Việc nghiên cứu lý thuyết đóng khung trong truyền thông sẽ giúp cho nhà báo, những người làm PR hay toàn bộ những người làm truyền thông có được tư duy nền tảng, tận dụng hành vi nhận th
Trang 1BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO _
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC
HỌC PHẦN: ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
ĐỀ TÀI: LÝ THUYẾT ĐÓNG KHUNG (FRAMING THEORY )
Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Văn Kiền
Trang 2
MỤC LỤC
I LƯỢC SỬ RA ĐỜI 3
II NỘI DUNG 5
1 Định nghĩa “Đóng khung” 5
2 Quá trình đóng khung 6
3 Đóng khung trong truyền thông đại chúng 8
3.1 Những đặc trưng của hình ảnh 9
3.2 Các cấp độ đóng khung hình ảnh 11
III ỨNG DỤNG CỦA LÝ THUYẾT ĐÓNG KHUNG 15
1 Đóng khung bằng ngôn từ 15
2 Đóng khung bằng hình ảnh 19
IV KẾT LUẬN 25
Trang 3Nhà kinh tế học Albert Hirschman đã từng nhận định rằng mỗi con người đều cần phải
có chính kiến, lập trường riêng Trong cùng một vấn đề, mỗi người sẽ có những suy nghĩ, những nhận định riêng bởi vì họ có nền tảng kiến thức và những góc nhìn khác nhau về sự vật, sự việc Thông qua những nghiên cứu về dư luận quần chúng, lý thuyết đóng khung được ra đời và áp dụng vào lĩnh vực truyền thông Việc nghiên cứu lý thuyết đóng khung trong truyền thông sẽ giúp cho nhà báo, những người làm PR hay toàn bộ những người làm truyền thông có được tư duy nền tảng, tận dụng hành vi nhận thức của công chúng đưa ra những phương pháp luận hiệu quả, phù hợp và tác động lên khách thể của truyền thông
Lý thuyết đóng khung bước đầu được ra đời và phát triển trong xã hội học diễn giải Trong xã hội học, cách nhìn nhận của cá nhân về thực tế xảy ra trong quá trình tương tác được coi là tiền đề hình thành nên lý thuyết đóng khung
Vào năm 1955, thuật ngữ “khung” được sử dụng lần đầu tiên bởi nhà xã hội học Gregory Bateson trong một bài luận về tâm lý học nhận thức Nhà nghiên cứu này chỉ ra rằng khung là một công cụ tâm lý cho phép xác định sự khác biệt giữa các sự vật Đối với Bateson, khung là một tập hợp toán học bao gồm các phần tử bên trong
và loại trừ những phần tử nằm ngoài nó Nói cách khác, các khung được sử dụng để xác định ranh giới của đối tượng, từ đó phân biệt chúng với các đối tượng khác Các thông điệp nằm trong một tập hợp khung sẽ có những đặc điểm chung, liên quan tới nhau Điều này bắt buộc nhận thức của con người phải tập trung vào sự gắn kết, tương tác của các thông điệp bên trong và loại bỏ những thông điệp bên ngoài.1
Trong cuốn sách Steps to an Ecology of Mind được xuất bản năm 1972, Gregory
Bateson định nghĩa khái niệm đóng khung là “giới hạn không gian và thời gian của một tập hợp các thông điệp tương tác”.2
Vào năm 1974, Erving Goffman được cho là người đầu tiên phát triển hoàn thiện
khái niệm “đóng khung” trong cuốn Frame analysis: An essay on the organization
1
A Ardèvol-Abreu, Framing theory in communication research in Spain Origins, development and
current situation, Revista Latina de Comunicación Social, 70, pp 423 to 450, 2015
2
Gregory Bateson, Steps to an Ecology of Mind, Chandler Publishing Company , 1972.
Trang 4of experience – một trong những cuốn sách nổi tiếng nhát của ông Theo Goffman,
“khung” chính là những giản đồ của sự diễn giải (schemata of interpretation) cho
phép con người “xác định, tiếp nhận, định dạng và dán nhãn cho vô số những sự biến diễn ra trong cuộc sống của họ”.3 Sự đóng khung này được hiểu là quá trình tổ chức các kinh nghiệm, tìm ra ý nghĩa của chúng trong sự tham chiếu tới những nhận thức sẵn có Sức mạnh của việc đóng khung chính là ở chỗ con người buộc phải dùng tới các hệ thống quen thuộc, ví dụ như hệ thống biểu tượng, tri thức, huyền thoại v.v để có thể diễn giải về một hiện tượng bất kỳ trong đời sống xã hội.4
Sau khi Goffman áp dụng lý thuyết đóng khung vào phạm vi tổ chức kinh nghiệm của con người, nhiều nhà nghiên cứu đã phát triển lý thuyết này cho lĩnh vực hẹp hơn là truyền thông đại chúng Trong bài phân tích về di sản của Goffman, Gamson William cho rằng quá trình đóng khung của báo chí là “gần như hoàn toàn ngầm ẩn,
và được thừa nhận như lẽ tất nhiên Cả nhà báo lẫn công chúng đều không nhận ra rằng đây thực chất là một quá trình kiến tạo mang tính xã hội, mà chỉ đơn giản xem
nó là việc phóng viên phản ánh lại sự kiện” Theo Gamson, việc đóng khung chính
là quá trình “quyết định xem cái gì được chọn, cái gì bị loại bỏ, và cái gì được nhấn mạnh Nói tóm lại, tin tức cho chúng ta biết về một thế giới đã được đóng gói”.5Khung được Gamson định nghĩa là “ý tưởng tổ chức cốt lõi” của cái thế giới đã-bị-gói kia, giúp “giải nghĩa về các sự kiện liên quan, cũng như gợi ý xem đâu mới là vấn đề cần xem xét”.6 Như vậy tiếp cận lý thuyết đóng khung mở ra một nhận định rằng thông điệp được thể hiện trên báo chí như thế nào tất sẽ đóng khung trong nhận thức của công chúng như thế ấy và ngược lại.7
3Erving Goffman, Frame analysis: An essay on the organization of experience, Northeastern University Press, 1974
4
Nguyễn Thu Giang, Truyền thông thị giác dưới sự quy chiếu của lý thuyết đóng khung, Khoa Báo chí
Truyền thông Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2012
5William A Gamson, Goffman’s Legacy to Political Sociology, Theory and Society, Vol 14, No 5
(1985)
6William A Gamson & Andre Modigliani, Media Discourse and Public Opinion on Nuclear Power: A
Constructionist Approach, American Journal of Sociology 95 (No 1), 1989
7
Nguyễn Thu Giang, Truyền thông thị giác dưới sự quy chiếu của lý thuyết đóng khung, Khoa Báo chí
Truyền thông Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2012
Trang 5Định nghĩa tường minh nhất về quá trình đóng khung của truyền thông đại chúng
có lẽ được đưa ra bởi Robert Entman: “Quá trình đóng khung chủ yếu liên quan tới
việc lựa chọn và làm nổi bật Đóng khung có nghĩa là lựa chọn một số khía cạnh
trong cách hiểu về hiện thực, rồi làm cho nó nổi bật lên trên văn bản truyền thông bằng cách nhấn mạnh vào một cách đặt vấn đề, một cách lý giải, một cách đánh giá đạo đức, hoặc/và một cách xử lý nào đó”.8
1 Định nghĩa “Đóng khung”
“Đóng khung” là cách các phương tiện truyền thông định hình và xây dựng tin tức nhằm thay đổi góc nhìn của khán giả về một vấn đề, từ đó điều khiển cách họ suy nghĩ và quyết định hành động về vấn đề đó Về bản chất, “khung” là một khái niệm trừu tượng, được ẩn dụ với vai trò định hình ý nghĩa của thông điệp9 Trên thực thế, có nhiều cách để đóng khung một vấn đề như: đặt tiêu đề nhắm đúng vào
“khung”, thay đổi ngôn từ, nhấn mạnh hay giảm nhẹ một chi tiết nào đó, tập trung miêu tả một phương diện duy nhất của vấn đề,… Nghiên cứu về sự đóng khung trong tin tức, Entman (1991) đã đưa ra 5 cách cơ bản để đóng khung một vấn đề:10
Thứ nhất là tạo sự Xung đột (Conflict);
Thứ hai là Cá nhân hóa thông tin theo mối quan tâm của phần lớn độc giả
(Personalisation) bằng cách kể những câu chuyện về những con người thật, trong đó
đề cao tính cá nhân, tập trung vào con người đó hơn cả;
Thứ ba là tập trung đề cập đến Hệ quả (Consequences);
Thứ tư là quy kết thông tin về một vấn đề đạo đức (Morality);
Thứ năm là quy trách nhiệm (responsibility), thường là để đổ lỗi cho nguyên nhân
hoặc kiếm tìm giải pháp
8Robert Entman, Framing: Toward Clarification of a Fractured Paradigm, Journal of Communication, Autumn
Trang 6- Khung môi trường tự nhiên nhìn mọi vật vận hành một cách vật chất, thực tế, hoàn toàn lấy cơ sở từ tự nhiên và không quy kết nguyên nhân cho những tác động từ xã hội
- Khung môi trường xã hội được xây dựng trên nền tảng của môi trường tự nhiên, nhìn nhận mọi sự vận hành đều tuân theo xu hướng của xã hội, hoặc có thể bị thao túng bởi một cá nhân nào đó.13
11 The framing Theory, Stephanie Hernandez, link: https://www.youtube.com/watch?v=y5s7SoUuZIo
12 Mass Communication Theory (Online) (2017, January 31) Framing Theory, link:
https://masscommtheory.com/theory-overviews/framing-theory/
13 Lagos State University (2017), Understanding Framing Theory, link:
https://www.researchgate.net/publication/317841096_UNDERSTANDING_FRAMING_THEORY
Trang 7Những nền tảng này có ảnh hưởng rất lớn đến cách đóng khung của truyền thông, bởi chúng giúp truyền thông phân tích khán giả dựa trên thói quen, cuộc sống, sở thích và các mối quan tâm của họ, từ đó có thể điều hướng, “đóng khung” tâm lý của khán giả dựa trên các khuôn khổ tự nhiên và xã hội sẵn có, hoặc theo cách mà truyền thông mong muốn Truyền thông với tác động to lớn của mình cũng tác động ngược lại xã hội, tạo ra nhiều luồng “dư luận” mới hình thành trong quá trình tìm kiếm
thông tin, truyền tin và trao đổi thông tin giữa các cá nhân (Theo cơ chế truyền tin,
dư luận xã hội được hình thành thông qua bốn giai đoạn, gồm: phát hiện thông tin, tiếp cận thông tin, truyền thông tin và biến đổi thông tin 14 )
Goffman cho rằng các tất cả chúng ta – mỗi cá nhân trong xã hội – đều đang sử dụng, hoặc là đối tượng của các khung này mỗi ngày, dù ta có nhận thức được điều
đó hay không Vì vậy, như lược đồ biểu thị, con người hay dư luận nói chung, vừa
là sản phẩm xã hội, vừa là quá trình xã hội chịu tác động của truyền thông đại chúng Trước kia truyền thông đại chúng được ví như “cỗ máy khổng lồ” sản sinh dư luận
xã hội hàng ngày Hiện nay nhờ các thành tựu của khoa học và công nghệ của thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, truyền thông đại chúng đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống thực và ảo của con người Nhưng chính vì thế mà truyền thông hiện đại càng thể hiện rõ là sản phẩm và quá trình xã hội liên tục được kiến tạo “ngay
và luôn” bởi chính dư luận xã hội mà các lý thuyết truyền thông vừa nêu chưa có điều kiện làm rõ.15
Cuối cùng, dưới sự tác động của sự đóng khung thông tin từ truyền thông và sức ảnh hưởng từ môi trường tự nhiên, xã hội, khán giả dần có những thay đổi trong nhận thức và hành vi của mình, bổ sung thêm tương tác với truyền thông và môi trường sống
Như vậy, quá trình đóng khung một thông tin chính là làm nổi bật 1 khía cạnh của thông tin đó, và làm mờ đi tất cả các khía cạnh còn lại
14 Viện KHXH&NV, Trường Đại học Vinh (2019), Các lý thuyết truyền thông về dư luận xã hội…, link:
nghien-cuu-du-luan-xa-hoi-vung-dan-toc-thieu-so-92553
http://vienkhxhnv.vinhuni.edu.vn/dao-tao/seo/cac-ly-thuyet-truyen-thong-ve-du-luan-xa-hoi-va-van-dung-trong-15 Patricia Moy và Brandon Bosch, Sociology Department, Faculty Publications, Theories of public opinion, link:
http://digitalcommons.unl.edu
Trang 83 Đóng khung trong truyền thông đại chúng
Ứng dụng phổ biến nhất của lý thuyết đóng khung chính là cách các tin tức hoặc phương tiện truyền thông “đóng khung” cho những thông tin mà chúng truyền tải,
từ đó gây ảnh hưởng lớn đến cách tiếp nhận, nhận thức và suy nghĩ của khán giả về thông tin đó Một ví dụ kinh điển cho lý thuyết này chính là cách đặt tiêu đề cho hai
sự kiện hoàn toàn giống nhau về bản chất của Tạp chí Newsweek – Mỹ trong những năm 1980 – thời điểm diễn ra cuộc Chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Mỹ.16
Trang bìa tạp chí Newsweek (ảnh: Google)
Trên trang bìa tạp chí Newsweek nhân sự kiện Liên Xô bắn hạ một máy bay dân
sự lỡ bay vào không phận của nước này (ảnh bên trái), dòng tiểu đề “Murder in the
air” – Giết người trên không trung cũng bức ảnh minh họa đã được “đóng khung’, một cách cố ý, hướng dư luận Mỹ đến suy nghĩ cáo buộc hành động của Liên Xô mang tính tội ác (giết người) mà hoàn toàn làm mờ đi nguyên nhân rằng đây hoàn toàn là một sự nhầm lẫn từ phía Liên Xô do đã lầm tưởng máy bay dân sự này là một máy bay chiến đấu của Mỹ Một vài năm sau, chính Mỹ đã lặp lại sự nhầm lẫn này khi bắn rơi một máy bay thương mại trên không phận Mỹ Hai sự việc gần như giống
16 Journ 16: Agenda Setting, Priming and Framing, link: https://www.youtube.com/watch?v=f5Ncm-Di5YM
Trang 9nhau hoàn toàn về bản chất, thế nhưng lúc này, trang bìa tờ Newsweek (ảnh bên trái)
lại nhấn mạnh tiêu đề “Why it happened” – “Tại sao điều này xảy ra” Yếu tố “nhầm lẫn” được nhấn mạnh, đóng khung suy nghĩ của độc giả vào việc Mỹ bắn “nhầm” máy bay thương mại chỉ vì đang bảo vệ quốc gia mà thôi
Vậy, có thể thấy r mặc dù lý thuyết đóng khung được áp dụng trước hết cho văn bản viết, thì bản thân hành vi “đóng khung”, theo nghĩa đen, lại dùng cho hình ảnh Việc áp dụng lý thuyết này vào phân tích hình ảnh là khá hữu dụng, bởi hình ảnh là một công cụ đóng khung rất mạnh, khi mà công chúng dễ dàng chấp nhận nó một cách vô thức hơn văn bản viết Paul Messaris và Linus Abraham chỉ ra rằng: “Nếu như tác động của quá trình đóng khung phụ thuộc chủ yếu vào việc các bộ khung được mặc nhiên công nhận, vì công chúng chẳng hề có ý thức gì về nó, thì rõ ràng, bất cứ điều gì có thể làm thay đổi nhận thức của công chúng đều có thể tạo ra khác biệt đáng kể tới kết quả cuối cùng của cả quá trình”17 Như vậy, nếu công chúng nhận thức được rằng hình ảnh là một công cụ đóng khung quan trọng, thì họ sẽ có ý thức phê phán hơn khi tiếp cận với các thông điệp thị giác và từ đó, có khả năng nhận diện được mục đích quyền lực hoặc lợi nhuận ngầm ẩn trong các thông điệp hình ảnh
Tầm quan trọng của việc phân tích khung hình ảnh sẽ được phân tích kỹ hơn khi tham chiếu tới các đặc trưng dưới đây:
17 Paul Messaris & Linus Abraham, The Role of Images in Framing News Stories, in trong cuốn Framing public life,
Perspectives on media and our understanding of the social world (tuyển tập chủ biên bởi Stephen D Reese,
Oscar H Gandy, Auguste E Grant), Lawence Erlbaum Associates Publishers, 2001
18 Ths Nguyễn Thu Giang, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN, Văn hóa thị giác dưới sự quy chiếu của lý
thuyết đóng khung
19 Roland Barthes, Image Music Text, FontanaPress, 1977
Trang 10Vì hình ảnh có tính analog, nên nó chỉ tồn tại qua chính nó, tức là đường nét, màu sắc, hình khối Đặc trưng này cũng quy định việc ý nghĩa của một hình ảnh đơn
thuần chỉ có thể là nghĩa sở thị (denotative meaning), tức là nghĩa bậc một Một bức
ảnh không đem lại được sự hiểu gì rộng hơn chính hình thức của nó Nghĩa liên
tưởng (connotative meaning) của hình ảnh chỉ đạt được với sự hỗ trợ của quá trình
phân tích các yếu tố bên ngoài, ví dụ như góc chụp, cách viết chú thích, và rộng hơn
cả là hệ thống biểu tượng và khuôn mẫu được xã hội công nhận
Hình ảnh được cho là gần gũi với hiện thực hơn ngôn từ Trong nhiều trường hợp, công chúng không nhận thức được rằng bản thân hình ảnh vẫn ẩn chứa rất nhiều yếu tố mang tính tạo chế, và không hề “tự nhiên” Ngay cả với những bức ảnh vẽ, thì tính chất analog vẫn khiến con người tin vào tính xác thực của nó hơn là ngôn ngữ miêu tả đơn thuần
Đặc trưng thứ hai của hình ảnh, theo Roland Barthes nằm ở chỗ “hình ảnh là những thông điệp không có bộ mã” Vì vậy, hình ảnh không có khả năng tạo ra các
cú pháp trọn vẹn và mạch lạc, dẫn tới việc hình ảnh thường phải kết hợp với các yếu
tố khác để tạo ra được cú pháp (ví dụ như kết hợp với chữ, tiêu đề bài, tên ấn phẩm hoặc sản phẩm) Đó là một trong những lý do sâu xa của việc hình ảnh chỉ được coi
là công cụ minh họa, hoặc trang trí cho phần chữ Có thể dễ dàng thấy rằng ngay cả
ở những thông điệp đại chúng rất nổi bật về tính thị giác, như billboard quảng cáo, hay phóng sự ảnh trên báo in thì phần chữ (lời quảng cáo hoặc chú thích ảnh) vẫn là yếu tố gần như bắt buộc để công chúng hiểu được cú pháp của thông điệp Cũng vì không có khả năng tạo ra các cú pháp mạch lạc, nhưng lại là những sao chép mang tính analog của hiện thực, nên hình ảnh có sức tác động mạnh trong việc gây ấn tượng về cảm xúc, hơn là tạo lập những lý lẽ duy lý
Mặt khác, sự thiếu vắng của những cú pháp rành mạch khiến hình ảnh thường cung cấp các “gợi ý” nhiều hơn là những tuyên bố rõ ràng Ví dụ, một hình quảng cáo bột giặt trên báo in có thể không đưa ra thông điệp hiển ngôn nào về chất lượng của sản phẩm Tuy nhiên, bức ảnh chụp những đứa trẻ hạnh phúc khi chơi đùa với bùn đất, và sau đó, tươi cười mặc áo trắng tinh tới trường lại “gợi ý” về một cú pháp
ngầm ẩn rằng: “Nếu con bạn thông minh thì cháu sẽ nghịch ngợm Nếu cháu nghịch
ngợm thì quần áo của cháu sẽ bị bẩn Nhưng nếu nó bẩn thì bạn đừng mắng cháu
Trang 11Bởi quần áo có thể được giặt trắng tinh tươm bằng bột giặt của chúng tôi” Thông
điệp ngầm ẩn (và gần như không thể quy kết trách nhiệm) này khiến công chúng không ý thức được rõ ràng việc mình đang đối mặt với một cú pháp hoặc một luận điểm có tính logic Vì thế, trong khi công chúng vẫn dễ dàng đưa ra cách diễn giải
về hình ảnh (như kết luận của riêng họ) thì họ lại ít quan tâm tới việc bức ảnh đã
được cấu trúc như thể nào để “gợi ý” cho họ cách diễn giải đó
Hai đặc trưng nêu trên của hình ảnh một lần nữa cho thấy hình ảnh là một công
cụ có khả năng đóng khung mạnh, bởi bản chất của hình ảnh được công chúng mặc nhiên công nhận và ít bóc tách hơn các cấu trúc ngôn ngữ Hình ảnh không có sự diễn nghĩa lòng vòng nên nó giảm nhẹ gánh nặng nhận thức cho người xem và dễ được tiếp nhận hơn Trong khi hình ảnh không có khả năng tạo ra các cú pháp ngôn ngữ mang tính duy lý thì nó vẫn được cho là có khả năng gây ra những kích thích mạnh mẽ về mặt cảm xúc và điều này có thể gây ảnh hưởng tới cách hiểu và ra quyết định của công chúng về các vấn đề bị đóng khung
3.2 Các cấp độ đóng khung hình ảnh
Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể áp dụng lý thuyết đóng khung để phân tích hình ảnh đặt trong việc tham chiếu tới những đặc trưng loại hình thông điệp thị giác này Các cấp độ phân tích được đề xuất ở đây gồm:
- Phân tích nghĩa sở thị của hình ảnh (Denotative level)
- Phân tích phong cách của hình ảnh (Stylistic level)
- Phân tích nghĩa liên tưởng của hình ảnh (Connotative level)
- Phân tích ý nghĩa ý thức hệ của hình ảnh (Ideological level)
Ở cấp độ đầu tiên, hình ảnh được hiểu là những kích thích thị giác tác động tới
các tế bào thần kinh ở mắt để chuyển tải thông tin tới não bộ Nói cách khác, ở cấp
độ này, người xem trả lời câu hỏi “cái gì đang được chụp/vẽ lại” Mức độ đóng khung này liên quan chặt chẽ tới tính chất analog của hình ảnh Hình ảnh được tiếp cận trước tiên qua những đường nét, màu sắc, hình khối, được kết hợp với nhau để tạo ra các vật thể (con người, đồ đạc, phong cảnh v.v.) Chúng được ghi nhận và xếp loại trong não bộ con người, dựa trên kinh nghiệm sẵn có Một điểm đáng chú ý là mặc dù hình ảnh có thể dung chứa toàn bộ các đặc điểm hình thức của tất cả những
Trang 12yếu tố xuất hiện trong ảnh, thì người xem lại chỉ ghi nhận những gì họ biết Chính
vì thế, người xem thường nhanh chóng đóng khung hình ảnh vào một vài yếu tố trung tâm Điều này kết hợp với trí nhớ hình ảnh ngắn hạn của con người dẫn tới việc hình ảnh thường chỉ còn đọng lại bằng một vài chi tiết được nhận diện dễ dàng nhất, kèm theo đề tài bao trùm cả bức ảnh
Trong cấp độ đọc đầu tiên, việc đóng khung hình ảnh còn được hỗ trợ bởi tít bài, chú thích ảnh, lời trên ảnh, và rộng hơn có thể là bối cảnh chung của toàn ấn phẩm Nói như Roland Barthes thì mỗi hình ảnh có thể bị đóng khung ngay bởi tên tờ báo đăng tải nó
bởi một tấm hình có thể “thay đổi ý nghĩa nếu chuyển từ tờ báo bảo thủ L’Aurore sang
tờ báo cộng sản L’Humanite”.20
Cũng trong cấp độ đọc này, người xem có xu hướng ghép nhóm những yếu tố gần nhau trên cả phương diện nội dung lẫn hình thức sao cho họ có thể tìm ra được một cách diễn giải tương đối mạch lạc về hình ảnh Ngay trong cấp độ đóng khung đầu tiên này, cả người chụp ảnh, chọn ảnh, lẫn người xem ảnh đều đã loại bỏ những chi tiết không liên quan, hoặc không nhận diện ra được, để tạo ra một cách hiểu mà họ thấy là phù hợp nhất với kinh nghiệm sẵn có
Ví dụ, khi so sánh các bức ảnh đưa tin về trận sóng thần lịch sử năm 2004 và trận
bão Katrina trên hai tờ báo Mỹ là The Washington Post và The New York Times,
Porismita Borah đã sử dụng phương pháp phân tích nội dung (content analysis) trên
264 bức ảnh đăng trong tuần đầu tiên sau khi xảy ra hai thảm họa để trả lời câu hỏi xem đối tượng nào thường bị đóng khung nhất Kết quả cho thấy đặc điểm chung là
cả hai tờ báo đều nhấn mạnh vào các hình ảnh liên quan tới việc “sống sót”, hoặc
“sự tàn phá” Điểm khác biệt là đối với trận sóng thần, các tờ báo đưa nhiều hình ảnh liên quan tới cái chết và xúc cảm hơn, còn với trận bão Katrina, những hình ảnh
về công tác cứu hộ lại được chú trọng
Cấp độ đọc thứ hai là việc phân tích phong cách của hình ảnh Những quy phạm
về hình thức không chỉ liên quan tới việc bấm máy của người chụp, mà còn tác động tới cách hiểu bức ảnh từ phía công chúng Tất nhiên, trong rất nhiều trường hợp,
20 Roland Barthes, Image Music Text, FontanaPress, 1977
Trang 13người xem không ý thức được việc mình đang đóng khung ý nghĩa của hình ảnh dựa vào chính phong cách của nó
Những quy chuẩn về mặt phong cách chụp ảnh có thể kể ra bao gồm: cỡ cảnh (toàn, trung, cận, đặc tả), kích thước ảnh khi in, mức độ sắp đặt của bức ảnh, đồ vật phụ trợ, màu sắc, bố cục, vị trí máy (trên, ngang, dưới đối tượng), và hành vi của đối
tượng được chụp v.v… Theo bộ tiêu chí chọn ảnh của tờ Washington Post - một
trong những tờ báo có nhiều ảnh báo chí đoạt giải thưởng lớn nhất thế giới, thì sức tác động của bức ảnh tăng dần theo các cấp độ sau: Tính thông tin (ít sức tác động nhất) Tính hấp dẫn về mặt đồ họa Tính cảm xúc Tính riêng tư
Cấp độ đọc thứ ba bao hàm việc phân tích nghĩa liên tưởng của hình ảnh Cấp
độ đóng khung này liên quan tới đặc trưng thứ hai của hình ảnh, và rộng hơn là được đặt trong toàn bộ bối cảnh diễn ngôn mà bức ảnh tham gia Con người, đồ vật, phong cảnh trong bức ảnh không còn được nhìn nhận như những yếu tố riêng lẻ, mà được đọc cùng với các giá trị, biểu tượng, khuôn mẫu, ý niệm gắn liền với chúng Theo
Barthes, đây là lúc viện tới hệ thống ký hiệu thứ hai 21, tức là hệ thống ký hiệu của
ký hiệu Barthes đã áp dụng hệ thống này để đọc các “huyền thoại” trên truyền thông, trong đó có rất nhiều hình ảnh
Ở cấp độ này có sự tham gia của biểu tượng, định kiến và khuôn mẫu vào quá trình đóng khung ở cả người sản xuất hình ảnh, lẫn người tiếp nhận hình ảnh Như đã phân tích ở trên, hình ảnh thường tạo ra những cú pháp mơ hồ và khó quy kết trách nhiệm, nên nó có lợi thế hơn trong quá trình đóng khung, nhất là khi chuyển tải những định kiến về giới tính, chủng tộc, quốc gia dân tộc, phân cấp giàu nghèo, và nhiều hệ giá trị khác ở cả cấp độ cá nhân lẫn cấp độ hệ thống
Theo Paul Messaris và Linus Abraham, trong truyền thông Mỹ, để tránh bị cho là phân biệt chủng tộc, những vấn đề liên quan tới người Mỹ gốc Phi hiện giờ được triển khai thầm lặng qua hình ảnh mà không đi kèm một ám chỉ hiển ngôn nào Dù
tỏ ra là khách quan, nhưng vì khả năng miêu tả và biểu tượng hóa của hình ảnh là rất mạnh mẽ, nên nó vẫn là một nguồn cung cấp các hình tượng đã bị đóng khung
về các nhóm dân tộc khác nhau Những đặc điểm hình dạng và cử chỉ trong ảnh gây
21 Roland Barthes, Những huyền thoại (Phùng Văn Tửu dịch), NXB Tri Thức, 2008