Vai trò của ý thức đối với vật chất: Trong mối quan hệ đối với vật chất, ý thức có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người..
Trang 1BẢN SOẠN THẢO ĐỀ CƯƠNG MAC 1
Câu 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và ý thức Ý nghĩa phương pháp luận
Định nghĩa vật chất của V.I lenin: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Vật chất tồn tại xung quanh con người như: cái cây, chiếc bàn hay một con người,
Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một
vị trí nhất định, có một quảng tính ( chiều cao, chiều rộng, chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương
quan với những dạng vật chất khác ( một cái cây là một dạng vật chất cụ thể nó tồn tại ở một vị trí nhất định, có kích thước nhất định và có các mối quan hệ với môi trường xung quanh thông qua quá trình trao đổi chất hô hấp, quang hợp) Mặt khác, sự tồn tại của vật chất thể hiện qua quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa, ( vào mùa đông cây trơ trụi lá các hoạt động hô hấp, quang hợp diễn ra chậm hơn vào mùa xuân).
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan
của thế giới khách quan ( ví dụ: khi một du khách nhìn thấy một cô gái Việt Nam trong tà áo dài thướt tha, duyên dáng, hình ảnh cô gái Việt Nam với tà áo dài đó được phản ánh khách quan vào bộ não của du khách, còn việc cảm nhận được cô gái Việt ấy thướt tha, duyên dáng trong tà áo dài là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan trong ý thức của khách du lịch) Nguồn gốc của ý thức bao gồm nguồn gốc xã hội và guồn gốc tự
nhiên
Bản chất của ý thức: Ý thức có tính năng động sáng tạo, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan,
ý thức là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức: Triết học mác- Lenin cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song, ý thức không tồn tại độc lập mà có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Vai trò của vật chất đối với ý thức:
Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức, vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh đối với vật chất
Vật chất là tiền đề, nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức
Vật chất quyết định nội dung của ý thức, nội dung của ý thức là sự phản ánh đối với vật chất
Vật chất phản ánh sự biến đổi của ý thức, sự biến đổi của ý thức phản ánh sự biến đổi của vật chất
Vật chất quyết định khả năng sáng tạo của ý thức
Vật chất là nhân tố quyết định phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức trong hoạt động thực tiễn Là điều kiện để biến ý thức thành hiện thực
Vai trò của ý thức đối với vật chất:
Trong mối quan hệ đối với vật chất, ý thức có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Ví dụ: Khi con người nguyên thủy ý thức được sự tồn tại của lửa nhờ sét đánh vào cây hay do sự cọ xát của hai viên đá cuội vào nhau, họ đã tìm cách tạo ra nguồn lửa, duy trì nguồn lửa đó để sưởi ấm, nấu chín thức ăn, cải thiện đời sống sinh hoạt Đó là tiền đề của sự phát triển của xã hội loài người sau này.
Trang 2Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai chiều hướng:
+ Tích cực: Nếu con người nhận thức đúng đắn, có tri thức khoa học, nghị lực, ý chí hành động thì ý thức
có thể trở thành động lực phát triển của vật chất
+ Tiêu cực: Ý thức có thể là lực cản phá sự vận động và phát triển của vật chất khi ý thức phản ánh sai, phản ánh xuyên tạc các quy luật vận động khách quan của vật chất
Từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức chúng ta rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người; vì vậy con người cần phải tôn trọng tính khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Ý thức có vai trò rất quan trọng vì vậy cần phát huy tính năng động, đề cao vai trò năng động sáng tạo của con người, vai trò của tri thức khoa học, của ý chí, niềm tin, chống bảo thủ, trì trệ
Đảng ta đã chỉ rõ: Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan
Đối với hoạt động thực tiễn của bản thân:
-Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức trong quá trình học tập, công tác
- Chống bệnh chủ quan duy ý chí, chủ nghĩa kinh nghiệm, có thái độ tích cực trong quá trình học tập, công tác
Câu 2: Trình bày nguyên lí về mối liện hệ phổ biến và nêu ý nghĩa phương pháp luận:
Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lí quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng Nó thể hiện nội dung cơ bản: Các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy luôn có mối liên hệ với nhau, không tồn tại riêng lẻ như quan điểm của chủ nghĩa siêu hình
Trong phép biện chứng khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới; còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, các mối quan hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng Đó là các mối liên hệ giữa các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng,
Ví dụ: Mối liên hệ giữa điện tích dương và điện tích âm trong nguyên tử; mối liên hệ giữa các nguyên tử, phân tử, vật thể; mối liên hệ giữa vô cơ với hữu cơ; giữa sinh vật với môi trường; giữa xã hội với tự nhiên; giữa cá nhân với các nhân, tập thể, cộng đồng, giữa các quốc gia, dân tộc; giữa các mặt, các bộ phận của đời sống xã hội; giữa tư duy với tồn tại; giữa các hình thức, giai đoạn nhận thức; giữa các hính thái xã hội,
Tính chất của mối liên hệ phổ biến: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bản của mối liên hệ
Tính khách quan: các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan là có tính khách quan, sự quy định lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng ( hoặc trong chính bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người
Tính phổ biến: mối liên hệ có ở mọi sự vật, hiện tượng, mọi quá trình, mọi lĩnh vực
Trang 3 Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình, giai đoạn khác nhau đều
có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó
Phân loại các mối liên hệ: có các mối liên hệ (MLH) như: MLH bên trong và MLH bên ngoài; MLH bản
chất và MLH không bản chất; MLH tất yếu và MLH ngẫu nhiên…
Ý nghĩa phương pháp luận:
Từ tính khách quan và phổ biến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải có quan điểm toàn diện
Ví dụ: khi tiếp xúc với một người chúng ta không thể dựa trên vẻ ngoài ăn mặc quê mùa, giọng địa phương, dân tộc thiểu số, để đánh giá về khả năng kinh tế của họ hay trình độ học vấn của họ Mà phải qua quá trình tương tác, tìm hiểu lâu dài trên nhiều mặt của đời sống con người như cung cách ăn nói, giao tiếp, cách chi tiêu, để đánh giá chính xác về người đó.
Ví dụ: Du lịch là một hoạt động kinh doanh mang tính liên ngành, vì vậy khi xem xét thiết kế một tour đến một địa phương nhất định ta không thể chỉ chú ý vào những danh lam thắng cảnh của địa phương đó mà còn phải xem xét các mặt thuận lợi khác như: trình độ phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, hệ thống nhà hàng, khách sạn, các đặc trưng văn hóa, sản phẩm có thể khai thác du lịch,
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn ta cũng cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể Quan điểm lịch sử
cụ thể đòi hỏi phải xác định các mối liên hệ trong từng tình huống để giải quyết vấn đề, đồng thời khắc phục để tránh quan điểm siêu hình, phiến diện, ngụy biện
Ví dụ: Khi đánh giá về mô hình hợp tác xã ở miền Bắc những năm 1960-1970 nếu ta không đặt nó vào trong hoàn cảnh lịch sử miền Bắc đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, không đặt nó trong điều kiện chúng ta còn thiếu kinh nghiệm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn bị ảnh hưởng bởi mô hình của hàng loạt các nước CNXH đi trước đó, thì một là ta sẽ không thấy được các giá trị tích cực mà mô hình hợp tác xã trong điều kiện đó mang lại, hai là, sẽ hiểu rõ những nguyên nhân bên trong và bên ngoài khiến chúng ta duy trì mô hình như vậy trong thời gian lâu dài khi tình hình đất nước đã thay đổi (có thể ko ghi ví dụ này cũng được vì dài quá khó nhớ haizzz)
Câu 3: Trình bày nội dung nguyên lí về sự phát triển và ý nghĩa phương pháp luận?
Phép biện chứng duy vật quan niệm: Phát triển chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo chiều
hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Tất cả những sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có xu hướng chung là luôn luôn vận động và phát triển Song, khái niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm “vận động”( nói chung), sự phát triển là kết quả của quá trình biến đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình này diễn ra theo đường xoắn ốc Quá trình phát triển như một sự lặp lại cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn
Ví dụ: quá trình thay thế lẫn nhau của các thế hệ trang thiết bị kỹ thuật khoa học theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn,
Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú:
- Tính khách quan: sự phát triển mang tính khách quan bởi vì nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong
Trang 4bản thân sự vật Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn trong bản chất sự vật, hiện tượng đó Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người
Ví dụ: Quá trình phát sinh một giống loài mới hoàn toàn diễn ra một cách khách quan theo quy luật tiến hoá của giới tự nhiên Con người muốn sáng tạo một giống loài mới thì cũng phải nhận thức và làm theo quy luật đó.
- Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trính diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và
tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và mọi quá trình, mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng đó
Ví dụ: Đối với tự nhiên: sự phát triển thể hiện ở khả năng thích nghi của cơ thể, khả năng tiến hóa của cơ thể, khả năng hoàn thiện quá trình trao đổi vật chất giữa cơ thể với môi trường Từ vô sinh đến hữu sinh.
+ Đối với xã hội: sự phát triển thể hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt của con người giải phóng con người và tạo điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàn diện, hoàn thiện nhân cách của bản thân
+ Đối với tư duy: Sự phát triển thể hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn đối với hiện thực
- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển thể hiện ở chỗ:mỗi sự vật, hiện tượng có giai đoạn, quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau ( về ko gian, thời gian, hoàn cảnh, điều kiện…)
Nội dung nguyên lý:
Sự phát triển là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Triết học Mác xít khẳng định phát triển là khuynh hướng chung của sự vận động của mọi sự vật và hiện tượng
Con đường của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuân nghịch đầy mâu thuẫn, tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; cái mới ra đời thay thế cái cũ, hết mỗi chu kì, sự vật lặp lại dường như cái ban đầu nhưng ở mức độ cao hơn
Ví dụ: sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là khuynh hướng chung của các giai đoạn lịch sử của con người Nhưng sự phát triển ấy trải qua quá trình phức tạp, không đơn thuần mà đầy rẫy sự quanh co và sự phát triển ấy có nguồn gốc do bản thân mâu thuẫn xã hội: mâu thuẫn giai cấp, giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
Ý nghĩa phương pháp luận:
Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì truệ, định kiến, đối lập với sự phát triển Phải luôn đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên
Mặc khác, con đường của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch lí, mâu thuẫn Vì vậy, đòi hỏi nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá tình phát triển của nó, tức là phải có quan điểm lịch sử- cụ thể trong nhận thức và giải quyết các vấn đề của thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú, đa dạng, phức tạp của nó
Ví dụ: Nếu chúng ta tuyệt đối hóa nhận thức nhất là nhận thức khoa học, cho điều đó luôn là chân lí thì các hoạt động khoa học tự nhiên, xã hôi, nhân văn sẽ không phát triển và sẽ dậm chân tại chỗ.
Câu 4:Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai thành phần cấu thành phương thức sản xuất, vậy nên muốn tìm hiểu Mqh về LLSX và QHSX ta phải tìm hiểu về phương thức sản xuất Vậy khái niệm phương thức sản xuất
Trang 5dùng để chỉ những cách thức mà con người sử dụng để tiến hành quá trình sản xuất của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất chúng tồn tại không tách rời nhau hình thành nên quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là tổng hợp các yếu tố tinh thần và vật chất tạo thành sức mạnh thực tiễn cải biến thế giới
tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người LLSX bao gồm: các yếu tố thuộc về người lao động như năng lực, kỹ năng, tri thức, tư liệu sản xuất nhất định bao gồm tư liệu lao động ( công cụ lao động, phương tiện lao động) và đối tượng lao động ( có sẵn trong tự nhiên hoặc đã qua chế biến), trong đó yếu tố người lao động đóng vai trò quyết định vì giá trị và hiệu quả sử dụng của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ sử dụng và sáng tạo của người lao động Các yếu tố trọng LLSX không tách rời nhau chúng có quan hệ biện chứng lẫn nhau
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, là mặt xã hội của phương thức sản xuất Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lí phân công lao động, quan hệ phân phối sản phẩm lao động Ba mặt này có mối quan hệ khăng khít nhau trong đó QHSH về TLSX là mặt quyết định các quan hệ khác Hay nói cách khác ai có tư liệu sản xuất thì nắm được việc phân phối sản phẩm và tổ chức quản lí phân công lao động
Ví dụ: quan hệ giữa giai cấp tư sản( chủ xí nghiệp, hầm mỏ) với giai cấp vô sản (công nhân) trong xã hội tư bản.
Ví dụ: trong quá trình khai thác mỏ than, nếu không có sự phối hợp giữa các công nhân, những người công nhân không nghe thwo lời người quản lí, tức là không tồn tại mối quan hệ giữa người với người thì tập thể đó không thể khai thác hiệu quả được.
Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX:
LLSX và QHSX là hai mặt của phương thức sản xuất, sự tác động lẫn nhau giữa LLSX và QHSX biểu hiện mối quan hệ mang tính biện chứng trong đó LLSX quyết định QHSX và QHSX tác động trở lại LLSX LLSX đóng vai trò là nội dung vật chất còn QHSX đóng vai trò là hình thức xã hội của quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong sự quy định lẫn nhau và thống nhất với nhau
Tương ứng với một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có một QHSX phù hợp với nó trên cả ba phương diện: Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lí phân công lao động, quan hệ trong phân phối sản phẩm của quá trình sản xuất
QHSX luôn có tính độc lập tương đối và có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển của LLSX: có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự phát triển của LLSX
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX thì trở thành động cơ mở đường, thúc đẩy cho LLSX phát triển, ngược lại QHSX lỗi thời không còn phù hợp tính chất và trình độ phát triển của LLSX thì bộc lộ mâu thuẫn gay gắt trở thành bộ phận kìm hãm sự phát triển của LLSX Song tác dụng kìm hãm chỉ có tính tạm thời vì cuối cùng nó cũng sẽ bị thay thế bằng một QHSX mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX
Sự chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn của LLSX và QHSX:
LLSX thường phát triển nhanh chóng trong khi QHSX thường có xu hướng ổn định, khi LLSX đã phát triển tới một trình độ nhất định mà QHSX không còn phù hợp với nó nữa thì tạo thành chướng ngại cho sự phát triển của nó, lúc đó sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa hai mặt của phương thức sản xuất Sự phát triển tất yếu đó dẫn đến việc xóa bỏ QHSX cũ và thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ thay nó bằng một QHSX mới cũng có nghĩa là diệt vong cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới
Trang 6Ví dụ: sự chuyển biến từ hình thái kinh tế TBCN sang XHCN: dưới chế độ tự do tư bản chủ nghĩa với sự giúp đỡ của thiết bị máy móc năng suất lao động tăng vọt, xã hội tập trung phát triển nền công nghiệp, các thành phần xã hội tham gia vào sản xuất ngày càng đông đảo Người lao động ngày càng chuyên môn trong công việc cũng như có những nhận thức cao hơn về vai trò vị trí của mình trong nên sản xuất TBCN Tuy nhiên, QHSX lỗi thời, sự bóc lột giai cấp tư sản ngày càng cao và nặng nề, kìm hãm sự phát triển của LLSX đương thời Mâu thuẫn này đòi hỏi cần xóa bỏ QHSX cũ này và thay thế bằng một QHSX mới phù hợp với trình độ phát triển của giai cấp công nhân đương thời điều này đã tạo ra nguồn gốc cho cuộc CMXHCN đưa giai cấp công nhân trở thành lực lượng lãnh đạo, nắm giữ tư liệu sản xuất, mở đường cho LLSX phát triển (có thể ko ghi cũng được vì dài quá khó nhớ haizzz Thay vào đó bạn vận dụng vào sự đổi mới của nước ta năm 1986)
Câu 5: Thực tiễn là gì? Vai trò của thực tiễn đỗi với nhận thức? (học trong vở có vẻ ngắn hơn, nhưng do mình ko mang vở về quê nên khum soạn lại được í)
Học thuyết về khả năng nhận thức của con người đối với thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn là nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vậy Vậy thực tiễn là gì, thực tiễn đóng vai trò như thế nào đối với
nhận thức?
Thực tiễn và các hình thức của thực tiễn:
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
Ví dụ: Hoạt động canh tác nông nghiệp nhằm mục đích sử dụng tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn lương thực cung cấp cho con người.
Khác với hoạt động khác, hoạt động thực tiễn là loại hoạt động mà con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất nhất định làm biến đổi chúng theo mục đích của con người Đó là những hoạt động đặc trưng và bản chất của con người NÓ được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngững phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử Chính vì vậy, hoạt động thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất mang tính chất sáng tạo và có tính mục đích, tính lịch sử - xã hội
Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, 3 hình thức cơ bản mà thực tiễn
biểu hiện là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học Trong đó:
- Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động của con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự
nhiên để tạo ra của cải vật chất nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội ( ví dụ: về nông nghiệp như trên).
- Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động nhằm cải biến các quan hệ chính trị xã hội thúc đẩy xã hội phát triển ( ví dụ: hoạt động quản lí xã hội bằng quyền lực nhà nước)
- Hoạt động thực nghiệm khoa học là hoạt động nghiên cứu có vai trò quan trọng trong sự phát triển của
xã hội ( ví dụ: nghiên cứu giống cây trồng vật nuôi, hoạt động thí nghiệm về sự hình thành nhân thực, nguyệt thực.)
Mỗi hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế cho nhau, song chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Trong mối quan hệ đó, hoạt động sản xuất vật chất là loại hoạt động có vai trò quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định với các hoạt động khác vì đó là nền tảng của hoạt động thực tiễn và nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội
Trang 7
Nhận thức và các trình độ nhận thức:
Nhân thức là một quá trình phản ánh tích cực tự giác, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan đó Đó là quan điểm duy vật biện chứng về nhận thức Quan điểm này xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, thừa nhận thế giới khách qua độc lập với ý thức con người
Hai là, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan; coi nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể
Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cự, tự giác và sáng tạo Quá trình phản ánh đó diễn ra theo tình tự từ chưa biết đễn biết, từ biết ít đến nhiều, từ sâu sắc, chưa toàn diện đến sâu sắc, toàn diện hơn,
Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức; là động lực, mục đích của nhận thức
và là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý
Phân loại nhận thức: (có thể bỏ phần này, thay vào đó ghi như này: “ phân loại nhận thức: có các nhận
thức như nhận thức nhận thức kinh nghiệm; nhận thức lí luận; nhận thức khoa học…)
Nhận thức kinh nghiệm: Là trình độ nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức
kinh nghiệm ( Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối).
Nhận thức lý luận: Là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tượng và khái quát về bản chất và quy luật của các
sự vật hiện tượng ( nhận thức về hiện tượng nguyệt thực là do mặt trời, mặt trăng, trái đất thẳng hàng) Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng Nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận Nó cung cấp những tư liệu phong phú cụ thể giúp cho nhận thức lý luận vạch ra bản chất của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên nhận thức kinh nghiệm còn hạn chế ở chỗ nó chỉ dừng lại ở sự mô tả chưa phản ánh được bản chất sự vật Và ngược lại, nhận thức lí luận cần có
những tư liệu kinh nghiệm mới có thể khái quát thành lí luận ( Ví dụ: Khám chữa bệnh cho bệnh nhận, các bác
sĩ phải dựa vào những dấu hiệu bệnh để chuẩn đoán bệnh, việc chuẩn đoán bệnh này là do kinh nghiệm thu lượm được qua quá trình học hỏi và quan sát thực tế).
Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành những tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn những kinh nghiệm hợp lí để phục vụ cho hoạt động thực tiễn
Nhận thức thông thường: Là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt
động hàng ngày của con người Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn liền với
những quan niệm sống thực tế hàng ngày ( Trời mưa có sấm sét thì không nên trú dưới gốc cây to do có nhiều người bị sét đánh dưới gốc cây).
Nhận thức khoa học: Là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm, bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu Nhận thức khao học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát, lại vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực Vì thế, nhận thức khoa học có
vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học và công nghệ hiện đại ( ví
dụ nhận thức được bản chất của hiện tượng sấm sét mà chế tạo ra cột thu lôi).
Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẻ với nhau Trong mối quan hệ đó, nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung của nhận thức khoa học Ngược lại, khi đạt tới trình độ khoa học, nó lại có tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập vào nhận thức thông thường làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình con người nhận thức thế giới
Trang 8
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra chân lý của quá trình nhận thức
Sở dĩ như vậy là vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức; nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức, khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức Chính con người có nhu cầu tất yếu khách quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới nên con người tất yếu phải tác động vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình Chính những tác động đó làm cho sự vật bộc lộc những thuộc tính, những mối quan hệ giữa chúng, giúp con người có cơ sở để nhận ra được bản chất, các quy luật vận động và phát triển của thế giới
Ví dụ: Chẳng hạn, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của con người cần phải đo đạc diện tích và đong lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính toán thời gian và sự chế tạo cơ khí mà toán học đã ra đời và phát triển Hoặc sự xuất hiện học thuyết Macxit ở những năm 40 của thế kỉ XIX cũng bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn của các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản lúc bấy giờ.
Thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức còn là vì nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy logic không ngừng được củng cố và phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới
Thực tiễn chẳng những là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức mà còn đóng vai trò là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra chân lý của quá trình nhận thức Điều này có nghĩa thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức Đồng thời, thực tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển
và hoàn thiện nhận thức
Ví dụ: các tri thức khoa học sau khi được hình thành được đem vào thực tiễn để kiểm tra tính đúng đắn Con người sử dụng chuột bạch để thử các loại thuốc mới sản xuất hay các công trình nghiên cứu y học.
Chung quy lại, thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình
Ý nghĩa phương pháp luận:
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải đi đôi với hành Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, của giáo điều, máy móc, quan liêu Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa Như vậy, nguyên tắc thông nhất giữa lý luận và thực tiễn phải là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thực
tiễn và hoạt động lý luận “Lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông Thực tiễn mà không có lý luận là thực tiễn mù quán” ( chủ tịch Hồ Chí Minh).
Câu 6: Trình bày khái niệm con người và bản chất con người:
Con người là một thực thể thống nhất giữa hai mặt: mặt sinh học (mặt tự nhiên) và mặt xã hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người chính là giới tự nhiên
Vì vậy, bản tính tự nhiên là một trong những phương diện cơ bản của loài người, con người
Trang 9Bản tính tự nhiên của con người được phân tích từ hai góc độ: Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên ( được chứng minh bằng học thuyết tiến hóa Dacuyn) Thứ hai, con người là
bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên cũng là “thân thể vô cơ của con người” Chính vì vậy mà Karl Marx đã nhấn mạnh con người là một thực thể sinh vật dù phát triển đến đâu con người cũng không thể
thoát li những thuộc tính vốn có của sinh vật, vì lẽ đó con người vẫn chịu sự chi phối của giới tự nhiên (con người vẫn có nhu cầu sinh lí giống như con vật, vẫn tuân theo quy luật biến đổi của giới tự nhiên như đồng hóa, dị hóa, sinh, lão, bệnh, tử, ) Ngược lại, sự biến đổi và hoạt động của con người, loài người luôn luôn tác động trở lại môi trường tự nhiên làm biến đổi môi trường đó (Ví dụ: Con người là bộ phận của giới tự nhiên nên như mọi động vật khác con người có đầy đủ những đặc điểm mà tự nhiên ban tặng.Con người sống dựa vào tự nhiên, tác động vào nó, làm biến đổi nó để tìm kiếm thức ăn, nước uống, đấu tranh để sinh tồn và duy trì nòi giống).
Bản tính xã hội của con người cũng được phân tích từ hai góc độ: Thứ nhất, con người mang bản tính xã hội thông qua quá trình lao động
Ví dụ: nhờ lao động, kết cấu bộ não con người trở nên phức tạp hơn, con người có dáng đứng thẳng và bàn tay cầm nắm khéo léo như ngày hôm nay, nhờ lao động ngôn ngữ mới xuất hiện để đáp ứng nhu cầu trao đổi tư tưởng, kinh nghiệm của con người và trở thành phương tiện hữu hiệu để con người thiết lập, phát triển các mối quan hệ xã hội Chỉ có con người mới sáng tạo ra được những loại máy móc có năng suất lao động cao, công nghệ cao,…
Thứ hai, chính quá trình lao động đã giúp con người thoát khỏi động vật và tiến hóa, phát triển thành người
Con người tồn tại và phát triển luôn chịu sự chi phối bởi các nhân tố xã hội và những quy luật xã hội
Ví dụ: con người trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội khác với con vật ở chỗ, con người cũng có nhu cầu
ăn uống nhưng con người chịu sự chi phối bởi những quy phạm ràng buộc “ăn trông nồi ngồi trông hướng”.
Bản chất của con người:
Con người sinh ra ở xã hội nào sẽ mang bản chất của xã hội đó Karl Marx khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Con người mang bản chất xã hội, con người sinh ra ở xã hội nào sẽ mang bản chất của xã hội đó “Là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”: con người vừa là chủ thể của lịch sử vừa là sản phẩm của lịch sử, không có giới tự nhiên thì không có lịch sử xã hội và con người Vì vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài Tuy nhiên, con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử mà còn là chủ thể của lịch sử Nghĩa là con người vận dụng những quy luật tự nhiên, cải tạo tự nhiên tạo ra lịch sử Đặc biệt, con người không thể hoàn toàn làm chủ tự nhiên nhưng con người biến đổi tự nhiên thông qua quá trình nhận thức của chính mình
Trong mối quan hệ xã hội con người sẽ biểu hiện khác nhau, con người không thể làm ra lịch sử theo ý muốn của mình mà làm nên lịch sử theo những điều kiện có sẵn trong quá khứ Với những điều kiện ấy, mỗi thế hệ tiếp tục những hoạt động cũ của thế hệ trước trong những hoàn cảnh mới và tiếp tục những hoạt động mới để biến đổi những hoạt động cũ
Ví dụ: tư tưởng “trọng nam khinh nữ” bị ảnh hưởng từ thế hệ trước vẫn còn tồn tại ở thời điểm hiện tại nhưng cũng dần mất đi, nhòa đi trong xã hội hiện đại
Do mỗi quan hệ xã hội quyết định ( kinh tế, chính trị, xã hội,…)
Ý nghĩa phương pháp luận:
Con người là sự thống nhất giữa bản chất tự nhiên và bản chất xã hội Trong đó bản chất xã hội giữ vai trò quyết định - đề cao vai trò của con người trong hoạt đông thực tiễn
Trang 10Sự nghiệp giải phóng con người nhằm phát huy khả năng sáng tạo lịch sử của con người là phải hướng vào sự nghiệp giải phóng những quan hệ kinh tế_ xã hội
Câu 7: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản của đời sống xã hội – đó là phương diện kinh tế và phương diện chính trị - xã hội Chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, để hiểu được đầy đủ mối quan hệ này trước hết ta cần tìm hiểu khái niệm của CSHT và KTTT
Khái niệm:
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm: Quan hệ sản xuất thống trị (QHSXTT) trong nền kinh tế, quan
hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mới tồn tại dưới dạng mầm mống, tiền đề Trong đó, QHSXTT đóng vai trò nền tảng chủ đạo, đặc trưng và chi phối 1 CSHT nhất định
Ví dụ: Trong xã hội phong kiến ngoài quan hệ sản xuất phong kiến chiếm vị thế thống trị, nó còn có quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội chiếm hữu nô lệ, mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và chính 3 yếu
tố đó cấu thành nên cơ sở hạ tầng phong kiến.
Đặc trưng cho tính chất của một cơ sở hạ tầng là do quan hệ sản xuất thống trị quy định Quan hệ sản xuất thống trị qui định và tác động trực tiếp đến xu hướng chung của toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Qui định tính chất cơ bản của toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội đương thời
Kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái xã hội cùng với các thiết chế chính trị xã hội tương ứng được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
Ví dụ: hệ thống pháp luật, giáo điều, các tổ chức chính trị, xã hội,
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những hình thái ý thức xã hội: chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học, tôn giáo, nghệ thuật, với những thể chế tương ứng: nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể,
Mối quan hệ biên chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
Chủ nghĩa Mac-Lenin khẳng định : Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có quan hệ biện chứng không tách rời nhau, trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng Còn kiến trúc thượng tầng là phản ánh cơ sở hạ tầng, nhưng nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó
Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát triển của cơ sở hạ tầng đóng vai trò với kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng nào thì kiến trúc thượng tầng ấy, quan hệ sản xuất nào thống trị cũng tạo ra kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng như vậy
Ví dụ: trong xh cộng sản nguyên thủy phù hợp với chế độ kinh tế tập thể của công xã là tư tưởng tập quyền nguyên thủy => giai cấp nào chiếm địa vị thống trị kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về chính trị
Cơ sở hạ tầng quyết định KTTT về tính chất, nội dung và kết cấu: Tính chất của KTTT đối kháng hay không đối kháng, nội dung của KTTT nghèo nàn hay đa dạng, phong phú và hình thức của KTTT gọn nhẹ hay phức tạp do CSHT quyết định Tính chất mâu thuẫn trong CSHT được thể hiện trong KTTT
CSHT cũ mất đi, CSHT mới ra đời sớm hay muộn KTTT cũ mất đi và KTTT mới ra đời
Tuy vậy, những quan hệ tinh thần, tư tưởng của xã hội đó là kiến trúc thượng tầng, cũng không hoàn toàn thụ động, nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với CSHT sinh ra nó
Ý nghĩa phương pháp luận