TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NHÓM 3 NGUYỄN THỊ VÂN 18061226 NGUYỄN THỊ THANH LOAN 18061249 MỤC LỤC A Thỏa thuận lựa chọn Tòa án 3 1 Điều kiện có hiệu lực 3 2 Hậu quả pháp lý 4 B Thỏa thuận[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NHÓM 3 NGUYỄN THỊ VÂN-18061226 NGUYỄN THỊ THANH LOAN-18061249
Trang 2MỤC LỤC
A Thỏa thuận lựa chọn Tòa án 3
1 Điều kiện có hiệu lực 3
2 Hậu quả pháp lý 4
B Thỏa thuận lựa chọn Trọng tài VIAC 5
1 Các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài 5
1.1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại 5
1.2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại 7
1.3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài 7
2 Các bên có thỏa thuận trọng tài 8
3 Các thỏa thuận trọng tài không thuộc các trường hợp vô hiệu 10
4 Các thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp không thể thực hiện được 10
C Xung đột 11
Trang 3ĐỀ BÀI: Trong HĐ quy định: Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến HĐ này sẽ được giải quyết trước tòa án Việt Nam hoặc trọng tài VIAC theo quy tắc tố tụng của Trung tâm này
A Thỏa thuận lựa chọn Tòa án
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của Tòa án Việt Nam chủ yếu được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) và một số luật chuyên ngành khác như Bộ luật dân sự, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư…
BLTTDS 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trên hai
phương diện: thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt Tuy nhiên quy định
về quyền lựa chọn giải quyết tranh chấp vẫn tồn tại trong các luật chuyên ngành Trong BLTTDS 2015 không có quy định rõ ràng nào cho phép các bên lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp Tuy nhiên quy định về quyền lựa chọn giải quyết tranh chấp vẫn tồn tại trong các luật chuyên ngành
1 Điều kiện có hiệu lực.
*Xem xét thoả thuận lựa chọn Toà án có hiệu lực hay không nếu đó là các
lĩnh vực mà các bên không được quyền lực chọn Toà án thì không cần phải xem xét các trường hợp khác.(Ví dụ:) Nếu các bên có quyền lựa chọn toà án chúng ta phải kiểm tra điều kiện hiệu có lực của Toà án đó Các luật chuyên ngành của Việt Nam hiện nay mới chỉ quy định cho các bên có quyền lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp chứ chưa hề có quy định về điều kiện có hiệu lực Vì các luật chuyên ngành không có quy định nên chúng ta phải dựa vào các quy định của luật chung
Trang 4Thoả thuận lựa chọn toà án vốn là thoả thuận giao dịch dân sự vì vậy nó sẽ tuân theo điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định trong Bộ luật dân
sự 2015 Bên cạnh nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thoả thuận của các bên trong giao dịch dân sự thì pháp luật cũng đặt ra một số những yêu cầu tối thiểu buộc các chủ thể phải tuân thủ theo - đó là các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Từ điều 117 có thể rút ra điều kiện có hiệu lực cho thoả thuận lựa chọn Toà
án giải quyết tranh chấp
Thứ nhất, Chủ thể tham gia giao dịch có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
Thứ hai, Chủ thể tham gia hoàn toàn tự nguyện;
Thứ ba, Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Thứ tư, Hình thức của giao dịch phù hợp với quy định của luật
*Phạm vi giải quyết của Toà án khi được lựa chọn giải quyết tranh chấp: Nếu như trong hợp đồng quy định “ Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết trước Toà án Việt Nam” Với điều khoản quy định như vậy thì Toà án Việt Nam được trao quyền xét xử rất là rộng Toà án sẽ xét xử mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đó Ngoài ra có những trường hợp trong hợp đồng chỉ quy định Toà án giải quyết một số tranh chấp nhất định thì phạm vi của Toà án Việt Nam sẽ bị thu hẹp lại chỉ được giải quyết tranh chấp đã được định trọng hợp đồng
2 Hậu quả pháp lý.
Điều 470 Khoản 1 Điểm c BLTTDS quy định: Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
Trang 5Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam
Trong giao dịch dân sự, thương mại quốc tế có hai loại thoả thuận lựa chọn toà án: Thỏa thuận lựa chọn toà án độc quyền là lựa chọn sẽ làm phát sinh thẩm quyền độc quyền cho cơ quan toà án được lựa chọn, các toà án khác phải có nghĩa vụ từ chối thẩm quyền, trừ trường hợp thoả thuận không hợp pháp Thỏa thuận lựa chọn toà án không độc quyền là thoả thuận sẽ làm phát sinh thẩm quyền cho cơ quan toà án được lựa chọn, nhưng không cản trở các toà án khác thực hiện thẩm quyền
B Thỏa thuận lựa chọn Trọng tài VIAC
Luật TTTM 2010 quy định trọng tài có quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên nếu tranh chấp phát sinh thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài và các bên có thỏa thuận trọng tài đồng thời thỏa thuận trọng tài đó không thuộc các trường hợp vô hiệu hoặc không thể thực hiện được, cụ thể như sau:
1 Các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài
1.1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 , “hoạt động thương mại” là khái niệm dùng để chỉ chung những hoạt động có thể sinh lợi, tạo
ra lợi nhuận, được thể hiện dưới các hình thức như mua bán, trao đổi hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến đầu tư thương mại và các hoạt động khác nhằm tạo ra lợi nhuận Trong đó:
Trang 6- Mua bán hàng hoá”, theo khoản 8 Điều 3 Luật thương mại năm 2005, được hiểu là hoạt động trao đổi các loại hàng hoá, gồm các loại động sản, và những vật gắn liền với đất đai (khoản 2 Điều 3 Luật này); trong đó bên bán sẽ có trách nhiệm giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán theo sự thoả thuận của hai bên; còn bên mua hàng hoá sẽ được nhận và sở hữu hàng hoá đã mua nhưng phải có trách nhiệm thanh toán cho bên bán giá trị hàng hoá đã mua theo sự thoả thuận trước đó của hai bên
- Còn “cung ứng dịch vụ” là hoạt động thương mại mà trong đó, một bên (còn gọi là bên cung ứng) có hoạt động cung cấp các dịch vụ sẽ thực hiện dịch vụ cho một bên khác theo yêu cầu và nhận thanh toán đối với hoạt động này; còn bên sử dụng dịch vụ (hay còn gọi khách hàng – người có nhu cầu sử dụng dịch vụ) sẽ được thực hiện việc trải nghiệm, sử dụng dịch vụ do bên cung ứng dịch vụ cung cấp và sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền cho bên cung ứng dịch vụ (Khoản 9 Điều 3 Luật thương mại năm 2005)
- Xúc tiến thương mại, hiểu là các hoạt động có tính chất thúc đẩy, tìm kiếm các
cơ hội để có thể giao thương, trao đổi, buôn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, thực hiện các giao dịch thương mại mà hoạt động xúc tiến thương mại thường được thể hiện như các hình thức khuyến mại, quảng cáp, tổ chức triển lãm, hôị chợ…
=> Như vậy trọng tài thương mại sẽ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các bên tranh chấp là các thương nhân khi ký kết các hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng cung ứng dịch vụ để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung ứng có thể vi phạm quyền, nghĩa vụ và phát sinh tranh chấp với nhau
Trang 71.2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại
Trước đây trong các Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 và Nghị định
số 25/2004/NĐ-CP thì chỉ quy định thẩm quyền của trọng tài giải quyết tranh chấp giữa các bên là cá nhân kinh doanh, tổ chức kinh doanh1 Theo quy định này, nhiều tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại nhưng chỉ có một bên là thương nhân hay tranh chấp phát sinh từ quan hệ đầu tư góp vốn của các tổ chức,
cá nhân không có đăng ký kinh doanh sẽ không thuộc phạm vi thẩm quyền của Trọng tài thương mại; và như vậy sẽ hạn chế thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài Do đó, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho trọng tài, để trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa ít nhất một bên là thương nhân, có hoạt động thương mại là hợp lý
1.3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
Trọng tài theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài Quy định này đã làm thống nhất hệ thống pháp luật Việt Nam, giúp các quy định pháp luật đi vào thực tiễn Cụ thể, trước Luật Trọng tài thương mại năm 2010, các văn bản pháp luật khác đã quy định về hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài như: Luật Thương mại năm 2005 (khoản 3 Điều 317) quy định trọng tài là một trong bốn hình thức giải quyết tranh chấp thương mại
mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp; Luật Đầu tư năm 2005 (Điều 12) cũng quy định trọng tài là một trong bốn hình thức giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam; Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Điều
Trang 8107) quy định trọng tài là một trong hai cơ quan có thẩm quyền xem xét, hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp Luật định Tuy nhiên, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 không quy định trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khác mà các Luật chuyên ngành có quy định Do vậy, đây là điểm mới đáng ghi nhận của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 so với các văn bản pháp luật trước đây khi trọng tài có thẩm quyền giải quyết nhiều loại tranh chấp hơn, khiến hệ thống pháp luật đầy đủ và đồng bộ hơn
Ngoài ra, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định thẩm quyền nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp
Cụ thể, Điều 17 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài, người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn trọng tài hoặc toà án để giải quyết tranh chấp Nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận Quy định này dựa trên một thực tế là thông thường người tiêu dùng bị đặt ở vị thế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng in sẵn của người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ,
do vậy cần có quy định bảo vệ họ trong các tình huống cần thiết
2 Các bên có thỏa thuận trọng tài
Để trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận riêng gắn liền với hiệu lực của hợp đồng về việc chọn trọng tài nào sẽ giải quyết tranh chấp cho mình Thỏa thuận này có thể đạt được trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, nhưng phải trước khi các bên đưa tranh chấp đến trọng tài Điểm đặc biệt đó là thỏa thuận
Trang 9trọng tài vẫn sẽ có hiệu lực kể cả khi hợp đồng có thay đổi, gia hạn, hủy bỏ, bị
vô hiệu toàn phần hoặc không thể thực hiện được
Một số trường hợp đặc biệt mà một trong các bên tham gia thỏa thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi thì thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác Hoặc trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn
có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ
trường hợp các bên có thoả thuận khác
Theo Khoản 2 Điều 16 Luật Trọng tài thương mại, thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi
là xác lập dưới dạng văn bản:
a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương
tự khác;
đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận
Trang 103 Các thỏa thuận trọng tài không thuộc các trường hợp vô hiệu
Theo điều 18 Luật Trọng tài thương mại, thoả thuận trọng tài vô hiệu trong các trường hợp sau:
a) Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài
b) Người xác lập thoả thuận trọng tài không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền, trừ trường hợp việc xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài đó người ủy quyền đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối
c) Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự: người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
d) Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều
16 của Luật này
e) Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu
f) Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật
4 Các thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp không thể thực hiện được
Căn cứ Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trọng tài thương mại, thoả thuận trọng tài bị coi là không thể thực hiện được trong các trường hợp:
Trang 11- Trung tâm trọng tài nơi các bên thoả thuận giải quyết tranh chấp đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức kế thừa và các bên không có thoả thuận thay thế trung tâm trọng tài khác;
- Trọng tài viên trọng tài vụ việc mà các bên thoả thuận lựa chọn từ chối tham gia giải quyết hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên
và các bên không có thoả thuận thay thế;
- Trọng tài viên trọng tài vụ việc mà các bên đã có thoả thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp không thể tham gia giải quyết tranh chấp thương mại vì sự kiện bất khả kháng hoặc các trở ngại khách quan khác hoặc Toà án không thể tìm được Trọng tài viên đáp ứng yêu cầu của các bên và các bên không có thoả thuận thay thế;
- Điều lệ trung tâm trọng tài các bên chọn không cho phép về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế nhưng nhưng các bên lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác;
- Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp
C Xung đột
Hiện nay các hợp đồng kinh doanh quốc tế gần như 100% có quy định trong hợp điều khoản lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp Tuy nhiên một số doanh nghiệp Việt Nam lập hợp đồng quy định cùng một lúc lựa chọn cả hai cơ quan là Toà án và Trọng tài để giải quyết tranh chấp phát sinh Không chọn một cơ quan giải quyết tranh chấp mà chọn đồng thời cả hai Vậy nên ở những trường hợp lựa chọn cả hai cơ quan sẽ xảy ra xung đột vì thế chỉ nên lựa chọn một cơ quan giải quyết tranh chấp