1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ThS luật học pháp luật kê biên tài sản là quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án dân sự và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh hòa bình

79 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Kê Biên Tài Sản Là Quyền Sử Dụng Đất Để Đảm Bảo Thi Hành Án Dân Sự Và Thực Tiễn Thực Hiện Trên Địa Bàn Tỉnh Hòa Bình
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 535 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi ở đây yếu tố không tự nguyện thi hành án khôngđồng nghĩa với việc, người phải thi hành án vi phạm pháp luật thi hành án, bởi vìnhiều trường hợp người phải thi hành án rất muốn bán đư

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Kế thừa và phát huy tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước ta là xâydựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân; Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giaicấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước thốngnhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việcthực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, theo cơ chế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Nhà nước đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, côngnhân; tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiệnmục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộcsống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện Với chính sách đổimới toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, lấy đổi mới kinh tế trước tiên sau

đó dần dần từng bước đổi mới về chính trị Trong quá trình phát triển kinh tế theonền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu,nhiều thành phần kinh tế, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Chính vì lẽ đó trongcác quan hệ pháp luật dân sự tăng lên một cách nhanh chóng, đi cùng với đổi mới là

sự tăng lên của các vụ, việc tranh chấp dân sự, kéo theo sự tăng lên của các việc thihành án dân sự (THADS) Để thi hành triệt để các bản án, quyết định của Tòa án cóhiệu lực, các cơ quan THADS phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án,trong đó có biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản là quyền sử dụng đất (QSDĐ)nhằm giải quyết dứt điểm những bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án

Kê biên, xử lý tài sản là QSDĐ là một trong những biện pháp cưỡng chếđược quy định tại khoản 3 Điều 71 của Luật THADS năm 2008, được sửa đổi, bổsung năm 2014 Nhìn chung, Luật THADS cũng như các nghị định, thông tư, cácvăn bản dưới luật liên quan đến công tác thi hành án cũng đã quy định chặt chẽ, đầy

đủ, hướng dẫn rõ ràng về trình tự, thủ tục áp dụng kê biên, xử lý tài sản là QSDĐ

Vì vậy, trong những năm gần đây, nhiều vụ việc có liên quan đến lĩnh vực đất đaivới số tiền lớn được giải quyết dứt điểm góp phần làm cho công tác THADS đã đạt

và vượt chỉ tiêu được giao

Song, trên thực tế hiện nay, việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản là QSDĐ

từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình vẫn còn tồn tại một số bất cập cần phải tháo gỡ nhưnhiều bản án, quyết định của Tòa tuyên tháo dọn tài sản gắn liền trên đất để giao

Trang 2

đất, tuy nhiên trên thực tế không thể tiến hành giao đất được cho người được thihành án, hoặc là khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản là QSDĐ thì phát sinh nhiềuvấn đề tranh chấp Mà nguyên nhân là còn bất cập từ các văn bản hướng dẫn dướiluật liên quan đến lĩnh vực đất đai chưa được cụ thể

Mặt khác, công tác phối hợp giữa các cơ quan có liên quan đến lĩnh vực đấtđai chưa được sâu, chưa chặt chẽ Mà việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cần phải có

sự phối hợp của các ngành, các cấp, nếu thiếu một thành phần theo quy định thì việccưỡng chế kê biên đó phải dừng hoặc hoãn, gây tổn thất lớn về công sức, kinh tế vàtài sản cho các bên đương sự, tổ chức và Nhà nước

Vì vậy, việc nghiên cứu biện pháp kê biên tài sản là QSDĐ trong THADSqua thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có ý nghĩa quan trọng trong côngcuộc cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả của công tác THADS Do đó tôi lựa

chọn đề tài Pháp luật kê biên tài sản là quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành

án dân sự và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Hòa Bình để nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp cưỡngchế THADS Tuy nhiên biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản là QSDĐ với bản chất

là một biện pháp cưỡng chế cụ thể chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu Tínhđến nay, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:

Thi hành án dân sự là một hoạt động hết sức phức tạp, nhạy cảm Đã cónhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như: Hoàng Minh Huệ

(2017): Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội; Nguyễn Thị Nga (2008): Một số tồn tại, bất cập và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại các Ngân hàng thương mại hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4; Phạm Thị Giang Thu, Nguyễn Ngọc Lương (2011): Thực thi pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại - một số vướng mắc pháp lí và đề xuất hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 10; Nguyễn Thị Nga (2015): Pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam - Thực trạng và hướng hoàn thiện, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Tư pháp; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản nhằm thúc đẩy thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thực hiện năm 2011; Nguyễn Mạnh Cường (2012): Pháp luật về đấu giá tài sản trong thương mại ở Việt Nam,

Trang 3

Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, đã phân tích những quy địnhchung nhất của pháp luật Việt Nam về đấu giá tài sản trong lĩnh vực thương mại;

Bùi Thị Thu Hiền (2014): Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã

phân tích tương đối đầy đủ các vấn đề liên quan đến bán đấu giá tài sản để thi hành

án và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật

Những công trình nghiên cứu khoa học trên đã có nội dung nghiên cứu ở nhiềugóc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau về THADS nói chung và kê biên, xử lý tàisản là QSDĐ nói riêng nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu dưới góc độ lý luận vàthực tiền về áp dụng biện pháp kê biên tài sản là QSDĐ trong THADS từ thực tiễntỉnh Hòa Bình Vì vậy dựa trên những kiến thức của các đề tài nêu trên, việc nghiêncứu chuyên sâu về áp dụng biện pháp kê biên tài sản là QSDĐ trong THADS từthực tiễn tỉnh Hòa Bình là cần thiết, không trùng lặp với các công trình đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về kêbiên tài sản là QSDĐ; Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về

kê biên tài sản là QSDĐ và việc thực tiễn thực hiện biện pháp cưỡng chế này trênđịa bàn tỉnh Hòa Bình Qua việc nghiên cứu nhận diện, phát hiện những hạn chế,bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên tài sản làQSDĐ và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Từ đó tìm ra nguyên nhân

và giải pháp khắc phục để góp phần nâng cao hiệu quả công tác kê biên QSDĐ

Xuất phát từ mục đích của việc nghiên cứu đề tài nêu trên, việc nghiên cứu

đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận về kê biên tài sản là QSDĐ, cácquy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên tài sản là QSDĐ và thực tiễnthực hiện trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về kê biên tài sản làQSDĐ, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên tài sản là QSDĐ

và thực tiễn thực hiện các quy định này trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

Đề tài có nội dung nghiên cứu rộng, tuy nhiên do giới hạn của luận văn thạc

sĩ việc nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào một số vấn đề lý luận cơ bản về kê biênQSDĐ như khái niệm, đặc điểm kê biên QSDĐ, ý nghĩa kê biên QSDĐ; Các quyđịnh của Luật THADS về kê biên QSDĐ và thực tiễn thực hiện biện pháp này trongnhững năm gần đây trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

Trang 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận nghiêncứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, phương pháp bình luận được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu lý luận về pháp luật kê biên tài sản làQSDĐ để đảm bảo THADS

- Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh luật học, phương phápnghiên cứu đa ngành được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng phápluật kê biên tài sản là QSDĐ để đảm bảo THADS

- Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp luận giải được

sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệuquả về kê biên tài sản là QSDĐ để đảm bảo THADS

6 Những điểm mới về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý có tính hệ thống vềnhững vấn đề liên quan đến kê biên QSDĐ Những điểm mới về khoa học của luậnvăn thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

- Hoàn thiện khái niệm, ý nghĩa kê biên QSDĐ; chỉ rõ đặc điểm kê biên QSDĐ

- Phân tích làm rõ nội dung các quy định của pháp luật THADS Việt Namhiện hành về kê biên QSDĐ

- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật THADS Việt Namhiện hành về kê biên QSDĐ và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện các quyđịnh của pháp luật THADS Việt Nam về kê biên QSDĐ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật kê biên tài sản là quyền sử

dụng đất trong thi hành án dân sự

Chương 2: Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về kê biên tài sản là

quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả về

kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Trang 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KÊ BIÊN TÀI SẢN

LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Lý luận về pháp luật kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

1.1.1.1 Khái niệm về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

* Khái niệm kê biên

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Giáo dụcnăm 1994 viết: "Kê là viết ra theo thứ tự từng tên, từng nhóm để ghi nhớ hoặc thôngbáo"1, còn "biên là viết lên trang giấy"2 Theo cuốn Từ điển Luật học thì kê biên tài

sản là một biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm việc thi hành án hình sự, chỉ áp dụngvới bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định3 Như vậy, kê biên được hiểu là

tạm thời cấm vận chuyển, chuyển đổi, định đoạt hoặc chuyển dịch tài sản của người viphạm pháp luật Điều này có nghĩa khi kê biên một tài sản của một người nào đó thìquyền tài sản của học bị hạn chế, họ không được chuyển đổi, chuyển dịch, định đoạt tàisản bị kê biên đó Mặt khác tài sản bị kê biên phải là của người vi phạm pháp luật, nếumột người không vi phạm pháp luật thì sẽ không bị kê biên Trên thực tế trong hoạtđộng quản lý nhà nước có một số cơ quan nhà nước được Nhà nước trao quyền thựchiện việc kê biên tài sản đó là cơ quan điều tra của Công an, Tòa án nhân dân (TAND)các cấp, cơ quan quản lý hành chính và cơ quan THADS

Cụ thể, trong lĩnh vực THADS thì theo khoản 3 Điều 71 Luật THADS năm

2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì kê biên được hiểu là một trong nhữngbiện pháp cưỡng chế THADS do Chấp hành viên (CHV) áp dụng trong trường hợpngười phải thi hành án phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền nào đó theo bản án,quyết định của Tòa án nhưng hết thời gian tự nguyện theo quy định của LuậtTHADS mà không tự nguyện thi hành án thì CHV tiến hành trình tự thủ tục để kêbiên Như vậy, đối với THADS, kê biên được hiểu không hoàn toàn đúng nghĩa

1 Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, tr 466.

2 Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, tr.159.

3 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr 243.

Trang 6

theo như phân tích ở trên Bởi ở đây yếu tố không tự nguyện thi hành án khôngđồng nghĩa với việc, người phải thi hành án vi phạm pháp luật thi hành án, bởi vìnhiều trường hợp người phải thi hành án rất muốn bán được tài sản để trả nợ nhưngkhông thể bán được vì yếu tố khách quan.

Tóm lại, kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ tài sản, đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Trong hoạt động THADS kê biên được hiểu là một trong những biện phápcưỡng chế THADS Công tác THADS nói riêng và công tác thi hành án nói chung

là một trong những hoạt động quan trọng nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xãhội bị xâm hại THADS là hoạt động thi hành án bản án, quyết định dân sự, hìnhphạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tàisản, án phí, tiền phạt và quyết định dân sự trong bản án hình sự, phần tài sản trongbản án, quyết định hành chính và Tòa án Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản,quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý các vụ việc cạnh tranh cóliên quan đến tài sản của bên phải thi hành án và phán quyết, quyết định của trọngtài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định của Tòa án) Việc cưỡngchế chỉ đặt ra khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án và đã hết thời gian

tự nguyện thi hành án thì CHV mới áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án đểbuộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của mình

* Khái niệm kê biên tài sản là quyền sử dụng đất

Kê biên QSDĐ là một trong sáu biện pháp cưỡng chế thi hành án Biệnpháp cưỡng chế kê biên QSDĐ áp dụng đối với người phải thi hành án có nghĩa vụ

về tài sản (tiền) đối với người được thi hành án Nghĩa là biện pháp cưỡng chế kêbiên QSDĐ không được áp dụng đối với hành vi của người phải thi hành án

Biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ trong THADS cần được phân biệt vớiviệc kê biên QSDĐ của cơ quan điều tra và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờicủa Tòa án như kê biên tài sản đang tranh chấp nếu trong quá trình giải quyết án cócăn cứ cho thấy có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản Biện pháp kê biên của cơ điềutra và của Tòa án nhằm mục đích ngăn chặn bị cáo và đương sự tẩu tán, hủy hoại tàisản để tránh trách nhiệm nghĩa vụ tài sản về sau của bị cáo và đương sự đối với Nhànước, cơ quan, tổ chức và cá nhân Còn biện pháp kê biên cưỡng chế QSDĐ của cơquan THADS ngoài mục đích ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài

Trang 7

sản mà còn có mục đích là căn cứ pháp lý để xử lý tài sản của người phải thi hành

án để thanh toán tiền cho người được thi hành án Trong trường hợp người phải thihành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình mà bản án, quyết định củaTòa án đã xác định

Kê biên tài sản là QSDĐ phải đáp ứng đủ các điều kiện như: Theo bản án,quyết định của Tòa án, người phải thi hành án phải có nghĩa vụ trả tiền cho ngườiphải thi hành án, người phải thi hành án phải có nghĩa vụ trả tiền cho người phải thihành án; Người phải thi hành án phải có tài sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền chongười được thi hành án Tài sản bị kê biên có thể là tài sản thuộc sở hữu chung, sởhữu riêng của người thi hành án, tài sản này có thể do người phải thi hành án hoặc

do người thứ ba quản lý, sử dụng; Đã hết thời gian tự nguyện do CHV ấn địnhnhưng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án hoặc chưa hết thời gian

tự nguyện, nhưng cần phải ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản Ngoài ra kê biênQSDĐ cần phải lưu ý một số điểm được quy định tại Mục 8 Luật THADS như:

- Trước khi kê biên QSDĐ phải thông báo với Phòng đăng ký QSDĐ biết.Đồng thời CHV yêu cầu Phòng đăng ký QSDĐ cung cấp thông tin về QSDĐ bị kêbiên để làm cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật

- Chấp hành viên chỉ được kê biên QSDĐ của người phải thi hành án thuộctrường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai

- Khi kê biên QSDĐ, CHV yêu cầu người phải thi hành án, người đangquản lý giấy tờ về QSDĐ phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan THADS

- Trường hợp kê biên QSDĐ có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữucủa người phải thi hành án thì CHV kê biên cả QSDĐ và tài sản gắn liền với đất.Trường hợp tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sở hữu của người phải thihành án thì CHV chỉ kê biên QSDĐ và thông báo cho người có tài sản gắn liền vớiđất biết để tháo dỡ, di rời

Kê biên QSDĐ là một trong nhiều biện pháp kê biên tài sản của người phảithi hành án trong THADS như: kê biên hoa lợi, kê biên phương tiện giao thông, kêbiên vốn góp, kê biên tài sản là đồ vật đang bị khóa hay đóng gói Tuy nhiên, kê biêntài sản là QSDĐ hiện nay là một trong những biện pháp kê biên thực hiện phổ biến,nhưng khó khăn và phức tạp nhất trong các biện pháp kê biên, cưỡng chế THADS

Tóm lại, kê biên tài sản là QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế THADS, do CHV thực hiện quyền lực nhà nước để kê biên QSDĐ của người phải thi hành án buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tiền theo bản án, quyết định

Trang 8

của Tòa án, trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án.

1.1.1.2 Đặc điểm của kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành

án dân sự

Vì QSDĐ cũng là một loại tài sản nên kê biên QSDĐ trong THADS trướchết cũng phản ánh tất cả các đặc điểm của kê biên tài sản nói chung Tuy nhiên, tàisản là QSDĐ với những đặc điểm khác biệt đã chỉ ra ở trên nên kê biên QSDĐtrong THADS có những đặc điểm riêng biệt Cụ thể:

Thứ nhất, kê biên tài sản là QSDĐ trong THADS mang tính quyền lực của Nhà nước, người áp dụng biện pháp kê biên là người được Nhà nước trao quyền thực hiện quyền lực của Nhà nước

Ở bất cứ một Nhà nước nào trên thế giới đều có bộ máy nhà nước đượcphân chia thành ba phân nhánh quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền

tư pháp Để thực hiện quyền lực nhà nước, các cơ quan nhà nước được lập ra để thựchiện quyền lực nhà nước Hệ thống cơ quan THADS được Thủ tướng Chính phủ thànhlập theo ngành dọc từ Trung ương xuống địa phương bao gồm: Tổng cục THADSthuộc Bộ Tư pháp, cấp tỉnh có Cục THADS tỉnh, cấp huyện có Chi cục THADShuyện Ngoài ra còn có cơ quan THADS trong Quân đội đó là Cục thi hành án thuộc

Bộ Quốc phòng, Phòng thi hành án thuộc Quân khu Hệ thống cơ quan THADS nàythuộc phân nhánh các cơ quan hành pháp thực hiện quyền hành pháp Nhà nước traocho hệ thống cơ quan THADS thi hành về phần dân sự của bản án, quyết định của Tòa

án Hệ thống cơ quan thi hành án này hoạt động thông qua đội ngũ cán bộ, côngchức và người lao động Tuy nhiên không phải ai cũng được Nhà nước trao quyền thựchiện việc kê biên QSDĐ nói riêng và thực hiện các biện pháp cưỡng chế THADSnói chung Nhà nước chỉ trao cho người có chức danh, đó là chức danh CHV

Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án,quyết định theo quy định (Điều 17 Luật THADS) Nội dung của điều này chỉ rarằng chỉ có CHV mới được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tạiĐiều 71 Luật THADS trong đó có việc áp dụng biện pháp kê biên QSDĐ CHV làmột chức danh tư pháp được Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm Điều kiện để được bổnhiệm CHV, phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêmkhiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật trở lên, có sức khỏe đểhoàn thành nhiệm vụ được giao, có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm trởlên, đã được đào tạo nghiệp vụ THADS, trúng tuyển kỳ thi thi tuyển thì có thể được

Trang 9

bổ nhiệm làm CHV Điều 18 Luật THADS CHV được phân thành CHV sơ cấp,CHV trung cấp và CHV cao cấp, sự phân cấp CHV này cho phù hợp với từng trình

độ của mỗi ngạch CHV để Thủ trưởng cơ quan thi hành án giao việc cho phù hợpvới từng CHV trong đơn vị

Cũng giống như các chức danh tư pháp khác như Kiểm sát viên được Nhànước giao quyền thực hiện quyền công tố, thẩm phán thực hiện quyền xét xử vàCHV thực hiện THADS, đó là việc phân công, phân quyền của Bộ máy Nhà nước.Trong đó CHV được Nhà nước giao quyền thực hiện các biện pháp cưỡng chế nhằmbảo đảm thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Quyền lực nhà nước còn thể hiện ở khía cạnh chỉ có cơ quan thi hành ánmới có quyền cưỡng chế kê biên và xử lý tài sản là QSDĐ Nhà nước không traoquyền này cho bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào kể cả các văn phòng Thừa phát lạicũng không được ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ, quyền này thuộc về Cụctrưởng Cục THADS tỉnh xem xét, phê duyệt kế hoạch và ra quyết định cưỡng chếthi hành án trên cơ sở đề nghị của Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn Tóm lại kêbiên cưỡng chế QSDĐ mang tính quyền lực nhà nước rõ rệt Quyền lực này trao choCHV thực hiện

Thứ hai, khi bị kê biên tài sản là QSDĐ của người sử dụng đất bị đặt vào tình trạng bị hạn chế giao dịch

Biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ mục đích trước tiên là hạn chế một sốQSDĐ của người phải thi hành án, mà Nhà nước giao cho Khi CHV ban hành quyếtđịnh cưỡng chế kê biên QSDĐ, thì kể từ thời điểm này người phải thi hành án khôngđược tự mình chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, tặng cho, góp vốn vàthừa kế QSDĐ Nếu người phải thi hành án muốn thực hiện các quyền trên phải thôngqua CHV phụ trách vụ việc và phải được sự cho phép của CHV Đồng thời phải làmtheo những điều kiện theo quy định của pháp luật THADS Việc hạn chế một sốquyền này chấm dứt khi người phải thi hành án hoàn thành nghĩa vụ tài sản của mìnhđối với người được thi hành án, bằng quyết định giải tỏa kê biên QSDĐ của CHV, đếnthời điểm này QSDĐ của người phải thi hành án mới không bị hạn chế giao dịch

Thứ ba, đối tượng kê biên là một loại tài sản đặc biệt

Trong Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ

có giá và các quyền tài sản QSDĐ là một loại quyền tài sản, loại quyền tài sản này

có giá trị rất lớn, được Nhà nước quản lý chặt chẽ bằng cả một hệ thống các cơ quanquản lý về đất đai từ Trung ương đến địa phương với số lượng cán bộ, công chức

Trang 10

nhiều Sự đặc biệt của QSDĐ còn được thể hiện tại Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quyđịnh: "Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đấtnước, được quản lý theo pháp luật" Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, chothuê đất, công nhận QSDĐ Người sử dụng đất được QSDĐ, thực hiện các quyền vànghĩa vụ theo quy định của pháp luật QSDĐ, được pháp luật bảo hộ Điều 688 BộLuật dân sự Nghĩa là cá nhân, tổ chức không có quyền định đoạt đất đai, vì đất đaithuộc hình thức sở hữu Nhà nước, do Chính phủ thống nhất quản lý QSDĐ của cánhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, chothuê đất hoặc công nhận QSDĐ Tóm lại theo quy định của pháp luật đất đai ViệtNam QSDĐ là một tài sản đặc biệt so với các nước khác trong khu vực và trên thếgiới.

Thứ tư, kê biên tài sản là QSDĐ trong THADS là biện pháp được áp dụng phổ biến để thi hành những nghĩa vụ lớn

Trên thực tế có nhiều tranh chấp được Tòa án giải quyết hiện nay có nghĩa

vụ trả tiền việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế như khấu trừ tài khoản, khai tháctài sản của người phải thi hành án, kê biên, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp Diễn rakhông phổ biến, không mang lại hiệu quả cao, gây khó khăn cho CHV và hầu nhưkhông tương xứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án Do đó CHV phải ápdụng biện pháp kê biên tài sản là QSDĐ để thi hành những nghĩa vụ, vì vậy nó làbiện pháp chiếm tỷ lệ lớn hiện nay

Mục đích kê biên QSDĐ là để bán đấu giá thu tiền nhằm đảm bảo thựchiện nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án

Kê biên QSDĐ trong THADS về mục đích khác với việc kê biên của cơquan điều tra và cơ quan Tòa án như ở phần khái niệm kê biên đã phân tích Kê biênQSDĐ do cơ quan điều tra Công an và cơ quan Tòa án về mục đích kê biên của các

cơ quan này nhằm bảo đảm việc thi hành án sau này, tránh việc tẩu tán, hủy hoại tàisản của bị can, bị cáo, đương sự Đến đây các cơ quan này không có chức năng xử

lý QSDĐ đã kê biên Nhưng đến giai đoạn THADS thì mục đích của biện pháp kêbiên QSDĐ rất rõ ràng là ngoài mục đích bảo đảm cho việc thi hành án, còn có mụcđích khác đó là xử lý QSDĐ đã kê biên để bán đấu giá QSDĐ để thu tiền nhằm đảmbảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án

Thứ năm, việc kê biên QSDĐ phải được thực hiện theo trình tự chặt chẽ do pháp luật quy định

Trang 11

Bất kỳ một hoạt động nào trong quản lý nhà nước đều phải tuân thủ theomột thủ tục được quy định chặt chẽ Nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức nào không tuânthủ theo thủ tục đó thì vi phạm pháp luật và họ sẽ bị chịu một chế tài tương ứng vớinhững vi phạm đó Việc kê biên QSDĐ trong THADS không nằm ngoài quy luật

đó, CHV phải thực hiện các thủ tục chặt chẽ từ khi nhận hồ sơ thi hành án, lập hồ sơthi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, thông báo thi hành án, ra quyết địnhcưỡng chế kê biên QSDĐ, định giá QSDĐ, bán đấu giá QSDĐ, giao QSDĐ đếnthanh toán tiền bán đấu giá đều phải theo một trình tự chặt chẽ do Luật THADS vàcác văn bản dưới luật điều chỉnh Ngoài ra CHV còn phải tuân thủ theo các văn bảnpháp luật liên quan đến thi hành án đó là Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự,Luật đất đai, Luật hôn nhân gia đình Như vậy CHV kê biên QSDĐ phải thực hiệntheo trình tự chặt chẽ do pháp luật quy định

1.1.1.3 Vai trò của kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Thứ nhất, kê biên QSDĐ là biện pháp thi hành triệt để bản án, quyết định

án Do đó họ phải thực hiện nhiều nghĩa vụ về trả tiền thì việc xử lý QSDĐ sẽ bảođảm thi hành triệt để không những một bản án, quyết định mà còn thi hành triệt đểnhiều bản án, quyết định của Tòa án

Thứ hai, kê biên QSDĐ bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi

hành án và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án

Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng vì lý do hoặc lợiích cá nhân nào đó người phải thi hành án không muốn tự nguyện thi hành án Họnêu ra nhiều lý do bất hợp pháp để trốn tránh hoặc kéo dài việc thực hiện nghĩa vụcủa mình đối với người được thi hành án Trong trường hợp này CHV thực hiệnbiện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ nhằm bảo đảm cho việc thi hành án, đảm bảocho lợi ích cả hai bên người phải thi hành án và người được thi hành án Bởi vì kể

từ thời điểm CHV ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ của người phải thi hành

Trang 12

án thì các khoản nợ có đến thời điểm này đều được bảo đảm thanh toán trước.Người phải thi hành án không thể kéo dài thêm thời gian thực hiện nghĩa vụ củamình, nhằm mục đích kéo dài thời gian thi hành án chờ thời cơ có lợi cho mình.Ngýời được thi hành án thì nhận được lợi ích vật chất mình được hưởng theo bản

án, quyết định của Tòa án với thời gian nhanh nhất Việc thực hiện xong bản án,quyết định của Tòa án tránh được tổn thất về vật chất và tinh thần cho cả hai bên,người được thi hành án và người phải thi hành án

Thứ ba, kê biên QSDĐ còn có tác dụng lớn trong việc răn đe, giáo dục ý

thức pháp luật cho mọi công dân

Kê biên QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế lớn phải huy động nhiều lựclượng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và được đưa lên thông tin đại chúng

Vì vậy thông qua buổi cưỡng chế kê biên tài sản là QSDĐ nhằm răn đe những đốitượng trây ỳ, chống đối không thực hiện nghĩa vụ của mình Mặt khác thông quabuổi cưỡng chế nhằm giáo dục ý thức pháp luật cho mỗi công dân hiểu biết thêmpháp luật về THADS để họ tự điều chỉnh hành vi của mình trong những trường hợptương tự

1.1.2 Phân loại về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Dựa vào Luật THADS (được sửa đổi bổ sung năm 2014) và Nghị định62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật THADS có thể phân loại về kê biên tài sản là QSDĐthành những loại sau:

Thứ nhất: Kê biên tài sản là QSDĐ trong trường hợp người phải thi hành án

chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố cho người khác kể từthời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật

Đối với trường hợp này, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho,bán, chuyển nhượng, thế chấp cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được

để thi hành án thì vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án Khi kê biên nếu người khác cótranh chấp thì CHV thông báo cho đương sự có tranh chấp về quyền của họ được khởikiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết Nếu trong thời hạn 30ngày, kể từ ngày nhận được thông báo hợp lệ mà người có tranh chấp không khởikiện ra tòa thì CHV xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật THADS

Thứ hai: Kê biên tài sản là QSDĐ thuộc sở hữu chung của người phải thi

hành án với người khác

Trang 13

- Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần QSDĐcủa người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì CHV phảithông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đốivới tài sản, QSDĐ biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầuTòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không cóthỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏathuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì CHV thông báo chongười được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tàisản, phần QSDĐ của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tốtụng dân sự

Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thihành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì CHV yêu cầu Tòa án xác định phầnquyền sở hữu tài sản, phần QSDĐ của người phải thi hành án trong khối tài sảnchung theo thủ tục tố tụng dân sự

Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án

- Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của cácchủ sở hữu chung được xử lý như sau:

Đối với tài sản chung có thể chia được thì CHV áp dụng biện pháp cưỡngchế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;

Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làmgiảm đáng kể giá trị của tài sản thì CHV có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đốivới toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sảnthuộc quyền sở hữu của họ Chẳng hạn: QSDĐ là tài sản chung của hai anh em là

30 m2, trong đó phần của người anh phải kê biên để đảm bảo thi hành án Xét vềmặt thực tế, tài sản này có thể chia đôi, song diện tích đất sau khi chia còn lại củangười em quá nhỏ nên không thể cấp giấy hoặc đất giảm tính năng sử dụng

Thứ ba, kê biên tài sản là QSDĐ thuộc sở hữu cá nhân

Trường hợp này thì CHV tiến hành kê biên đúng trình tự, thủ tục theo quyđịnh của Luật thi hành án dân sư Khi bản án, quyết định có hiệu lực thi hành án vàhết thời gian tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thihành án, CHV tiến hành xác minh tài sản của người phải thi hành án và chứng minhngười phải thi hành án có tài sản riêng là QSDĐ mà không tự nguyện thi hành thì

Trang 14

CHV tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản là QSDĐ để đảmbảo việc thực hiện nghĩa vụ phải thanh toán theo bản án, quyết định của tòa án

1.1.3 Các yêu cầu về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành

án dân sự

Kê biên tài sản QSDĐ là một trong những biện pháp cưỡng chế THADS, do

đó trong quá trình thực hiện yêu cầu phải bảo đảm các nguyên tắc chung khi cưỡngchế thi hành án, đó là:

Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào nội dung bản

án quyết định; tính chất mức độ, nghĩa vụ THADS, điều kiện của người phảiTHADS; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế ở địa phương;

Thứ hai, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời gian tự

nguyện thi hành án Trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải THADS có hành vitẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc THADS - CHV có quyền áp dụng ngaycác biện pháp bảo đảm, cưỡng chế THADS;

Thứ ba, chỉ kê biên, xử lý tài sản của người phải THADS khi có căn cứ

khẳng định tài sản đó thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải THADS

và do họ đang quản lý sử dụng hoặc do người thứ ba giữ;

Thứ tư, chỉ kê biên tài sản tương ứng với nghĩa vụ của người phải THADS

và các chi phí cần thiết khác; tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ được xemxét và cân nhắc khi người phải THADS chỉ có tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần sovới nghĩa vụ phải THADS và tài sản đó không thể phân chia được hoặc khi phânchia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản đó;

Thứ năm, không được kê biên những tài sản mà pháp luật quy định không

được kê biên;

Thứ sáu, không tổ chức cưỡng chế trong các thời điểm: Từ 22 giờ đến 06

giờ sáng hôm sau; trong thời gian 15 ngày trước và sau Tết Nguyên đán; các ngàynghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; các ngày truyền thống đối với các đốitượng chính sách - khi họ là người phải THADS;

Thứ bảy, chỉ kê biên QSDĐ của người phải THADS thuộc trường hợp được

chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai Người phải THADS chưađược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) mà thuộc trường hợpđược cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộcdiện quy hoạch phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi thì vẫn được kêbiên, xử lý QSDĐ đó;

Trang 15

Thứ tám, khi kê biên QSDĐ, nếu người phải THADS có tài sản gắn liền tài

sản trên đất thì kê biên cả QSDĐ và tài sản gắn liền trên đất;

Thứ chín, khi kê biên nhà ở của người phải THADS thì phải kê biên cả

QSDĐ gắn liền với nhà ở đó

Cụ thể, đối với các yêu cầu về kê biên tài sản là QSDĐ trong THADS cầnlưu ý thêm các yêu cầu như sau:

Thứ nhất, người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản

nợ, hoặc là phải giao trả QSDĐ cho người khác theo bản án, quyết định được đưa rathi hành hoặc phải nộp phí thi hành án theo luật đinh

Thứ hai: Tại Điều 110 Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014

quy định CHV chỉ kê biên QSDĐ của người phải thi hành án thuộc trường hợp đượcchuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai; Người phải thi hành ánchưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứngnhận QSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thuhồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý QSDĐ đó

Theo quy định của pháp luật đất đai năm 2013 thì giao dịch QSDĐ bao gồmcác quyền sau: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặngcho, thế chấp, cầm cố, góp vốn bằng QSDĐ Trong đó có quyền khi thực hiện, sẽ có

sự dịch chuyển hẳn QSDĐ từ chủ thể này sang chủ thể khác làm chấm dứt QSDĐcủa chủ thể này và làm phát sinh QSDĐ của chủ thể kia Khi thực hiện những quyềnchuyển QSDĐ thì chủ thể cần có những điều kiện nhất định như: Người sử dụng đấtphải có giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền vớiđất; Đất không có tranh chấp; Đất phải còn trong thời hạn sử dụng đất (được quyđịnh tại khoản 1 Điều 188 Luật đất đai 2013)

Như vậy, CHV khi kê biên phải dựa trên cơ sở pháp lý về đất đai quy định

ở trên mới tiến hành kê biên tài sản là QSDĐ

Thứ ba, theo khoản 1 Điều 45 Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014 thì

hết thời gian tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo hợp

lệ quyết định thi hành án theo quy định tại các điều 39, 40, 41, 42 Luật THADS sửađổi bổ sung năm 2014 mà người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, có tài sản

là QSDĐ mà không tự nguyện thi hành thì có quyền áp dụng biện pháp kê biênQSDĐ theo quy định

Tuy nhiên cũng có trường hợp còn trong thời gian tự nguyện thi hành ánnhưng để ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành

Trang 16

án thì CHV ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án hoặc biện phápcưỡng chế thi hành án là kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tàisản do người thứ ba giữ để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án, đảm bảoquyền và nghĩa vụ của đương sự.

1.1.4 Cơ chế bảo đảm kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Thứ nhất, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong các chế định pháp

luật về kê biên tài sản là QSDĐ trong THADS

Nguyên tắc pháp chế là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đối vớithực hiện pháp luật thi hành án nói chung, kê biên tài sản là QSDĐ trong THADSnói riêng, Điều 106 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013qui định: "Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được

cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêmchỉnh chấp hành"; Điều 4 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định "Bản

án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và mọicông dân tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi tráchnhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệmtrước pháp luật về việc thi hành án" Như vậy, việc thực hiện pháp luật THADS nóichung và pháp luật về kê biên tài sản là QSDĐ nói riêng không những bảo đảm tínhnghiêm minh của pháp luật, mà còn tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thứ hai, không có sự phân biệt đối xử trong quá trình áp dụng biện pháp kê

biên tài sản là QSDĐ trong THADS

Điều 16 của Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ "Mọi người điều bìnhđẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự,kinh tế, văn hóa, xã hội" Vì vậy, pháp luật kê biên tài sản là QSDĐ trong THADScũng không thể không coi trọng nguyên tắc này Dù bất kỳ là ai, cơ quan, tổ chứccác nhân nào (cho dù cá nhân đó có giữ vị trí lạnh đạo nào ) nếu có liên quan trựctiếp đến việc thực hiện Bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên nhưng qua thời gian

tự nguyện theo luật định mà không chịu thi hành án thì đều bị kê biên tài sản làQSDĐ bình đẳng như nhau

Thứ ba, cơ quan THADS, CHV là chủ thể đặc biệt khi tiến hành kê biên tài

tài sản là QSDĐ trong THADS

Chấp hành viên là người trực tiếp tổ chức thi hành những phán quyết về dân

Trang 17

sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bảo đảm tính thực thi của bản án, quyết địnhcủa Tòa đi vào thực tế một cách nghiêm minh, công bằng Trên thực tế, không phảinhững bản án, quyết định nào cũng được người dân đồng tình chấp hành nghiêmchỉnh mà ngược lại nhiều trường hợp cố ý không tôn trọng bản án, quyết định củaTòa án, không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình mà có biểu hiện coi thườngpháp luật mặc dù đã được CHV cơ quan thi hành án đã áp dụng nhiều biện phápthuyết phục, động viên, phân tích vẫn không chịu chấp hành CHV phải áp dụngbiện pháp kê biên, buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ theo phánquyết mà Tòa án đã tuyên án có hiệu lực pháp Trường hợp áp dụng biện pháp kêbiên thi hành án không những thể hiện quyền lực nhà nước, mà còn thể hiện bảnchất dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như trách nhiệm của Nhà nước trongviệc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Trong quan hệ pháp luật THADS luôn tồn tại ba chủ thể với địa vị pháp lýkhác nhau, đó là cơ quan thi hành án, CHV với người phải thi hành án và người đượcthi hành án Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn trật tự, kỷ cươngtrong THADS là trách nhiệm của Nhà nước Cơ quan thi hành án, CHV tham gia quan

hệ pháp luật kê biên tài sản không phải vì lợi ích của chính mình, mà nhân danh cơquan nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện trên thực tế những phánquyết về dân sự, hành chính của Tòa án, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền,lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Thứ tư, phải có một cơ chế liên ngành ở trung ương

Nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực thi hành nhưng khi tổchức thi hành đã thể hiện nhiều điểm vướng mắc ngay trong nội dung Bản án, quyếtđịnh của Tòa án làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên hoặc làm ảnh hưởngđến tình hình an ninh, chính trị, kinh tế của đất nước hoặc có liên quan đến nhiềungành, nhiều cấp cần phải có ban chỉ đạo thi hành án từ Trung ương Trong tìnhhình đó để đảm bảo cho việc thực thi bản án quyết định của Tòa và bảo đảm quyền vàlợi ích hợp pháp thì cần phải có một cơ chế giải quyết của liên ngành ở trung ương

Thứ năm, phải tuân thủ đúng các cơ sở, căn cứ, nguyên tắc, trình tự, thủ tục

kê biên tài sản là QSDĐ, không cho phép sai sót, nếu có sai sót CHV phải chịutrách nhiệm và có thể bị bồi thường nhà nước theo quy định

Quyền sử dụng đất là một tài sản có giá trị rất lớn, là tài sản sinh tồn củacông dân, chính vì vậy khi kê biên tức là đã tước đi quyền định đoạt, quyền sử dụng

của công dân nên khi CHV tiến hành kê biên tài sản là QSDĐ phải tuân thủ đúng

Trang 18

các cơ sở, căn cứ, nguyên tắc, trình tự, thủ tục kê biên tài sản là QSDĐ một cáchchặt chẽ, đầy đủ, đúng theo quy định của THADS sửa đổi bổ sung năm 2014 vàNghị định 62 của Chính phủ Để tránh được sai sót trong quá trình kê biên tài sản là

QSDĐ đòi hỏi CHV phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thành thạo, tinh thông

về những pháp luật có liên quan đến vấn đề kê biên tài sản là QSDĐ Ngoài ra tronghoạt động thi hành án, mỗi cơ quan thi hành án địa phương đều thành lập Ban chỉđạo thi hành án Đối với những trường hợp khó khăn phức tạp nhất là khi CHV ápdụng biện pháp kê biên nói chung và kê biên tài sản là QSDĐ nói riêng cần phảihọp Ban chỉ đạo thi hành án để đi đến thống nhất khi áp dụng biện pháp kê biên

1.2 Những vấn đề cơ bản về pháp luật kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất

1.2.1.1 Khái niệm pháp luật về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất

Thi hành án nói chung và kê biên tài sản là QSDĐ là một lĩnh vực khókhăn, phức tạp với nhiều đặc thù Thi hành án là khâu cuối cùng để Bản án, quyếtđịnh của Tòa án thực thi trên thực tế Quyết định thi hành án ảnh hưởng trực tiếp đếnquyền lợi của rất nhiều người (người phải thi hành án, người được thi hành án và cókhi cả người không có tên trong bản án, quyết định của Tòa án) Không phải đương

sự nào cũng hợp tác với cơ quan THADS khi có bản án, quyết định của Tòa án mà cónhững trường hợp cố tình chây ì, chống đối đến cùng, cố tình không hiểu pháp luật,không tuân thủ những quy định của pháp luật, dựa vào quyền dân chủ, khiếu nại, tốcáo để kéo dài thời gian thi hành án Nhiều trường hợp người phải thi hành án cốtình chống đối quyết liệt và tìm mọi cách để tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụthi hành án Đối với những trường hợp này nếu không có sự điều chỉnh của phápluật thì dẫn đến sự tì tiện, dân chủ quá mức, gây ra những tệ nạn xã hội khó lường,nền kinh tế sẽ bị suy giảm vì không thể thu hồi được các khoản nợ Chính vì vậy,việc ra đời Luật thi hành án nói chung và pháp luật kê biên tài sản là QSDĐ trongTHADS là một nhu cầu tất yếu, cần phải có quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tụckhi tiến hành kê biên tài sản là QSDĐ để tránh tình trạng gây thiệt hại cho công dân

Pháp luật với các ưu thế nổi trội là tính quy phạm, tính bắt buộc và tínhcưỡng chế khi quy định về căn cứ, nguyên tắc, quy trình, thủ tục và các thể thức khitiến hành kê biên QSDĐ chúng có sức mạnh buộc chủ thể phải thi hành án có tráchnhiệm và nghĩa vụ phải thi hành, nếu không thi hành thì bằng sức mạnh cưỡng chế

Trang 19

của Nhà nước buộc họ phải thực hiện; đây là ưu thế nổi trội mà không có bất kỳphương thức nào có được

Áp dụng pháp luật kê biên tài sản là QSDĐ để bảo đảm nghĩa vụ, quyền vàlợi ích của công dân cũng như sự tin tưởng vào luật pháp của Nhà nước nhằm đảm bảoquyền lợi của người được thi hành án cũng như bảo vệ tính nghiêm minh của bản án,quyết định của Tòa án, bảo đảm nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền cũng như các tranhchấp đòi lại QSDĐ do người khác lấn chiếm bất hợp pháp, hạn chế tình trạng ngườiphải thi hành án tẩu tán tài sản Bảo đảm tính nghiêm minh, thể hiện tính quyền lực củaNhà nước đối với những trường hợp cố ý coi thường pháp luật Hơn nữa, càng ngàynhững bản án, quyết định có liên quan đến việc thu nợ cho ngân hàng càng nhiều,

đa số tài sản thế chấp là QSDĐ Vì vậy, có pháp luật về kê biên tài sản là QSDĐđiều chỉnh thì khả năng thu hồi các khoản nợ này càng cao, cũng như khả năng thihành những khoản thu cho ngân sách nhà nước, tổ chức xã hội được đảm bảo

Pháp luật về kê biên tài sản là QSDĐ còn có mục đích là nhằm để ren đengười dân phải chấp hành nghiêm minh và tôn trọng pháp luật một cách triệt để vànhằm củng cố trật tự xã hội, bảo đảm giữ vững ổn định nền kinh tế của đất nước

Với ý nghĩa nêu trên có thể hiểu: Pháp luật về kiên biên tài sản là QSDĐ là

hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành nhằm điều chỉnh mối quan hệ về kiên biên tài sản là QSDĐ trong xã hội.Pháp luật về kiên biên tài sản là QSDĐ quy định những nguyên tắc, căn cứ, trình tự,thủ tục khi tiến hành kê biên tài sản là QSDĐ giúp người thi hành công vụ tránhkhỏi sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật

1.2.1.2 Đặc điểm pháp luật kê biên tài sản là quyền sử dụng đất

Thứ nhất, pháp luật về kê biên QSDĐ là một mảng pháp luật rộng lớn bao

gồm cả pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành, trong đó: Luật THADS là cơ sởchủ đạo, quy định những vấn đề cơ bản như: quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tụcthi hành bản án, quyết định của Tòa án nói chung và nguyên tắc, trình tự, thủ tục ápdụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản là QSDĐ nói riêng; Quy định thẩmquyền, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án nói chung, CHV nói riêng; quyđịnh về quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bên cạnh đó, các ngành luật khác có liênquan như: Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tốtụng dân sự chứa đựng các quy phạm có liên quan, đảm bảo cho việc thực thi việc

kê biên tài sản là QSDĐ có hiệu quả trên thực tế

Trang 20

Thứ hai, chủ thể kê biên tài sản là QSDĐ đó là cơ quan thi hành án, CHV là

chủ thể bắt buộc trong quá trình tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản là QSDĐ Áp

dụng kê biên tài sản là QSDĐ không những thể hiện tính quyền lực nhà nước, mà

còn thể hiện bản chất dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng như trách nhiệmcủa Nhà nước trong việ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Thứ ba, trình tự, thủ tục về kê biên tài sản là QSDĐ được pháp luật quy

định tương đối chặt chẽ, rõ ràng buộc các chủ thể phải tuân thủ một cách nghiêmminh Cưỡng chế kê biên tài sản là QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế phức tạp đòihỏi CHV phải nắm vững các văn bản luật có liên quan như Bộ luật dân sự, Bộ luật

Tố tụng dân sự, Luật đất đai, Luật Hôn nhân và Gia đình Như vậy đòi hỏi CHVphải có kiến thức rộng về pháp luật có liên quan đến kê biên tài sản là QSDĐ vàphải thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do Luật định

Thứ tư, pháp luật về kiên biên tài sản là QSDĐ mang tính độc lập tương đối

thể hiện ở chỗ: trên cơ sở bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực, CHV tổ chứcthi hành chủ động áp dụng pháp luật về kiên biên tài sản là QSDĐ nếu như ngườiphải thi hành án có tài sản là QSDĐ mà hết thời gian tự nguyện theo luât địnhkhông chịu thi hành mà các cơ quan khác không có quyền can thiệp vào trừ nhữngngười có thẩm quyền được quy định của pháp luật mới có quyền dừng việc kê biên

1.2.1.3 Vai trò của pháp luật kê biên tài sản là quyền sử dụng đất

Pháp luật về kê biên tài sản là QSDĐ có vai trò rất quan trọng nhằm đảm bảobản án, quyết định của Tòa án được thi hành triệt để đảm bảo tính hiệu quả, sự nghiêmminh của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhànước, giữ vững trật tự kỷ cương và ổn định xã hội, thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, pháp luật kê biên tài sản là QSDĐ thể hiện tính nghiêm minh của

pháp luật Kê biên tài sản là QSDĐ có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc giữ nghiêm

kỷ cương pháp luật, các quy định của pháp luật về kê biên tài sản là QSDĐ bảo đảmthực hiện triệt để các nghĩa vụ trong thực thi pháp luật

Thứ hai, pháp luật kê biên tài sản là QSDĐ bảo đảm việc thực hiện nghĩa

vụ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Thực tế cho thấy, nhờ có pháp luật với sức mạnh bắt buộc các chủ thể phảithi hành, lại được thực hiện bởi hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên cácbản án, các phán quyết của Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được cógiá trị thực thi trên thực tế Quan sát các vụ án lớn về kinh tế, dân sự diễn ra trongthời gian qua như: vụ án Minh Phụng Epco, Tamexco và gần đây là vụ án Bầu Kiên

Trang 21

cho thấy, nhờ có kê biên tài sản nhanh chóng, kịp thời nên đã đảm bảo cho công tácthi hành án về tài sản đã bảo toàn được một khối lượng tài sản lớn của Nhà nước,của các doanh nghiệp và các cá nhân khác; đồng nghĩa với đó là phòng tránh đượccác ý đồ tẩu tán tài sản của người phải thi hành án nhằm trốn tránh việc thực hiệnnghĩa vụ trước Nhà nước và các chủ thể khác.

Thứ ba, pháp luật kê biên tài sản là QSDĐ còn có tác dụng lớn trong việc

răn đe, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi công dân

Kê biên tài sản là QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế lớn phải huy động nhiềulực lượng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và được đưa lên thông tin đại chúng

Vì vậy, thông qua buổi cưỡng chế kê biên QSDĐ nhằm răn đe những đối tượng trây ỳ,chống đối không thực hiện nghĩa vụ của mình Hơn nữa thông qua buổi cưỡng chếnhằm tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho mỗi công dân biết thêm pháp luật vềTHADS để họ tự điều chỉnh hành vi của mình trong những trường hợp tương tự

1.2.2 Cơ cấu pháp luật điều chỉnh kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Kê biên QSDĐ trong THADS là một tập hợp các quy phạm quy định một cáchtoàn diện, cụ thể và đầy đủ nhằm giúp các cơ quan thực thi pháp luật cũng như cácchủ thể có QSDĐ thuộc diện phải kê biên để đảm bảo việc THADS trên cơ sở đó màthực hiện Theo đó, chúng được cơ cấu gồm những nhóm quy phạm cơ bản sau đây

1.2.2.1 Nhóm quy phạm quy định về căn cứ kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Đất đai là tài sản có giá trị lớn của con người, việc kê biên để thực hiện cácnghĩa vụ dân sự đối với một hoặc một số chủ thể về QSDĐ đó là đồng nghĩa chấmdứt toàn bộ hoặc một phần QSDĐ đó của chủ thể đó; chúng cũng có thể kéo theoviệc chấm dứt cả tài sản là nhà, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền vớiđất Bên cạnh đó, kê biên QSDĐ cũng có thể tác động không chỉ tới một chủ thể cóQSDĐ phải thi THADS mà chúng có thể tác động tới nhiều người khác có liên quannhư: đất đồng quyền sử dụng, đất là di sản thừa kế của nhiều người, đất là sinh kếcủa đại gia đình mà không phải mọi thành viên sống trên đất đó đều phải thực hiệnnghĩa vụ dân sự Vì vậy, kê biên QSDĐ chỉ được đặt ra và thực hiện khi chúng đảmbảo tính có căn cứ, có cơ sở theo quy định của pháp luật Quy định này đảm bảophạm vi và giới hạn của hoạt động kê biên nhằm đảm bảo việc kê biên đúng phápluật nhằm thu hồi vốn, tài sản để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nhà nước vàcho chủ thể có lợi ích bị thiệt hại Bên cạnh đó, đây cũng là quy định nhằm đảm bảo

Trang 22

quyền và lợi ích hợp pháp cho chính người có tài sản bị kê biên và các chủ thể khác

có liên quan tới lợi ích từ QSDĐ

1.2.2.2 Nhóm quy phạm quy định về nguyên tắc khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Đây là nhóm quy phạm thể hiện trực tiếp ý chí, mong muốn của Nhà nước,

là mệnh lệnh của Nhà nước đối với các chủ thể, nó chỉ rõ quyền và nghĩa vụ pháp lýcho các chủ thể tham gia vào quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh Vì vậy, bộphận quy định của định pháp luật kê biên tài sản là QSDĐ trong THADS thường trảlời cho các câu hỏi: có quyền gì? có nghĩa vụ gì? được làm gì? không được làm gì?phải làm gì và làm như thế nào?

1.2.2.3 Nhóm quy phạm quy định về trình tự, thủ tục thực hiện kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Đây là nhóm quy phạm mang tính chất thủ tục và hành chính thuần túysong đây lại là nhóm quy phạm có vai trò "định hướng" và "hướng dẫn" cho các cơquan thực thi pháp luật ở các địa phương cũng như các chủ thể thuộc diện bị kê biêntài sản là QSDĐ biết phải thực hiện những gì để đảm bảo đúng pháp luật, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình và cho xã hội Quy định này cũng là cơ

sở để người có đất bị kê biên kiểm tra việc thực thi pháp luật của cán bộ thực thinhiệm vụ tại địa phương, ngăn ngừa và hạn chế tình trạng gây phiền hà, nhũngnhiễu hoặc thiếu minh bạch, khách quan, xâm hại tới quyền lợi của người dân

1.2.2.3 Nhóm quy phạm quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự.

Biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật kê biên tài sản là QSDĐ trongTHADS, nêu lên các biện pháp tác động mà Nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối vớicác chủ thể được nêu trong phần giả định của trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụhoặc trong việc thực hiện pháp luật; hoặc khi họ vi phạm pháp luật, không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ những nghĩa vụ pháp lý được nêu trongphần quy định của pháp luật kê biên tài sản là QSDĐ trong THADS

Xét một cách logic ta thấy, thường những quy phạm quy định nghĩa vụ chocác chủ thể mới cần có biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật Điều đó là đươngnhiên vì khi Nhà nước quy định quyền cho các chủ thể, họ hoàn toàn có thể lựachọn thực hiện hay không thực hiện quyền của mình; còn khi Nhà nước quy địnhnghĩa vụ cho các chủ thể thì bắt buộc họ phải thực hiện; nếu thực hiện tốt, Nhà nước

sẽ khen thưởng, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ,

Trang 23

Nhà nước sẽ xử phạt Kê biên tài sản là QSDĐ trong THADS là nhằm bảo đảm thựchiện các nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể

1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về kê biên tài sản

là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Kê biên tài sản là QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế THADS, do CHVthực hiện quyền lực nhà nước để kê biên QSDĐ của người phải thi hành án buộcngười phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tiền theo bản án, quyết định củaTòa án, trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưngkhông tự nguyện thi hành án

Pháp luật về kê biên tài sản là QSDĐ trong THADS được hình thành vàphát triển qua các giai đoạn hình thành và phát triển của pháp luật về THADS ởnước ta từ năm 1946 có thể được khái quát qua các thời kỳ sau:

1.2.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1980

Ngày 24/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 13/SL,quy định về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán, trong đó, khoản 3, Điều 3của Sắc lệnh quy định: Ban Tư pháp xã có quyền "Thi hành những mệnh lệnh củacác Thẩm phán cấp trên" Đây chính là văn bản pháp lý đầu tiên đánh dấu sự ra đời

về tổ chức và hoạt động của các cơ quan THADS trong chế độ mới; tiếp đó ngày19/7/1946 Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa ban hành Sắc lệnh số130/SL quy định về thể thức thi hành mệnh lệnh hoặc bản án của Tòa án Có thểnói, đây là văn bản của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định riêng vềcông tác thi hành án, thẩm quyền và thể thức thi hành bản án

Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về "cải cách

bộ máy tư pháp và luật tố tụng" Theo quy định này, việc THADS do Thừa phát lại

và Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây được giao cho Thẩm phán huyện thực hiệndưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án

Năm 1960, công tác thi hành án tiếp tục có thêm bước phát triển mới, đó làtrên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Điều 24 Luật Tổ chức TAND năm 1960 đã quyđịnh: "Tại các Tòa án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm

vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường vàtài sản trong các bản án, quyết định hình sự" Như vậy, thay bằng quy định Thẩmphán vừa thực hiện công tác xét xử, vừa kiêm nhiệm công tác THADS thì theo quyđịnh mới này từ năm 1960, tại các TAND đã có nhân viên chấp hành án chuyêntrách thực hiện nhiệm vụ thi hành dân sự

Trang 24

Có thể nói giai đoạn này pháp luật về kê biên tài sản là QSDĐ chưa đượcquy định rõ ràng, việc kê biên tài sản là QSDĐ quyền chỉ được thực hiện khi cácphán quyết của Tòa án tuyên kê biên các tài sản trên đất (tài sản gắn liền với đất,chưa có quy định kê biên QSDĐ); mặt khác các quy định về kê biên tài sản gắn liềnvới đất cũng chỉ được quy định rất ít trong các Sắc lệnh, Luật tổ chức Tòa án; ngườilàm công tác THADS cũng chưa được quy định rõ ràng thuộc một cơ quan cụ thể nào.

1.2.3.2 Giai đoạn từ 1981 đến 1993

Ngày 18 tháng 12 năm 1980, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ hòa bình, đánh dấu mộtdấu mốc lịch sử quan trọng khi đất nước ta chuyển mình sang một giai đoạn mới.Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên đã ghi nhận thành nguyên tắc hiến định về giá trịthi hành của các bản án, quyết định (Điều 137) Đây chính là những cơ sở pháp lýquan trọng giúp các cơ quan THADS có những chuyển biến quan trọng trong lịch

sử phát triển của mình trong giai đoạn 1981-1989

Ngày 28 tháng 8 năm 1989, Pháp lệnh THADS đầu tiên được ban hành, tạo

cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động

THADS Trên cơ sở đó, Quy chế CHV đã được ban hành kèm theo Nghị định số 68/ HĐBT ngày 06 tháng 3 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng Theo quy định của

Pháp lệnh THADS năm 1989 và Quy chế CHV thì chỉ có CHV là người được nhà

nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án

Giai đoạn này pháp luật về THADS nói chung và pháp luật về kê biên tàisản nói riêng đã có quy định cụ thể, rõ ràng hơn; theo đó Pháp lệnh 1989 quy định:

"Khi bản án, quyết định của tòa án được đưa ra thi hành thì người phải thi hành án

có nghĩa vụ tự nguyện thi hành; nếu không tự nguyện thi hành thì CHV áp dụngbiện pháp cưỡng chế thi hành" (Điều 5 Pháp lệnh THADS 1989) Trong trường hợpcưỡng chế trả nhà cho người được thi hành án thì CHV cho chuyển đồ đạc củangười phải thi hành án ra khỏi nhà và giao nhà cho người được thi hành án (Điều 36Pháp lệnh THADS 1989)

1.2.3.3 Giai đoạn từ năm 1993 đến trước khi Luật thi hành án dân sự 2008 được ban hành

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 266-TTg ngày 02/6/1993 vềviệc triển khai việc bàn giao và tăng cường công tác THADS; liên ngành giữa Bộ

Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ban

Tổ chức - cán bộ Chính phủ, Bộ Tài chính và Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban

Trang 25

hành Thông tư liên ngành số 01-TTLN ngày 26/5/1993 hướng dẫn việc bàn giaocông tác THADS.

Ngày 14/01/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh THADSnăm 2004 với nhiều đổi mới quan trọng về THADS, trong đó có cả đổi mới về tổchức, cán bộ các cơ quan THADS và trình tự, thủ tục THADS, trong đó có quy định

về kê biên tài sản là QSDĐ, cụ thể: CHV có quyền kê biên tài sản nếu có căn cứ chorằng tài sản đó là của người phải thi hành án, kể cả QSDĐ hoặc tài sản đang dongười thứ ba giữ (khoản 1, Điều 41 Pháp lệnh THADS năm 2004) Chuyển giaoquyền sở hữu tài sản, chuyển QSDĐ (Điều 49 Pháp lệnh THADS năm 2004)

1.2.3.4 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay

Ngày 14/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật THADS năm 2008,văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước tới nay

Để tiếp tục hoàn thiện thể chế về THADS, ngày 25 tháng 11 năm 2014 tại Kỳhọp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS, cóhiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, ngày 20 tháng 7 năm 2015, Chínhphủ ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luậtsửa đổi bổ sung một số điều của Luật THADS, các văn bản này đã tạo hành lang pháp

lý vững chắc cho công tác THADS nói chung và pháp luật về kê biên tài sản làQSDĐ nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác THADS trong thời kỳ mới

Nghị quyết số 49/NQ-TW đã khẳng định mạnh mẽ vai trò của hoạt độngTHADS trong thực thi công lý mục đích là xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản áncủa Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính viphạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành, đồng thờinhấn mạnh chủ trương xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho

tổ chức không phải là cơ quan thi hành án thông qua chế định Thừa phát lại để hỗtrợ tốt hơn cho hoạt động THADS

Triển khai đường lối trên, nằm trong tổng thể lý luận xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã lãnh đạo việc thể chế hóa hoạt động bảo

vệ công lý tại các văn bản pháp lý quan trọng cao nhất của nước ta đó là Hiến phápnăm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật tổ chức TAND năm 2014, Luật

Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộluật dân sự năm 2015, Luật đất đai năm 2013 v.v , trên tinh thần đó, để phù hợpvới tình hình đất nước ngày 25/11/2014 Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi bổ sungmột số điều của Luật THADS và để cụ thể hóa những điều đã sửa đổi, bổ sung một

Trang 26

số điều của Luật THADS, ngày 18/7/2015 đã ban hành Nghị định 62/2015/NĐ-CPquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS.

Nhìn tổng thể quá trình hình thành của pháp luật THADS nói chung vàpháp luật về kê biên QSDĐ trong THADS nói riêng trong những thời kỳ đầu chưađược chú trọng, vì trong những thời kỳ đầu quyền của con người chưa thật sự đượcbảo vệ một cách chính đáng, đến những năm gần đây và nhất là trong thời kỳ nàynhận thức của người dân về quyền lợi chính đáng của mình ngày càng sâu rộng hơn,

đa số người dân tin tưởng vào pháp luật ngày càng nhiều Tuy nhiên với một đấtnước đang phát triển thì tình hình an ninh, chính trị ngày càng phức tạp, nhất là những

vụ án có liên quan đến tranh chấp đất đai, đòi lại QSDĐ ngày càng nhiều, càng phứctạp, nhiều vụ án khiếu nại kéo dài nhưng nhờ có một hệ thống pháp luật THADSnói chung và pháp luật về kê biên QSDĐ trong THADS nói riêng trong giai đoạnnày là rất quan trọng Vời hệ thống pháp luật THADS nói chung và pháp luật về kêbiên QSDĐ trong THADS nói riêng trong giai đoạn hiện nay đã tương đối hoànchính, trình tự thủ tục của pháp luật kê biên QSDĐ trong THADS đã quy định rõràng, cụ thể giúp các CHV áp dụng một cách thống nhất, đồng bộ hạn chế sai sót

Với ý nghĩa là một biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm THADS; đảm bảoquyền lợi của các bên đương sự; Kê biên QSDĐ cũng góp phần hoàn thiện thủ tụcTHADS Sau khi Việt Nam thực hiện đổi mới toàn diện năm 1986, thủ tục kê biênQSDĐ được dần dần hoàn thiện qua các văn bản pháp luật như Pháp lệnh THADS

1993, Pháp lệnh THADS 2004, Luật THADS năm 2008 và Luật THADS sửa đổi,

Trang 27

bổ sung năm 2014 nhằm đáp ứng được trong công cuộc đổi mới của đất nước trong

cơ chế thị trường

Trang 28

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT

VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH HÒA BÌNH

2.1 Thực trạng pháp luật về kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

2.1.1 Căn cứ kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

2.1.1.1 Cơ sở lý luận pháp luật quy định kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Quyền sử dụng đất là một loại tài sản nên có thể được giao dịch dân sự,điều này được quy định trong Bộ luật dân sự QSDĐ được thực hiện trong các giaodịch dân sự như chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, tặng cho, góp vốn và thừa kế.Hiện nay ở khắp nơi trên cả nước việc chuyển nhượng và chuyển đổi mục đích sửdụng QSDĐ gia tăng với lượng lớn mang lại nhiều nguồn lợi lớn cho Nhà nước, tổchức và cá nhân Với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta coi QSDĐ làmột nguồn lực cho đầu tư công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Cùng với sựphát triển của đất nước việc kê biên QSDĐ trong những năm gần đây ngày càng giatăng về số vụ việc trong các cơ quan THADS tỉnh Hòa Bình

Quyền sử dụng đất là một loại tài sản có giá trị lớn, việc kê biên bán đấu giá

có tính khả thi cao trong việc thi hành nhiều nghĩa vụ THADS

Trước khi đổi mới đất nước năm 1996, Nhà nước không cho phép tổ chức

và cá nhân được mua bán đất đai mà chỉ được mua bán hoa màu trên đất Hơn nữanhu cầu của tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng đất trong thời kỳ này không nhiều;Giá trị của đất đai không được xã hội và Nhà nước chú trọng, vì vậy giá trị củaQSDĐ không lớn Sau công cuộc đổi mới, đặc biệt sau khi có Luật đất đai năm

1993 có hiệu lực đến nay, đất đai được Nhà nước quan tâm quản lý; Nhà nước giaocho tổ chức, cá nhân được sử dụng QSDĐ theo quy định của pháp luật QSDĐ trởthành một tài sản có giá trị lớn, nó đảm bảo cho việc thi hành nhiều nghĩa vụ trongcông tác THADS hành án dân sự Trong Luật THADS kê biên QSDĐ ngoài quyđịnh ở phần chung, Luật còn quy định thêm một Mục riêng để điều chỉnh về biện

Trang 29

pháp kê biên này Qua đó chúng ta thấy được tầm quan trọng của loại tài sản đặcbiệt này.

2.1.1.2 Cơ sở thực tiễn pháp luật quy định kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Trong nền kinh tế thị trường, QSDĐ là đối tượng của nhiều giao dịch dân sựbởi vì QSDĐ có giá trị lớn Ví dụ: Ở những nơi vùng sâu, vùng xa QSDĐ là một tàisản mà mỗi một cá nhân cả đời tích lũy mới có, còn ở đô thị và những nơi gần các nútgiao thông thì một lô đất 100m2 đất thổ cư có thể trị giá vài tỉ đồng, đối với các vùngkhác một lô đất ở 100m2 đất thổ cư trị giá khoảng vài trăm triệu đồng Thông qua cácgiao dịch chuyển nhượng QSDĐ, cho thuê QSDĐ Nhà nước thu một khoản thu từ thuếrất lớn bổ sung cho nguồn thu ngân sách nhà nước Ngoài ra QSDĐ còn được sử dụngnhư là một nguồn vốn góp với các dự án liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài,QSDĐ trở thành một nguồn lực cho sự phát triển đất nước thực hiện công nghiệphóa và hiện đại hóa đất nước Chính vì thực tiễn QSDĐ là tài sản có giá trị lớn, do vậy

nó là cơ sở thực tiễn cho việc quy định chế định kê biên QSDĐ trong Luật THADS

Hơn nữa kể từ khi đổi mới đến nay, có nhiều tranh chấp dân sự, hôn nhân vàgia đình và kinh doanh thương mại có giá trị tiền có số lượng lớn Ngoài ra xuất hiệncác vụ án hình sự các tội về tham nhũng cũng có số tiền lớn, lên tới hàng nghìn tỉ phảithi hành án Thực tế việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế kê biên các tài sản có giá trịthấp không bảo đảm cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án Do vậy cần phải

có quy định kê biên QSDĐ trong pháp luật THADS là nhu cầu thực tế, khách quan

Kê biên QSDĐ là biện pháp thường được áp dụng để thi hành nghĩa vụ trảtiền, không chỉ do nó là tài sản có giá trị lớn mà còn bởi do QSDĐ là bất động sảnnên không di dời được, việc chuyển nhượng QSDĐ phải thực hiện theo thủ tục chặtchẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành cho nên người phải thi hành ánkhông dễ dàng tẩu tán được

2.1.2 Nguyên tắc khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất

2.1.2.1 Chấp hành viên mới có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất

Chấp hành viên phải là công dân Việt Nam có phẩm chất chính trị vữngvàng, đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, được đào tạo lớp nghiệp vụ CHV và phảiqua kỳ thi tuyển CHV CHV gồm CHV sơ cấp, CHV trung cấp và CHV cao cấp;CHV được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm; CHV là người được Nhà nước giaonhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Tòa án Theo quy định của Điều 17

Trang 30

Luật THADS chỉ có chức danh CHV mới có quyền áp dụng các biện pháp cưỡngchế, trong đó có biện pháp kê biên QSDĐ.

2.1.2.2 Chỉ được kê biên quyền sử dụng đất tương ứng với nghĩa vụ thi hành án

Nguyên tắc chỉ kê biên QSDĐ tương ứng với nghĩa vụ của người phải thihành án, CHV phụ trách vụ việc cần phải cân nhắc kỹ trước khi kê biên QSDĐ củangười phải thi hành án làm sao tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án Để thựchiện đúng nguyên tắc này CHV phải đánh giá sơ bộ giá trị của QSDĐ trước khi kêbiên bằng cách trưng cầu các cơ quan chức năng thẩm định giá Giá trị của QSDĐ

kê biên sau khi trừ đi các chi phí và phần nghĩa vụ phải thực hiện phải đảm bảongang bằng, tương xứng với nghĩa vụ phải thi hành án tránh trường hợp kê biênQSDĐ với giá quá lớn gây tổn hại đến quyền lợi của người thi hành án Nguyên tắcnày không những bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án mà còn bảo vệ vềquyền tài sản của người phải thi hành án, tránh những tổn thất cho các bên đương

sự Tuy nhiên trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớnhơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chiađược hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì CHV vẫn cóquyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ của người phải thi hành án

2.1.2.3 Không tổ chức cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất trong những thời gian mà pháp luật quy định không được cưỡng chế thi hành án

Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân và vì nhân dân; Do nhân dân làm chủ; Tất cả quyền lực thuộc vềnhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân vàđội ngũ trí thức Với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính nhân đạotrong hoạt động quản lý nhà nước, Điều 13, Khoản 2 Nghị định số 62 ngày 18 tháng

7 năm 2015 quy định cơ quan THADS không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huyđộng lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; Các ngàytruyền thống đối với các đối tượng chính sách Nếu họ là người phải thi hành án.Nguyên tắc này thể hiện tính nhân đạo ở chỗ tránh cho người phải thi hành án không bịcưỡng chế kê biên QSDĐ trong các ngày tết, ngày lễ và những ngày truyền thốngcủa họ được hưởng như ngày thương binh, liệt sĩ mà họ là đối tượng được hưởng

2.1.2.4 Không tổ chức cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất thuộc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên

Trang 31

Cơ quan THADS trước khi kê biên QSDĐ, CHV cần phải xác minh kỹlưỡng, chi tiết nguồn gốc của QSDĐ xem có phải là những đất đai có nguồn gốcNhà nước giao cho các tổ chức quản lý, sử dụng vì mục đích phục vụ quốc phòng,

an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức

Ví dụ như QSDĐ giao cho quân đội làm doanh trại, làm nhà máy, nhà xưởng, khobãi, trường bắn Cũng như QSDĐ được cấp cho các cơ quan Đảng, cơ quan nhànước trong bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội làm trụ sở làm việc

Ngoài ra, CHV còn phải xác định những QSDĐ Nhà nước giao cho tổ chức

là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xây dựng nhà trẻ,trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếukhông phải là tài sản để kinh doanh Đây là những tài sản gắn liền với QSDĐ củacác cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ cho người lao động an tâm công tác,tận tâm, tận lực hết sức mình phục vụ cho doanh nghiệp, gắn với doanh nghiệp vìmục tiêu phát triển bền vững của doanh nghiệp Tất cả những bất động sản nêu trênđều được Nhà nước bảo đảm không được kê biên để thi hành án

2.1.2.5 Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức

và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan THADS trong việc thi hành án Cơquan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quanTHADS, CHV theo quy định của pháp luật THADS Mọi hành vi cản trở, can thiệptrái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan THADS đều bị xử lý theo quy định củapháp luật (Điều 11 Luật THADS) Trong Luật THADS và các văn bản pháp luậtTHADS quy định trách nhiệm phối hợp của một số các cơ quan như sau:

Bô Công an trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành văn bảnquy phạm pháp luật về THADS; Phối hợp bảo vệ kho vật chứng của cơ quan THADStrong trường hợp cần thiết; Phối hợp với cơ quan THADS trong việc tổ chức cưỡngchế THADS; Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tác THADS (Điều 169Luật THADS); Phối hợp với cơ quan THADS trong việc trả tiền, giấy tờ, tài sản củangười phải thi hành án tại trại giam và tạm giam Đồng thời thu các khoản tiền nộpngân sách nhà nước của phạm nhân, là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ tựnguyện nộp tại trại giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện để thi hành án

Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành vănbản quy phạm pháp luật về THADS; Phối hợp với cơ quan THADS trong công tác

Trang 32

THADS, giải quyết các yêu cầu giải thích, đề nghị xem xét theo thủ tục Giám đốcthẩm hoặc tái thẩm của cơ quan THADS trong thời hạn quy định của pháp luật;Phối hợp với cơ quan THADS đề nghị Tòa án xét, quyết định miễn, giảm hình phạtđối với khoản thu cho ngân sách nhà nước cho những người phải thi hành án có đủđiều kiện theo quy định của pháp luật; Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kếtcông tác THADS (Điều 170 Luật THADS).

Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc banhành văn bản quy phạm pháp luật về THADS; Phối hợp với cơ quan THADS trongviệc tổ chức cưỡng chế THADS; Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết côngtác THADS (Điều 171 Luật THADS)

Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơquan có liên quan trong THADS trên địa bàn; Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thihành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xãhội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan THADS cùng cấp; Chủ tịchUBND cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với CHV và

cơ quan THADS trong việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án,

áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác

về THADS trên địa bàn (Điều 173, 174 Luật THADS)

Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khácphối hợp với các cơ quan THADS cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu

về tài khoản của người phải thi hành theo yêu cầu của CHV, cơ quan THADS; Thựchiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của CHV về phong tỏa tài khoản, phong tỏa tàisản; Khấu trừ tiền trong tài khoản; Giải tỏa việc phong tỏa tài khoản, phong tỏa tàisản của người phải thi hành án (Điều 176 Luật THADS)

Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội phối hợp với cơ quan THADS cung cấpđúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thihành án đang được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của CHV, cơ quanTHADS (Điều 177 Luật THADS)

Trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm phốihợp với cơ quan THADS như tạm dừng hoặc dừng việc thực hiện các yêu cầu liênquan đến các giao dịch đối với tài sản của người phải thi hành án đăng ký tại cơquan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm ngay sau khi nhận được yêu cầucủa CHV, cơ quan THADS; Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản, QSDĐcho người mua được tài sản, người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền

Trang 33

được thi hành án; Thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu,QSDĐ, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; Thựchiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy định của pháp luật (Điều 178 Luật THADS).

2.1.3 Các yêu cầu chung khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất

Thứ nhất, yêu cầu về tính pháp lý

Hiến pháp năm 2013, Điều 106 quy định: "Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng;

cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" Để các bản

án, quyết định của Tòa án được thi hành trên thực tế, trong quá trình tổ chức thihành án cơ quan THADS luôn lựa chọn biện pháp vận động, thuyết phục người phảithi hành án tự nguyện thi hành án Tuy nhiên, không phải lúc nào người phải thihành án cũng tự nguyện thi hành án theo đúng phán quyết của Tòa án Trong rấtnhiều trường hợp, người phải thi hành án có điều kiện nhưng không tự nguyện thihành án, buộc cơ quan thi hành án phải tổ chức cưỡng chế thi hành án Trong đóbiện pháp kê biên, xử lý tài sản là QSDĐ của người phải thi hành án là biện phápcưỡng chế nghiêm khắc nhất, phức tạp nhất trong các biện pháp cưỡng chế mà cơquan thi hành án áp dụng Kê biên tài sản là QSDĐ chính là việc cơ quan THADStước đi quyền tự định đoạt đối với tài sản của chủ sở hữu, sử dụng tài sản Do đó,bên cạnh việc đảm bảo quyền và lợi ích của người được thi hành án theo phán quyếtcủa Tòa án thì cũng phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thihành án đối với tài sản bị kê biên, xử lý nên trình tự thủ tục kê biên, xử lý tài sản làQSDĐ được quy định hết sức chặt chẽ qua nhiều giai đoạn từ tiến hành kê biên,định giá tài sản, bán đấu giá tài sản và giao tài sản cho người mua trúng đấu giá

Thứ hai, yêu cầu về xác minh trước khi kê biên tài sản là QSDĐ

Phải xác định đúng các loại đất được kê biên, đấu giá và điều kiện để kêbiên, đấu giá QSDĐ Nếu không xác định đúng loại QSDĐ được kê biên, đấu giá,thì rất có thể kê biên, bán đấu giá "nhầm" các loại đất không được kê biên, đấu giá.Phải căn cứ vào các giấy tờ về QSDĐ của người phải thi hành án để xác định vị trí,diện tích, ranh giới thửa đất bị kê biên

- Trước khi kê biên tài sản là QSDĐ, CHV yêu cầu cơ quan đăng ký cungcấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký và sau khi kê biên, CHV thông báobằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử lý theo quy địnhcủa pháp luật

- Yêu cầu về xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để kê biên: Trong

Trang 34

trường hợp chưa xác định được phần QSDĐ của người phải thi hành án trong khốitài sản chung để thi hành án thì CHV phải thông báo cho người phải thi hành án vànhững người có sở hữu chung về QSDĐ biết để họ tự thỏa thuận phân chia hoặcyêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Còn đối với trường hợp tàisản chung có thể chia được thì CHV áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên phần tàisản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án Đối với tài sản chungkhông thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thìCHV có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán chochủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

- Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án trong trường hợpcần huy động lực lượng Kế hoạch cưỡng chế phải thể hiện rõ những nội dung vềngười bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, phương án tiến hành, dự trù kinh phí cưỡngchế, thời gian, địa điểm cưỡng chế, dự trù lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế Kếhoạch này phải gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan công an cùng cấp,UBND cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến kếhoạch cưỡng chế của CHV

Thứ ba, yêu cầu về bảo quản tài sản sau khi kê biên: Sau khi kê biên diện

tích đất đang do người phải thi hành án quản lý, khai thác, sử dụng thì CHV tạm giaodiện tích đất đã kê biên cho người đó Còn trường hợp diện tích đất đã kê biên đang tổchức hoặc cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng thì tạm giao cho tổ chức, cá nhân

đó Trong thời gian tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên, người đượctạm giao không được thay đổi hiện trạng và không được chuyển quyền sở hữu bằng bất

cứ hình thức nào Nếu cá nhân, tổ chức nhận quản lý, khai thác, sử dụng mà vi phạmthì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật hoặc

bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy địnhcủa pháp luật Còn nếu các tổ chức, cá nhân đang quản lý, khai thác, sử dụng khôngchịu nhận quản lý thì CHV giao cho tổ chức, cá nhân khác quản lý, khai thác sửdụng Nếu không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào nhận quản lý thì CHV phải tiếnhành ngay việc định giá và bán đấu giá theo quy định của pháp luật

2.1.4 Trình tự, thủ tục thực hiện kê biên tài sản là quyền sử dụng đất

2.1.4.1 Lập hồ sơ, xác minh điều kiện thi hành án và ra quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất

- Lập hồ sơ thi hành án: Quyết định thi hành án là căn cứ để CHV lập hồ sơthi hành án Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày được phân

Trang 35

công, CHV phải lập hồ sơ thi hành án Hồ sơ thi hành án phải thể hiện toàn bộ quátrình tổ chức thi hành án của CHV đối với việc thi hành án CHV phải ghi chép cáccông việc và lưu giữ tất cả các tài liệu đã và đang thực hiện vào hồ sơ thi hành ángồm: bản án, quyết định; Các biên bản bàn giao, xử lý vật chứng, tài sản đã kê biên,tạm giữ; Biên bản xác minh, biên bản giải quyết việc thi hành án (có chữ ký của cácđương sự vào tất cả các biên bản); Giấy triệu tập; Giấy mời; Các đơn yêu cầu, khiếunại về thi hành án; Các biên lai, phiếu thu, phiếu chi; Các tài liệu liên quan đến việc

xử lý tài sản để thi hành án; Các công văn, giấy tờ của cơ quan thi hành án, các tổchức, cá nhân liên quan đến việc thi hành án, như: Công văn xin ý kiến hướng dẫn,chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án; Công văn trao đổi với cá nhân, cơ quan, tổ chức hữuquan trong quá trình thi hành án; Công văn yêu cầu chuyển tiền, tang vật còn thiếuhoặc chưa chuyển giao cho cơ quan thi hành án và các giấy tờ, tài liệu khác liên quan

Hồ sơ thi hành án phải có bìa in theo mẫu thống nhất theo quy định CHV

có trách nhiệm ghi đầy đủ, chi tiết nội dung các mục đã in trên bìa hồ sơ Trườnghợp bìa hồ sơ đã cũ, nát, ố nhàu thì được thay thế bằng bìa hồ sơ mới Bìa hồ sơ mớiphải ghi đầy đủ các cột mục, nội dung của bìa hồ sơ cũ Các tài liệu có trong hồ sơthi hành án phải được sắp xếp cẩn thận, đánh số bút lục và liệt kê đầy đủ vào bảngdanh mục in trên bìa hồ sơ thi hành án CHV phải liệt kê và sắp xếp tài liệu theo thứ

tự bắt đầu từ bút lục số 01 cho đến bút lục cuối cùng

- Xác minh điều kiện thi hành án: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hếtthời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hànhthì CHV tiến hành xác minh; Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay

Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin

về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan THADS và phải chịu tráchnhiệm về việc kê khai của mình

Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất

06 tháng một lần, CHV phải xác minh điều kiện thi hành án; Trường hợp ngườiphải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù

mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác địnhđược địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất

01 năm một lần Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điềukiện thi hành án thì cơ quan THADS phải thông báo bằng văn bản cho người được

Trang 36

thi hành án về kết quả xác minh Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tinmới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

- Ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ: Để ra quyết định cưỡng chế kêbiên QSDĐ, CHV phải tiến hành xác minh tài sản tại thực địa về diện tích, tờ bản

đồ, số thửa đất, loại đất và vị trí ranh giới thửa đất được kê biên xem có khớp vớigiấy chứng nhận QSDĐ được cấp cho người phải thi hành án không ? Sau đó CHVtiến hành xác minh tại cơ quan đăng ký QSDĐ để biết thông tin về tài sản về giaodịch bảo đảm, xem QSDĐ của người phải thi hành án đã đăng ký giao dịch bảo đảmcho một nghĩa vụ nào đó hay chưa ? Nếu có CHV phải xác định giá trị còn lại có đủ

để thi hành án sau khi đã trừ đi các khoản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm Trên

cơ sở đó CHV mới có thể ra quyết định kê biên QSDĐ của người phải thi hành án

2.1.4.2 Tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản là quyền sử dụng đất

Trước khi tiến hành tổ chức cưỡng chế kê biên QSDĐ, CHV phải lập kếhoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế trong trường hợp người phải thihành án tẩu tán tài sản hoặc trong trường hợp khẩn cấp tạm thời thì kế hoạch cưỡngchế thi hành án bao gồm các nội dung chính như: Tên người bị áp dụng biện phápcưỡng chế; Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; Thời gian, địa điểm cưỡng chế;Phương án tiến hành cưỡng chế; Yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế;

lý hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chốngđối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội (Điều 72 Luật THADS)

Chấp hành viên chỉ kê biên QSDĐ của người phải thi hành án thuộc trườnghợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai Người phảithi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ mà thuộc trường hợp được cấpgiấy chứng nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy

Trang 37

hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên,

xử lý QSDĐ đó (Điều 110)

Khi kê biên QSDĐ, CHV yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản

lý giấy tờ về QSDĐ phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan THADS Việc kê biênQSDĐ có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì

kê biên cả QSDĐ và tài sản gắn liền với đất Trường hợp đất của người phải thihành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khácthì CHV chỉ kê biên QSDĐ và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất Việc

kê biên QSDĐ phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kêbiên, có chữ ký của những người tham gia kê biên (Điều 111)

Đúng thời gian, địa điểm CHV tập trung lực lượng cưỡng chế tại UBND xã,nơi có QSDĐ kê biên để họp bàn trước khi cưỡng chế nhằm mục đích đánh giá lạitình hình lần cuối trước khi cưỡng chế; Dự kiến những tình huống có thể xảy ra vàphương án giải quyết những tình huống đó Từ đó phân công nhiệm vụ cho từngthành viên trong đoàn cưỡng chế để phối hợp nhịp nhàng trong quá trình cưỡng chế

kê biên QSDĐ

Sau khi họp bàn cưỡng chế xong, đoàn cưỡng chế kê biên QSDĐ xuống địađiểm tiến hành cưỡng chế Trước tiên CHV phải giới thiệu thành phần cưỡng chế,sau đó công bố quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ; Chỉ đạo các thành phần cưỡngchế thực hiện công việc đã phân công Khi kê biên QSDĐ phải được lập biên bản,biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên CHV, các thành phầntham gia cưỡng chế, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản,người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc biên; Mô tảtình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng Biênbản kê biên phải có chữ ký của đương sự hoặc người được ủy quyền, người làmchứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế,thành phần tham gia cưỡng chế, CHV và người lập biên bản Kết thúc buổi cưỡngchế kê biên QSDĐ, CHV thông qua biên bản cưỡng chế Sau đó trở về UBND xã tổchức rút kinh nghiệm trong buổi cưỡng chế kê biên QSDĐ

2.1.5 Xử lý quyền sử dụng đất đã kê biên

2.1.5.1 Định giá tài sản là quyền sử dụng đất

Định giá QSDĐ về nguyên tắc ngay sau khi kê biên tài sản mà đương sựthỏa thuận được về giá trị QSDĐ hoặc về tổ chức thẩm định giá thì CHV lập biênbản về thỏa thuận đó Giá QSDĐ do đương sự thỏa thuận là giá khởi điểm để bán

Trang 38

đấu giá Trường hợp đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá thì CHV kýhợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, CHV ký hợpđồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:

- Đương sự không thỏa thuận được về giá và không thỏa thuận được việclựa chọn tổ chức thẩm định giá;

- Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồngdịch vụ;

- Thi hành phần bản án, quyết định quy định tại Khoản 2, Điều 36 của Luậtthi hành án sửa đổi, bổ sung năm 2014

CHV xác định giá QSDĐ trong các trường hợp đương sự không thỏa thuậnđược về giá và không thỏa thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá; Tổ chứcthẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ; Thi hànhphần bản án, quyết định quy định tại Khoản 2, Điều 36 của Luật thi hành án sửa đổi,

bổ sung năm 2014

2.1.5.2 Bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất

Thủ tục bán đấu giá QSDĐ trước Pháp lệnh THADS năm 2004 là do CHVthực hiện Nhưng hiện nay việc bán đấu giá QSDĐ do các tổ chức bán đấu giá thựchiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản

Về nguyên tắc đương sự có quyền thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá trongthời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định giá CHV ký hợp đồng dịch

vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do đương sự thỏa thuận Trường hợpđương sự không thỏa thuận được thì CHV lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợpđồng dịch vụ bán đấu giá tài sản Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản đượctiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá Còn việc bán đấu giá đối vớibất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng

Tuy nhiên CHV cũng có quyền bán đấu giá QSDĐ trong trường hợp tại tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương nơi có QSDĐ chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc cónhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản Việc bánđấu giá đối bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận đượcvăn bản của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá (Điều 101 Luật THADS)

Trang 39

Trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án cóquyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế,hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá Người phảithi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký muatài sản Mức phí tổn do các bên thỏa thuận; Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầuTòa án giải quyết.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổchức bán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có ngườitham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì CHV thông báo và yêucầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản Trong thời hạn 10 ngày, kể từngày nhận được thông báo, nếu đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận khôngđược về mức giảm giá thì CHV quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá.Mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó

2.1.5.3 Giao tài sản là quyền sử dụng đất

Sau khi tổ chức bán đấu giá quyền thành sử dụng đất thành công thì việcgiao QSDĐ cho người trúng đấu giá được thực hiện như sau:

- Trường hợp tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyếtđịnh có hiệu lực pháp luật thì CHV yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyểntài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án Nếungười có tài sản không thực hiện thì CHV cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản rakhỏi diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác.Chi phí cưỡng chế do người có tài sản chịu

- Trường hợp người có tài sản gắn liền với đất từ chối nhận tài sản thì CHVlập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản, giao tài sản cho

tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan THADS

và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản Hết thời hạnthông báo mà người có tài sản không đến nhận thì tài sản được xử lý định giá, bánđấu giá và xử lý tiền bán đấu giá theo quy định;

- Trường hợp tài sản gắn liền với đất có trước khi có bản án, quyết định sơthẩm nhưng bản án, quyết định được thi hành không tuyên rõ việc xử lý đối với tàisản đó thì cơ quan THADS yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích rõviệc xử lý đối với tài sản hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại nội dungbản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 117 Luật THADS)

Ngày đăng: 07/08/2022, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Quốc hội (1995), Bộ luật dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1995
15. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003
16. Quốc hội (2004), Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2004
17. Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
18. Quốc hội (2008), Luật Thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thi hành án dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2008
19. Quốc hội (2012), Luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2012
20. Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
21. Quốc hội (2014), Luật Thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thi hành án dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
22. Quốc hội (2015), Bộ luật dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
23. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
25. Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp (2012), Sổ tay nghiệp vụ thi hành án dân sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay nghiệp vụ thi hành ándân sự
Tác giả: Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2012
26. Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp (2013), Tài liệu hội nghị triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội nghị triển khaicông tác thi hành án dân sự năm 2013
Tác giả: Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp
Năm: 2013
27. Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp (2014), Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án dân sự năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụthi hành án dân sự năm 2014
Tác giả: Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp
Năm: 2014
28. Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp (2015), Tài liệu hội nghị triển khai công tác 5 năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội nghị triển khaicông tác 5 năm 2015
Tác giả: Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp
Năm: 2015
29. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 1999
30. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thi hành án dân sự ViệtNam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2012
31. Lê Anh Tuấn (2015), Những điểm mới về cưỡng chế thi hành án dân sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới về cưỡng chế thi hành án dân sự
Tác giả: Lê Anh Tuấn
Nhà XB: Nxb Tưpháp
Năm: 2015
32. Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
33. Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2014), Từ điển Chữ nôm, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Chữ nôm
Tác giả: Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 2014
34. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1989), Pháp lệnh Thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Thi hành án dân sự
Tác giả: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Năm: 1989

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w