi cá nhân mà “quyền và nghĩa vụ công dân là những lợi ích và nghĩa vụ
pháp lý được các nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho những người có quốc tịch của
nước mình” Như vậy, quyền công dân, trước hết cũng là quyền con người, nhưng
việc quy định và thực hiện nó gắn với quốc tịch, tức là gắn với vị trí pháp lý củacông dân trong quan hệ với Nhà Nước, được Nhà nước bảo đảm đối với công dâncủa nước mình Chỉ có những người có quốc tịch mới được hưởng quyền công dâncủa quốc gia đó, ví dụ như quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia quản lí nhà nước
Từ những nhận định trên, thì nội dung quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dâncó những đặc điểm riêng sau đây:
- Xuất phát từ quyền con người
Trang 5- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thường được hẩu hết các nước quyđịnh trong hiến pháp.
- Thể hiện tính chất nhân đạo, dân chủ, tiến bộ của nhà nước
- Nghĩa vụ của công dân là các nghĩa vụ tối thiểu mà công dân phải thực hiệnđối với Nhà nước và là tiền đề để đảm bảo các quyền và nghĩa vụ cơ bản mà côngdân được thực hiện (cơ sở xác định địa vị pháp lý của công dân)
- Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là nguồn gốc phát sinh các quyềnvà nghĩa vụ cơ bản khác của công dân, nói cách khác đây là cơ sở đầu tiền, nềntảng cho mọi quyền và nghĩa vụ khác của công dân đượ các văn bản pháp luật quyđịnh
3, Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân:
Quyền sau đây chúng ta cùng phân tích một số vấn đề để làm rõ hơn mối quanhệ giữa chúng:con người và quyền công dân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,không tách rời nhau,
Khái niệm
Là tổng thể những nhu cầu, lợiích tự nhiên, vốn có của conngười được công nhận, tôn trọng,bảo vệ và bảo đảm trong phápluật quốc gia và các thỏa thuậnpháp lý quốc tế
Là những lợi ích và nghĩa vụpháp lý được các nhà nước thừanhận và bảo vệ cho những ngườicó quốc tịch của nước mình
Văn bản
ghi nhận
- Các văn bản pháp lý quốc tế
- Hiến pháp, luật và các đạo luậtcơ bản của quốc gia
Hiến pháp, luật và các đạo luậtquốc gia
Bản chất Tự nhiên, vốn có, không do chủthể nào ban phát. Được Nhà nước xác định bằngcác quy định pháp luật.
Đặc điểm
Áp dụng trên phạm vi quốc tế,được bảo đảm và thực hiện giốngnhau, không thay đổi theo thờigian
Chỉ áp dụng trong lãnh thổ quốcgia, mỗi quốc gia có mỗi quyđịnh riêng về quyền mà công dânđược hưởng, có thể thay đổi theo
Trang 6thời gian
Nội dung Quyền con người là một kháiniệm rộng hơn quyền công dân Quyền công dân được quy địnhxuất phát từ quyền con người.
Chủ thể Tất cả con người trên thế giới Những chủ thể có đầy đủ điều
kiện được quy định trong phápluật mỗi quốc gia (công dân)
Như vậy, quyền con người và quyền công dân có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau, nhưng lại không có sự đồng nhất về chủ thể lẫn nội dung, vì thế, quyền conngười không thay thế được quyền công Nếu như Hiến pháp năm 1992 (sửa đổinăm 2001) lần đầu tiên nhắc đến quyền con người, thì đến Hiến pháp 2013 lần đầutiên quyền con người được quy định một cách trang trọng, đầy đủ bên cạnh quyền,
nghĩa vụ công dân trong Chương II: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” với 36 Điều (từ Điều 14 đến Điều 49)
II Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua các bản hiến pháp
Trang 7bảo vệ nền độc lập dân tộc và chính quyền cách mạng của nhân dân Ngoài ra,công dân còn có nghĩa vụ tôn trọng Hiến pháp và tuân theo pháp luật (Điều 4) Cácđiều còn lại của Chương II quy định các quyền tự do dân chủ của công dân trongcác lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội và tự do cá nhân Lần đầu tiên trong lịch sửdân tộc, quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được ghi nhận trongđạo luật của Nhà nước (Điều 7) Và cũng lần đầu tiên ở nước ta, Hiến pháp quyđịnh phụ nữ được ngang quyền với nam giới về mọi phương diện Nội dung tiếnbộ, dân chủ và nhân đạo của Hiến pháp 1946 còn được thể hiện ở những quy địnhvề các quyền cơ bản của công dân như quyền tham gia chính quyền và công cuộckiến quốc (Điều 7), quyền bầu cử và ứng cử (Điều 18), quyền bãi miễn các đại biểumình đã bầu ra (Điều 20), quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệđến vận mệnh quốc gia (Điều 21), quyền tư hữu tài sản (Điều 12), quyền học tập(Điều 15), quyền tự do ngôn luận, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự docư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài (Điều 10), quyền bất khả xâm phạm vềnhà ở và thư tín (Điều 11), quyền được Nhà nước ưu tiên chăm sóc giúp đỡ củacông dân thuộc dân tộc thiểu số (Điều 8), của công dân già cả, tàn tật, trẻ em (Điều14), của giới cần lao trí thức và chân tay (Điều 13).
2 Hiến pháp 1959
Hiến pháp năm 1959 bao gồm 10 chương 112 Điều, trong đó Quyền và Nghĩavụ của công dân được quy định tại chương III (thay vì chương II như Hiến pháp1946) bao gồm 21 Điều (từ Điều 22 đến 42) So với Hiến pháp 1946 thì Hiến pháp
1959 đã bổ sung những quy định mới về quyền con người như: Quyền khiếu nại tốcáo với cơ quan Nhà nước (Điều 29), Quyền làm việc (Điều 30), Quyền nghỉ ngơi(Điều 31) Bên cạnh quy định quyền, Hiến pháp 1959 cũng quy định cụ thể nhữngnghĩa vụ cơ bản của công dân Một điều đáng lưu ý, Hiến pháp 1946 đề cao vai tròcủa nhân dân trong quá trình lập hiến, theo đó nhân dân có quyền phúc quyết Hiếnpháp – phúc quyết để thực thi quyền làm chủ đất nước và những việc quan hệ đếnvận mệnh quốc gia Tuy nhiên, Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 sau này đều bãi bỏquyền này Đây là một quyền dân chủ trực tiếp rất quan trọng của công dân và nênđược khôi phục lại
Với sự thay đổi của nền kinh tế - xã hội, Hiến pháp 1959 ra đời phần nào đãkhắc phục được những hạn chế của Hiến pháp năm 1946 - những điều khoản
Trang 8không còn phù hợp với tình hình Hiến pháp 1959 có thể xem như là một bước tiếnmới trong quy trình kỹ năng lập hiến Việt Nam.
3 Hiến pháp 1980
So với Hiến pháp 1946 và 1959 thì quyền con người thể hiện trong Hiến pháp
1980 ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn, các Điều luật ngày càng cụ thể hơn,đồng thời tiếp thu có chọn lọc và kế thừa các quy định từ các bản Hiến pháp trướcđó Nếu như Hiến pháp năm 1946 quy định quyền bình đẳng tại Điều 6 đến Điều 9trong đó có các nội dung là: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọiphương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳngtrước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theotài năng và đức hạnh của mình Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dânthiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung Đànbà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” thì đến Hiến pháp năm 1980,đối với quyền bình đẳng nam, nữ (Điều 63), Hiến pháp bổ sung bốn điểmmới: Nhà nước và xã hội có nghĩa vụ chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hóa,khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ để phát huy vai trò của phụ nữ trongxã hội; Nhà nước cần hoạch định chính sách lao động phù hợp với điều kiện củaphụ nữ; xã viên hợp tác xã cũng được hưởng phụ cấp sinh đẻ; Nhà nước và xã hộiphải chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, các nhà ăn côngcộng và những cơ sở phúc lợi khác Không chỉ là nội dung ngày càng hoàn thiệnmà số lượng các điều khoản ở Hiến pháp 1980 cũng nhiều hơn so với bản Hiếnpháp trước Nếu trước đây, ở Hiến pháp năm 1946 chỉ có 18 Điều quy định vềquyền và nghĩa vụ của công dân thì ở Hiến pháp năm 1959 là 21 Điều và Hiếnpháp năm 1980 là 29 Điều
4 Hiến pháp 1992
Đất nước từng ngày thay đổi, có những quy định về vấn đề quyền con ngườitrong Hiến pháp 1980 đã không còn phù hợp nữa mà buộc phải thay đổi bằng mộtbản Hiến pháp mới phù hợp hơn với tình hình đất nước lúc bấy giờ nên bản Hiếnpháp 1992 đã ra đời, có những điểm mới phù hợp hơn các bản Hiến pháp trước đó.Lần đầu tiên, thuật ngữ “quyền con người” được thừa nhận trong Hiến pháp Sốlượng các quyền và nghĩa vụ ghi nhận trong chương về Quyền và Nghĩa vụ cơ bảncủa công dân cũng có bước phát triển, không chỉ so với ba bản Hiến pháp trước màcòn so với Hiến pháp của các nước Nếu Hiến pháp 1946 có 28 Điều về quyền và
Trang 9nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp 1959 có 21 Điều, Hiến pháp 1980 có 28Điều thì Hiến pháp 1992 có 34 Điều trong tổng số 147 điều của toàn bộ Hiến pháp.Cũng chính vì việc tăng các Điều luật hơn so với các bản Hiến pháp trước đó màquyền công dân ở Hiến pháp 1992 được mở rộng hơn so với 3 bản Hiến pháptrước.
Cũng như các bản Hiến pháp năm 1946, 1959 hay 1980, các quyền của côngdân được quy định trong Hiến pháp 1992 đã được bổ sung và cụ thể hóa hơn để điđến hoàn thiện Các quyền cơ bản của công dân theo quy định của Hiến pháp năm
1980 đã được chỉnh lý lại cho phù hợp với điều kiện thực tế của thời kỳ của quá độtiến lên chủ nghĩa xã hội Hiến pháp năm 1992 đã thừa nhận quyền tư hữu như làmột trong những quyền cơ bản nhất của công dân Việc xác định lại quyền tư hữucủa công dân - một trong những quyền cơ bản nhất của con người, là một nội dungcăn bản nhất của bản Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới vànhận thức lại các quy luật khách quan của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.Đó là những thành công trong việc ghi nhận về nhân quyền trong Hiến pháp ViệtNam.Tuy vậy, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, những quy định về nhânquyền của Hiến pháp 1992 đã có một số điều không còn phù hợp cần thay đổi nó
5 Hiến pháp 2013
Trong bản Hiến pháp 2013 có 11 chương, 120 Điều Trong đó, chương vềquyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có Điều luậtnhiều nhất, gồm 36 Điều (từ Điều 14 đến Điều 49) Đây là chương quan trọng vìnói đến lập hiến là nói đến mối quan hệ giữa công dân và các cơ quan Nhà nước.Quyền con người được quy định trong chương II của Hiến pháp 2013, được xâydựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và bố cục lại chương V của Hiến pháp năm 1992(Quyền và Nghĩa vụ cơ bản của công dân) So với Hiến pháp năm 1992, Hiến phápsửa đổi năm 2013 bổ sung nhiều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụcơ bản của công dân Điều này được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu như:
Một là, đưa vị trí chương "Quyền và Nghĩa vụ cơ bản của công dân" từ chương
V trong Hiến pháp năm 1992 về chương II trong Hiến pháp 2013 Việc thay đổi vịtrí nói trên không đơn thuần là sự thay đổi về bố cục mà là một sự thay đổi về nhậnthức Với quan niệm đề cao chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp, coi nhân dân làchủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, thì quyền con người, quyền và nghĩa vụcơ bản của công dân phải được xác định ở vị trí quan trọng hàng đầu trong một bản
Trang 10Hiến pháp Việc thay đổi này là sự kế thừa Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp củanhiều nước trên thế giới, thể hiện nhất quán đường lối của Đảng và Nhà nước tatrong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩavụ cơ bản của công dân.
Mặc dù Hiến pháp năm 1992 đã thừa nhận thuật ngữ “quyền con người” - thôngqua quy định “quyền con người về chính trị, dân sự và kinh tế, văn hóa, xã hộiđược thể hiện trong quyền công dân” tại Điều 50, Hiến pháp năm 1992 lại chưaphân biệt rạch ròi được quyền con người với các quyền cơ bản của công dân. Khắcphục thiếu sót đó, Hiến pháp năm 2013 đã có sự phân biệt giữa “quyền con người”và “quyền công dân” Trong Hiến pháp sửa đổi, khi nói đến quyền con người thìdùng từ “mọi người”, khi nói đến công dân Việt Nam thì dùng từ “công dân” Quyđịnh này thể hiện sự phát triển quan trọngvề nhận thức và tư duy trong việc ghinhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Theo quy định tạiĐiều14, không ai được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền, ngoại trừ các trườnghợp cần thiết nói trên do Luật định Như vậy, Hiến pháp sửa đổi quy định: việc hạnchế quyền con người, quyền công dân dứt khoát phải được quy định bằng Luật,không phải bằng văn bản dưới luật
Hai là, Hiến pháp mới bổ sung một số quyền mới, thể hiện bước tiến mới trong
việc mở rộng và phát triển quyền, phản ảnh kết quả của quá trình đổi mới gần 30năm qua ở nước ta Đó là Quyền sống (Điều 19), Quyền hiến mô, bộ phận cơ thểngười, hiến xác (Điều 20), Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, Quyềnđược sống trong môi trường trong lành (Điều 43) Việc ghi nhận các quyền mớinày hoàn toàn phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam làthành viên, thể hiện nhận thức ngày càng rõ hơn về quyền con người và khẳng địnhcam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thực hiện quyền con người
Ba là, kỹ thuật lập hiến có nhiều đổi mới Cách thể hiện có những điều riêng
quy định về nguyên tắc như Điều 14, Điều 15 Các nhà lập hiến đã tham khảo cácĐiều ướcquốc tế mà Nhà nước ta là thành viên để nội dung các cách diễn đạt đảmbảo sự tương thích Ngoài ra, quyền con người không chỉ đề cập ở chương II mà ởnhiều chương khác như chương về Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa ánnhân dân Như vậy, bộ máy nhà nước được lập ra để bảo vệ quyền con người Cáchtiếp cận quyền con người này thể hiện sự kế thừa và tiếp thu quan điểm tiến bộ củacác nước trên thế giới
Trang 11III Nguyên tắc của chế định quyền con người , quyền và nghĩa vụ của công dân
1 Nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Các quyền con người được được hiểu là những quyền mà pháp luật cần phảithừa nhận đối với tất cả mọi công dân Các quyền con người lần đầu tiên được ghi
nhận trong tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776: “ Tất cả mọi người điều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Bản tuyên ngôn nhân quyền nhân quyền và công dân quyền nổi tiếng của Pháp năm 1791 cũng khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” Quyền con người được
pháp luật quốc tế bảo vệ Ngày 19/12/1966, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thôngqua hai công ước quốc tế về các quyền con người Công ước thứ nhất có hiệu lựctừ ngày 23/3/1976 bảo vệ các quyền dân sự và chính trị Công ước thứ hai có hiệulực từ ngày 03/01/1976 bảo vệ các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội Hai công ướctrên đã được Việt Nam phê chuẩn năm 1982
Nhà nước ta từ khi thành lập cho đến nay luôn tôn trọng các quyền con người,coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng pháp luật của Nhà nước Tuynhiên, nguyên tắc này chưa được thể chế hóa trong các Hiến pháp1946,1959,1980.Đến năm 1992, nguyên tắc tôn trọng các quyền con người đượcthể chế hóa trong đạo luật cơ bản của Nhà nước được ghi nhận trong Hiến Pháp
năm 1992:’ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện các quyền công dân và được quy định trong Hiến Pháp và luật’ (Điều 50) Đến Hiến pháp
năm 2013, chế định “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” đã được thay đổithành “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Đối với Hiến
pháp năm 2013, nguyên tắc này lại một lần nữa được khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” ( Điều 14) Đây là một nguyên tắc cơ bản, đặc biệt quan