1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề cương ôn thi triết học mác lênin

19 14 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương ôn thi triết học Mác-Lênin
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Đề cương ôn thi
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 286,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐỀ CƢƠNG ÔN THI TRIẾT HỌC Câu 1 Triết học là gì? Hãy phân tích nội dung của vấn đề cơ bản của triết học?Từ đó, làm ró các chức năng cơ bản của triết học Mác Lenin ? Trả lời *Khái niệm Triết học đã r[.]

Trang 1

1

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TRIẾT HỌC Câu 1:Triết học là gì? Hãy phân tích nội dung của vấn đề cơ bản của triết

học?Từ đó, làm ró các chức năng cơ bản của triết học Mác-Lenin ?

Trả lời:

*Khái niệm:

-Triết học đã ra đời tại các trung tâm văn minh lớn của nhân loại vào khoảng từ thế kỉ VIII đến thế kỉ VI TCN.Lúc bấy giờ, ở Trung Quốc, triết học được hiểu là

sự truy tìm bản chất, căn nguyên của vạn vật trong thế giới và định hướng nhân sinh cho con người; ở Ấn Độ, triết học được hiểu là con đường suy ngẫm dẫn dắt con người đến với lẽ phải, đến chân lí siêu nhiên; còn ở Hy Lạp, triết học được hiểu là yêu mến và sự thông thái, là khát vọng hướng đến chân lí, giúp con người giải thích vạn vật trong thế giới và định hướng nhận thức và hành vi trong thế giới Triết học sử dụng các công cụ lý tính, logic,…(lý tính) để diễn tả thế giới một cách trừu tượng và khái quát hình thức và các hệ thống lý luận nhằm mang lại bước tranh tổng quát nhất hớp lý về thế giới và về con người

Ngày nay, dù có nhiều quan niệm khác nhau về triết học nhưng quan niệm

chung cho rằng, triết học là một hình thức nhận thức đặc thù, là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt Triết học phản ánh, giải thích tất cả mọi sự vật, hiện tượng, quá trình xảy ra trong thế giới (gồm cả thế giới bên trong bên ngoài con người; gồm cả thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy tinh thần) trong tính hệ thống chỉnh thể vốn có của nó bằng tư duy lý luận, với mục đích tìm ra những thuộc tính, quy luật phổ biến nhất chi phối sự vận động củ vạn vật trong thế giới; từ đó xây dựng những yêu câu nền tảng điều phối hành vi con người trong thế giới xung quanh

Như vậy,triết học là hệ thống chỉnh thể liên kết trong mình những tri thức trừu tượng, khái quát nhất (nguyên lí nền tảng) về thế giới với nguyên tắc cơ bản của tồn tại người trong quan hệ người trong mối quan hệ với thế giới xung

quanh.Điều này không cho phép đồng nhất triết học với khoa học, đồng thời, phải thấy triết học khác biệt với tôn giáo, đạo đức, chính trị ,pháp luật,…Nhưng triết học lại có mối quan hệ mật thiết với hình thức nhận thức khoa học và các hình thái ý thức xã hội như tôn giáo, đạo đức, chính trị, pháp luật,… Triết học phát triển không chỉ dựa trên lịch sử của bản thân tư tưởng triết học mà còn phải dựa trên cơ sở tổng kết toàn bộ lịch sử tư tưởng của khoa học và của tôn giáo, đạo đức, chính trị, pháp luật,… và thâm nhập vào những loại hình tư tưởng này với vai trò cơ sở lý luận của chúng

Theo quan iệm của triết học Mác-Lenin, triết học là hệ thống là hệ thống quan niệm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí con người con người trong thế giới

Trang 2

2

đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên,

xã hội và tư duy

*Vấn đề cơ bản của triết học:

Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề mang tính bao trùm, xuất phát, nền tảng

mà mọi trao lưu, trường phái triết học phải giải quyết trước Thông qua cách giải quyết vấn đề cơ bản mà lập trường, thế giới quan của các trào lưu, trường phái triết học nói chung, của mỗi triết gia nói riêng được xác định kể từ đó giải quyết các vấn đề còn lại

Triết học cho rằng, tất cả mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới chỉ có thể thuộc về một trong hai lĩnh vực:lĩnh vực vật chất hoặc lĩnh vực ý thức (tinh thần), Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (giữa tồn tại và tư duy/giữa tự nhiên và tinh thần,…)Ph.Ăngghen viết:”Vấn

đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mà thực chất trả lời hai câu hỏi lớn:Mặt thứ nhất, giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Cách trả lời cho hai câu hỏi này xác lập trường của nhà triết học và tạo thành các trào lưu, trường phái lớn trong triết học

*Chức năng của triết học

Triết học Mác-Lenin thực hiện nhiều chức năng, trong đó hai chức năng cơ bản

là chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận

-Chức năng thế giới quan

Thế giới quan là toàn bộ các quan điểm, quan niệm về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó; là “lăng kính” để con người (cá nhân, cộng đồng xã hội) nhận thức thế giới và cách ứng xử trong thế giới Mọi hình thái ý thức con người đều góp phần hình thành nên thế giới quan, song triết học là hạt nhân lí luận của nó, còn khoa học góp phần làm cho nó trở nên đúng đắn Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực, cách mạng Triết học Mác-Lenin vạch ra bản chất và bản tính biện chứng của vận vật trong thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy), từ đó, chỉ ra nguồn gốc, bản chất, vai trò, mục đích lẽ sống của con người trong thế giới; vì vậy, nó đem lại cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và nhân sinh quan cộng sản Thế giới quan duy vật biện chứng mang tính khoa học cách mạng Bởi vì, một mặt, nó giúp con người hình thành quan điểm khoa học, thái độ tích cực , sáng tạo, trong nhận thức và cải tạo thế giới; mặt khác, nó là hạt nhân của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các

Trang 3

3

lực lượng tiến bộ cách mạng, là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản khoa học mà trước hết là đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học

-Chức năng phương pháp luận

Phương pháp là hệ thống những quan điểm, nguyên tắc cơ bản, xuất phát đòi hỏi phải tuân theo trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằn đạt kết quả tối

ưu Phương pháp luận là lý luận về cách thức xây dựng và nghệ thuật vận dụng một hệ thống phương pháp trong hoạt đọng của con người Có phương pháp luận riêng của khoa học chuyên ngành, phương pháp luận chung của khoa học liên ngành và phương pháp luận chung nhất (phô biến) của triết học

Triết học Mác-Lenin thực hiện cức năng phương pháp luận chung nhất cho mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn Bởi vì, nó trang bị cho con người hệ thống nguyên tắc, quan điểm chung nhất cho mọi hoạt đọng nhận thức và thực tiễn; trước hết là phương pháp chung nhất cho mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn cách mạng Mọi các khái niệm, quy luật, phạm trù của triết họ Mác-Lenin đều được xem như công cụ nhận thức khoa học, phát triển tư duy khoa học Tuy nhiên, triết học Mác-Lenin không phải “đơn thuốc vạn năng” có thể giải quyết được mọi vấn đề trong cuộc sống Để hoạt động nhận thức và thức tiễn có hiệu quả bên cạnh tri tức triểt học Mác-Lenin, cần phải có tri thức khoa học cụ thể và kinh nghiệm thực tiễn Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của phương pháp luận triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều và dễ bị vấp váp, thất bại Bồi

dưỡng phương pháp luận duy vật biện chứng giúp mọi người tránh được những sai lầm do chủ quan, duy ý chí và phương pháp tư duy siêu hình gây ra

CÂU 2:Hãy nêu và phân tích nội dung định nghĩa vật chất của V.I.Lenin.Từ đó, rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó?

-Quan niệm triết học Mác-Lenin về vật chất thể hiện qua quan điểm của

Ph.Ăngghen, và đặc biệt là qua định nghĩa phạm trù vật chất của V.I.Lenin -Quan điểm của Ph.Ăngghen:”vật chất với tính cách là vật chất, một sáng tạo thuần túy của tư duy, và một trừu tượng thuần túy,… Do đó, khác với những vật chất nhất định và đang tồn tại, vật chất với tính cách là vật chất không có sự tồn tại cảm tính”.Theo quan điểm này, cần phân biệt vật chất với tính cách là một phạm trù của triết học, một sáng tạo của tư duy con người trong quá trình phản ánh hiện thức với các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất

- Quan điểm của V.I.Lenin vật chất:”Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Định nghĩa vật chất của V.I.lenin cho thấy:

Trang 4

4

+ Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức

+ Vật chất là cái gây nên cảm giác của con người khi nó tác động lên giác quan con người một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

+ Vật chất là cái được ý thức phản ánh, còn ý thức của con người là sự phản ánh của vật chất

- Như vậy, theo quan niệm của triết học Mác-Lenin, các hiện tượng vật chất luôn tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào các hiện tượng tinh thần Thuộc tính chung duy nhất của vật chất là sự tồn tại của khách quan ở bên ngoài ý thức Tất cả những gì đang tồn tại bên ngoài không phụ thuộc vào ý thức con người đều thuộc phạm trù vật chất

- Quan niệm của triết học Mác-Lenin về vật chất, mà cụ thể là định nghĩa vật chất của V.I.Lenin đã khắc phục được một số hạn chế cơ bản sau của triết học trước Mác về vật chất:

Thứ nhất, bác bỏ quan niệm của chủ nghĩa duy tâm về vật chất và mối quan

hệ giữa vật chất với ý thức-đó là quan niệm phủ nhận đặc trưng”tự thân tồn tại” của các sự vật, hiện tượng của thế giới; và cho rằng, bản chất thế giới là

ý thức, ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức có trước và quyết định vật chất,

Thứ hai, bác bỏ thuyết không thể biết, vì về nguyên tắc, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Trong thế giới vật chất không co cái gì là không thể biết, chỉ có những cái đã biết, đang biết và sẽ biết

Thứ ba, khắc phục được những khiếm khuyết trong các quan điểm duy vật chất phác thời cổ đại và duy vật siêu hình thời cận đại về vật chất Không có một dạng cụ thể cảm tính nào của vật chất hay một tập hợp nào đó các thuộc tính của vật chất lại có thể đồng nhất hoàn toàn với bản thân vật chất Vật chất với tính cách là phạm trù triết học là sản phẩm của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa nên không có các thuộc tính cụ thể như độ dài, ngắn, cao, thấp

mà chúng ta có thể cảm nhận trực tiếp bằng giác quan Như vậy, vật chất phải được hiểu là tất cả những gì tồn tại khách quan bên ngoài ý thức, bất kể

sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được,

Thứ tư, quan niệm vật chất của triết học Mác-Lenin cho phép xác định cái gì

là vật chất trong lĩnh vực xã hội Đây là điều mà các nhà duy vật trước

C.Mác cũng chưa đạt tới Nó giúp cho các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản

Trang 5

5

xuất; trên cơ sở đó, người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển

CÂU 3: Hãy phân tích nội dung cơ bản của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và nguyên lí về sựu phát triển? Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó và liên hệ thực tiễn của bản thân

1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến:

Nguyên lí này khẳng định mọi sự vật, hiện tượng luôn nằm trong những mối liên hệ đa dạng và phổ biến

-Mối liên hệ phổ biến: là mối liên hệ xảy ra một cách phổ biến ở tất cả mọi

sự vật, hiện tượng, ở mọi lĩnh vực của thế giới: tự nhiên, xã hội và tư duy con người

-Tính chất của mối liên hệ phổ biến

+Tính khách quan: phép biện chứng duy vật khẳng định tính khách quan của mọi mối liên hệ tác động trong thế giới Có mối liên hệ tác động giữa các sự vật, hiện tương vật chất với nhau Có mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng vật chất với các hiện tượng tinh thần Có mối liên hệ giữa những hiện tượng tinh thần với nhau Các mối liên hệ, tác động đó suy đến cùng, đều là sự quy định, tác động qua lại, chuyển hóa và phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng

+Tính phổ biến: phép biện chứng duy vật khẳng định tính phổ biến của mọi mối liên hệ Điều đó thể hiện ở chỗ, bất kì nơi đâu, trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy đều có vô vàn các mối liên hệ này

+Tính đa dạng, phong phú: phép biện chứng duy vật khẳng định tính đa dạng phong phú của các mối liên hệ Có mối liên hệ về mặt không gian và cũng có mối liên hệ về mặt thời gian của các sự vật hiện tượng Có mối liên hệ chung tâc động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới Có mối liên hệ riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật và hiện tượng cụ thể Có mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng nhưng cũng có những mối liên hệ gián tiếp Có mối liên hệ tất nhiên, cũng có mối liên hệ ngẫu nhiên Có mối liên hệ bản chất cũng có mối liên hệ không bản chất chỉ đóng vai trò phụ thuộc Có mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ

yếu…Chúng giữ những vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

Ý nghĩa phương pháp luận:

Trang 6

6

-Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến đã khái quát toàn cảnh thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó

-Do đó chỉ có thể giải thích được các sự vật, hiện tượng trong thế giới khi đặt chúng trong mối liên hệ phổ biến, trong sự tác động qua lại với nhau Nói cách khác, khi nghiên cứu một đối tượng cụ thể cần phải tuân thủ nguyên tắc toàn diện Nguyên tắc toàn diện có những yêu cầu đối với chủ thể hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn như sau:

+Thứ 1: khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể thống nhất trong tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó; “cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”, tức trong chỉnh thể thống nhất của “mói tổng hòa những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với sự vật khác”(V.I.Lênin)

+Thứ 2:chủ thể phải rút ra các mặt, các mới liên hệ tất yếu của đối tượng đó

và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi chỉ có như vậy, nhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ vs tác động qua lại của đối tượng +Thứ 3: Cần phải xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác vs với môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp; trong không gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tai và phán đoán cả tương lai của nó

+Thứ 4: Tránh rơi vào quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy mặt này mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất của đối tượng dễ rơi vào thuật ngụy biện(đánh tráo các mối liên hệ cơ bản thành không cơ bản hoặc ngược lại) và chủ nghĩa chiết trung (lắp ghép vô nguyên tắc các mối liên hệ trái ngược nhau vào một mối liên hệ phổ biến)

-Nguyên lí về sự phát triển:

+Nguyên lí này khẳng định mọi sự vật, hiện tượng luôn nằm trong quá trình vận động, biến đổi, phát triển không nhừng

Khái niệm phát triển: là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chất củ đến chất mới ở trình độ cao hơn Như vậy, phát triển là vận động nhưng không phải mọi vận động đều là phát triển,

mà chỉ vận động nào theo khuynh hướng đi lên thì mới là phát triển Vận

Trang 7

7

động diễn ra trong k gian và thời gian, nếu thoát ly chúng thì k thể có phát triển

+Quan điểm biện chứng coi sự phát triển là sự vận động đi lên, thông qua bước nhảy; sự vật hiện tượng củ mất đi, sự vật, hiện tượng mới ra đời thay thế; nguồn gốc bên trong của sự vận động, phát triển là đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng Các sự vật, hiện tượng của thế giới tồn tại trong sự vận động, phát triển và chuyển hóa k ngừng Cơ sở của sự vận động đó là sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và mâu thuẫn giữa các sự vật, hiện tượng trong mỗi sự vật, hiện tượng

+Đặc điểm chung của sự phát triển là tính tiến lên theo đường xoáy ốc, có kế thừa, có sự dường như lặp lại sự vật hiện tượng củ nhưng trên cơ sở cao hơn Quá trình đó diễn ra vừa dần dần vừa có những bước nhảy vọt…làm cho sự phát triển mang tính quanh co, phức tạp, có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự tiến lên

Tính chất của sự phát triển

+Tính khách quan thể hiện ở chỗ nguồn gốc của nó nằm bên trong chính bản thân sự vật, hiện tượng chứ k phải tác động từ bên ngoài và đặc biệt k phụ thuộc vào ý thích, ý muốn chủ quan của con người

+Tính phổ biến sự phát triển có mặt ở khắp mọi nơi trong khắp mọi lĩnh vực

tự nhiên, XH và tư duy

+Tính kế thừa: sự vật, hiện tượng mới ra đời từ sự vật, hiện tượng cũ xong k thể là sự phủ định tuyệt đối, phủ định sạch trơn, đoạn tuyệt 1 cách siêu hình đối vs sự vật, hiện tượng cũ Trong sự SV-HT mới còn giữ lại có chọn lọc và cải tạo các yếu tố còn tác dụng, còn thích hợp vs chúng trong khi vẫn gạt bỏ mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của SV-HT cũ

+Tính đa dạng, phong phú: mỗi sự vật, HT lại có quá trình phát triển k giống nhau Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển còn phụ thuộc vào k gian thời gian, vào các yếu điều kiện tác động lên sự phát triển đó

Ý nghĩa phương pháp luận:

-Nguyên lý về sự phát triển giúp nhận thức đc rằng, muốn nắm đc bản chất, nắm đc khuynh hướng phát triển của SV-HT thì phải tự giác tuân thủ nguyên tắc phát triển, tránh tư tưởng bảo thủ, trì trệ Cụ thể:

+Thứ 1: cần đặt đối tượng vào sự vận động, phát hiện xu hướng biến đổi của

nó để k chỉ nhận thức nó ở trạng thái hiện tại mà còn dự báo khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai

Trang 8

8

Thứ 2: cần nhận thức đc rằng: phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm hình thức, phương pháp tác động phù hợp để hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó

+Thứ 3: phải sớm phát hiện và ủng hộ cái mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho nó phát triển chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến

+Thứ 4: trong quá trình thay thế cái cũ bằng cái mới phải biết kế thừa các yếu tố tích cực từ cái cũ và phát triển, sáng tạo chúng trong điều kiện mới Câu 4: Hãy phân tích nội dung cặp phạm trù nguyên nhân-kết quả Từ đó hãy rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó và liên hệ vs thực tiễn của bản thân

Nguyên nhân là sự tương tác lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các SV-HT vs nhau gây ra sự biến đổi nhất định

Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong 1 SV-HT, hoặc giữa các SV-HT vs nhau

-Tính chất của mối liên hệ nhân quả

+Tính khách quan: tính khách quan của mối liên hệ nhân quả thể hiện ở chỗ mối liên hệ đó tồn tại trong bản thân các sự vật, nó diễn ra ngoài ý muốn của con người, k phụ thuộc vào việc người ta có nhận thức đc nó hay k

+Tính phổ biến: theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, tất cả mọi

SV-HT xuất hiện đều có nguyên nhân, k có hiện tượng nào k có nguyên nhân

cả, chỉ có điều là con người đã biết hoặc chia biết nguyên nhân đó mà thôi, các nguyên nhân này vẫn tồn tại 1 cách khách quan và sớm hay muộn con người sẽ phát hiện ra nó

+Tính tất yếu: tính tất yếu thể hiện ở chỗ, vs 1 nguyên nhân nhất định, trong

1 điều kiện nhất định sẽ cho ra đời 1 kết quả nhất định

-Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:

+Nguyên nhân sinh ra KQ, do vậy NN bao giờ cũng có trc KQ, còn KQ bao giờ cũng xuất hiện sau NN Như vậy, mối liên hệ nhân quả k đơn thuần là kế tiếp nhau về mặt thời gian Ngoài sự kế tiếp nhau về thời gian, mối quan hệ nhân quả còn là mối quan hệ sinh sản

+1 NN có thể sinh ra 1 hoặc nhiều KQ và 1 KQ có thể do 1 hoặc nhiều NN tạo nên Cùng 1 NN trong điều kiện hoàn cảnh khác nhau có thể gây nên

Trang 9

9

những KQ khác nhau 1 KQ có thể do 1 hoặc nhiều NN khác nhau tác động riêng lẻ hay tác động cùng 1 lúc

Trường hợp có sự tác động của nhiều NN đến sự hình thành KQ thì vị trí, vai trò của các NN có sự khác nhau: có NN trực tiếp, NN gián tiếp, NN bên trong, NN bên ngoài…

Trong sự vận động của thế giới, k có NN đầu tiên và KQ cuối cùng Giữa

NN và KQ có thể chuyển hóa cho nhau Điều đó có nghĩa là 1 SV-HT nào đó trong mối quan hệ này là NN, nhưng trong mối quan hệ khác là KQ và ngc lại Trong thế giới khách quan, chuỗi nhân quả là vô cùng, k có bắt đầu, k có kết thúc Vì vậy, muốn biết đâu là NN, đau là KQ chúng ta phải đặt nó trong

1 mối quan hệ xác định

+NN là cái sản sinh ra KQ, nhưng sau khi KQ xuất hiện nó k giữ vai trò thụ động đối vs NN mà có ảnh hưởng tác động trở lại NN sinh ra nó Sự tác động trở lại của KQ đối vs NN có thể diễn ra theo 2 hướng: hoặc là tác động tích cực thúc đẩy hoạt động của NN, hoặc là tác động tiêu cực làm cản trở hoạt động của NN

Ý nghĩa phương pháp luận:

-Vì mọi liên hệ nhân quả có tính khách quan, tất yếu nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải tìm NN của các HT trong thế giới hiện thực chứ k phải ở ngoài thế giới, có tính chất thần bí

-Vì NN nhân sinh ra KQ nên để giải quyết triệt để 1 vấn đề nào đó trong cuộc sống, cần phải tìm ra NN của nó và giải quyết từ NN đó

-Vì 1 KQ có thể đc tạo ra từ nhiều NN cho nên phải biết phân biệt chính xác từng loại NN để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp vs mỗi

trường hợp cụ thể

-Vì 1 NN có thể dẫn đến nhiều KQ, đồng thời, bản thâ KQ đó có thể trở thành NN của KQ khác cho nên, trong cuộc sống cần có sự xem xét, giải quyết 1 cách toàn diện, cụ thể, đặt biệt lường trc những KQ k mong muốn Câu 5: Hãy phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến

sự thay đổi về chất và ngc lại Từ đó, hãy rút ra ý nghĩa pp luận của nó và liên hệ vs thực tiễn của bản thân

+Khái niệm chất, lượng:

Chất dùng tính quy định khách quan, vốn có của SV-HT; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, làm cho SV nó là nó chứ k phải là cái khác

Trang 10

10

KN chất k đồng nhất vs KN thuộc tính Mỗi SV-HT có nhiều thuộc tính Tùy vào gốc độ khác nhau mà thuộc tính này hay thuộc tính khác nổi lên là đặt trưng về chất của SVP-HT Do đó, mỗi SV-HT có nhiều chất Mặt khác, mỗi SV-HT đều có những thuộc tính cơ bản và k cơ bản Khi những thuộc tính

cơ bản thay đổi thì chất của nó thay đổi nên chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp chất của SV-HT Tuy nhiên, việc phân biệt thuộc tính cơ bản và k cơ bản chỉ mang tính tương đối

Cũng cần lưu ý rằng, chất của SV-HT còn đc xác định bởi cấu trúc và

phương thức liên kết giữa các thuộc tính cấu thành của SV đó

Lượng dùng là tính quy định khách quan vốn có của SV về các phương diện:

số lương các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của quá trình vận động, phát triển của SV

1 SV có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, đc xác định = các phương thức khác nhau, phù hợp vs từng SV cụ thể SV càng ở trình độ cao thông số

về lượng càng phức tap Có những lượng có thể đo đếm = con số chính xác nhưng có những lượng chỉ can cảm nhận = pp trù tượng hóa

Sự phân biệt giữa chất và lượng cũng chỉ có ý nghĩa tương đối; có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng

+Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:

Bất kì SV-HT nào cũng là 1 thể thống nhất giữa 2 mặt chất và lượng Trong cùng SV-HT nếu k tồn tại tính quy định về chất thì k tồn tại tính quy định về lượng và ngc lại Sự thống nhất giữa 2 mặt chất và lượng diễn ra trong 1 khoảng giới hạn nhất định Khoảng giới hạn này đc gọi là độ KN độ dùng để chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa lm thay đổi căn bản chất của

SV-HT Trong giới hạn của độ, SV-HT vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa thành SV-HT khác

Khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn(độ) của nó, đến 1 giới hạn nhất định,

vs những điều kiện nhất định, thì sẽ tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất, lm cho chất cũ mất đi, chất mới ra đời Điểm nút là KN chỉ giới hạn mà tại đó,

sự thay đổi về lượng đã dẫn đến sự thay đổi chất

Sự thay đổi về lượng khi đạt đến điểm nút, vs những điều kiện nhất định, tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới Đây chính là bc nhảy trong quá trình vận động phát triển của SV KN bc nhảy dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất trong quá trình phát triển của SV-HT Sự chuyển hóa về chất diễn ra vs

Ngày đăng: 25/02/2023, 10:38

w