1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Chuyên đề) thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở tòa án nhân dân nơi tác giả thực tập

35 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 216,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời nói đầu Khủng hoảng tài chính Mĩ và những hệ quả kéo theo của nó đã và đang làm chao đảo nền kinh tế thế giới. Rất nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới (AIG, Lehman, General Motors, Ford, Chryslys…) lâm vào tình trạng phá sản hay có nguy cơ phá sản. Chính phủ Mĩ đã tung ra nhiều gói cứu trợ trị giá hàng trăm tỉ đô la nhằm cứu vãn tình hình, ngăn chặn tình trạng phá sản, suy thoái tràn lan theo hiệu ứng đômino. Nhưng họ đã đạt được gì? Chỉ là sự đóng băng của thị trường tài chính, thị trường bất động sản. Những ông chủ như ngồi trên đống lửa. Nhiều người trốn tránh trách nhiệm bằng cách điên rồ nhất: kết thúc cuộc đời mình. Khủng hoảng tài chính Mĩ làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu. Nó đã có những tác động tiêu cực không nhỏ đến tất cả các nền kinh tế trên thế giới. Và Việt nam là một trong số đó. Theo thông tin từ phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thì đã có tới 7000 doanh nghiệp công bố giải thể và hơn 3000 doanh nghiệp khác đã phải ngừng sản xuất. Ngoài ra tính mức chung bình chung cho cả khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, mức suy giảm lên tới 3050% so với trước đây. Thống kê của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa về tác động khủng hoảng kinh tế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa cho thấy, trong tổng số doanh nghiệp, các doanh nghiệp khó khăn trung bình khoảng 70%, rất khó khăn chiếm khoảng 20%.Nếu không được tiếp cận vốn và tình hình xấu đi, sẽ có khoảng 20% tổng số doanh nghiệp bị phá sản hoặc đứng trước nguy cơ phá sản. Con số thống kê là thế Nhưng con số thực tế chắc chắn còn nhiều hơn Phải chăng lúc này các ông chủ doanh nghiệp cũng nên chuẩn bị cho mình một đường lùi tốt nhất? Có nhiều người chọn cách nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Đó cũng không phải là một giải pháp tồi. Vậy phá sản là gì? Các bước khi giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã được tiến hành ra sao?... Em chọn đề tài: “Thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở Tòa án nhân dân nơi tác giả thực tập” không ngoài mục đích làm rõ vấn đề trên. Do vốn kiến thức còn hạn hẹp, chuyên đề có thể còn nhiều thiếu xót. Rất mong được sự thông cảm của các thầy cô giáo

Trang 1

Lời nói đầu

Khủng hoảng tài chính Mĩ và những hệ quả kéo theo của nó đã và đanglàm chao đảo nền kinh tế thế giới Rất nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới (AIG,Lehman, General Motors, Ford, Chryslys…) lâm vào tình trạng phá sản hay cónguy cơ phá sản Chính phủ Mĩ đã tung ra nhiều gói cứu trợ trị giá hàng trăm tỉ

đô la nhằm cứu vãn tình hình, ngăn chặn tình trạng phá sản, suy thoái tràn lantheo hiệu ứng đômino Nhưng họ đã đạt được gì? Chỉ là sự đóng băng của thịtrường tài chính, thị trường bất động sản Những ông chủ như ngồi trên đốnglửa Nhiều người trốn tránh trách nhiệm bằng cách điên rồ nhất: kết thúc cuộcđời mình

Khủng hoảng tài chính Mĩ làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu Nó đã

có những tác động tiêu cực không nhỏ đến tất cả các nền kinh tế trên thế giới

Và Việt nam là một trong số đó Theo thông tin từ phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam (VCCI) thì đã có tới 7000 doanh nghiệp công bố giải thể vàhơn 3000 doanh nghiệp khác đã phải ngừng sản xuất Ngoài ra tính mức chungbình chung cho cả khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, mức suy giảm lên tới 30-50%

so với trước đây Thống kê của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa về tác độngkhủng hoảng kinh tế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa cho thấy, trong tổng

số doanh nghiệp, các doanh nghiệp khó khăn trung bình khoảng 70%, rất khókhăn chiếm khoảng 20%.Nếu không được tiếp cận vốn và tình hình xấu đi, sẽ cókhoảng 20% tổng số doanh nghiệp bị phá sản hoặc đứng trước nguy cơ phá sản

Con số thống kê là thế! Nhưng con số thực tế chắc chắn còn nhiều hơn!Phải chăng lúc này các ông chủ doanh nghiệp cũng nên chuẩn bị chomình một đường lùi tốt nhất?! Có nhiều người chọn cách nộp đơn yêu cầu mởthủ tục phá sản Đó cũng không phải là một giải pháp tồi

Vậy phá sản là gì? Các bước khi giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp,hợp tác xã được tiến hành ra sao?

Trang 2

Em chọn đề tài: “Thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết yêucầu phá sản ở Tòa án nhân dân nơi tác giả thực tập” không ngoài mục đích làm

rõ vấn đề trên

Do vốn kiến thức còn hạn hẹp, chuyên đề có thể còn nhiều thiếu xót Rấtmong được sự thông cảm của các thầy cô giáo!

Trang 3

Về phương diện ngôn ngữ, có khá nhiều thuật ngữ dùng để thể hiện kháiniệm này Trong tiếng La tinh có hai từ: Ruin, Banca Rotta; trong tiếng Anh cócác từ như Insolvency, Bankrruptcy…

Trong tiếng Việt, theo tinh thần của Luật thương mại năm 1972 của chínhquyền Sài Gòn trước đây, thuật ngữ khánh tận dùng để chỉ phá sản của thươnggia còn vỡ nợ dùng để chỉ sự phá sản của cá nhân, ngoài ra phá sản còn đượcnhìn nhận là một thủ tục tư pháp thanh toán tài sản Hiện nay trên cơ sở Luậtphá sản doanh nghiệp năm 1993 và Luật phá sản năm 2004, khái niệm phá sảnđược xem xét dưới hai bình diện:

+Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

+Phá sản là thủ tục phục hồi hoặc xử lý nợ đặc biệt

Khắc phục những hạn chế của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luậtphá sản năm 2004 đã xác định khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phásản theo hướng đơn giản và hợp lý hơn Theo điều 3 luật phá sản, doanh nghiệplâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán đượccác khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu

Trang 4

Như vậy, tương tự như phỏp luật phỏ sản cỏc nước trờn thế giới, Luật phỏsản coi việc mất khả năng thanh toỏn nợ đến hạn khi cỏc chủ nợ cú yờu cầu làcăn cứ cơ bản và duy nhất để xem xột mở thủ tục phỏ sản doanh nghiệp, hợp tỏc

xó mà khụng cần phải xem xột đến cỏc dấu hiệu khỏc như luật phỏ sản doanhnghiệp quy định Tuy nhiờn, cỏch xỏc định doanh nghiệp mất khả năng thanhtoỏn ở cỏc nước trờn thế giới khụng hoàn toàn giống nhau Vớ dụ: theo phỏp luậtcủa Singapore, con nợ cú thể bị tuyờn bố phỏ sản khi khụng trả được khoản nợ

từ 2000 đụla Singapore trở lờn; theo luật phỏ sản của Nhật Bản, khi một ngườimắc nợ ngừng trả tiền thỡ người đú được coi là khụng trả được nợ.; cũn theophỏp luật phỏ sản của Cộng hũa Phỏp, mọi thương nhõn và phỏp nhõn, kể cảphỏp nhõn khụng cú quy chế thương nhõn, khi lõm vào tỡnh trạng ngừng thanhtoỏn thỡ đều phải khai bỏo trong thời hạn 15 ngày để mở thủ tục phục hồi doanhnghiệp hoặc thanh lớ doanh nghiệp…

Khỏc với Luật phỏ sản doanh nghiệp, luật phỏ sản khụng quy định cỏc dấuhiệu cụ thể để xỏc định doanh nghiệp mất khả năng thanh toỏn nợ đến hạn Điều

đú thể hiện sự tiến bộ của luật phỏ sản, phự hợp với thụng lệ chung trờn thế giới,tạo điều kiện thuận lợi cho việc sớm mở thủ tục phỏ sản cũng như khả năngphục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2 Thủ tục giải quyết phá sản - thủ tục tố tụng t pháp đặc biệt

Khác với thủ tục giải quyết một vụ kiện dân sự (tố tụng dân sự) hay thủtục giải quyết một vụ kiện kinh tế (tố tụng kinh tế), thủ tục giải quyết một vụ phásản (tố tụng phá sản) đợc coi là một loại tố tụng t pháp đặc biệt Do tính chất đặcbiệt này nên trong pháp luật tố tụng các nớc, thủ tục phá sản bao giờ cũng đợc

điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản pháp luật riêng biệt Tính chất đặc biệt củathủ tục phá sản đợc thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể

Thứ hai, thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ đợc tiến hành trong một hoàncảnh đặc biệt, nh một biện pháp cuối cùng của quá trình đòi nợ

Thứ ba, thủ tục phá sản là thủ tục mà hậu quả của nó thờng là sự chấm dứthoạt động của một thơng nhân

Trang 5

Thứ t, thủ tục phá sản không chỉ thuần tuý là một thủ tục đòi nợ mà còn làmột thủ tục có khả năng giúp con nợ phục hồi.

Thứ năm, thủ tục phá sản - một thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp

3 Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trờng

Nh phần trên đã phân tích, sự tồn tại tất yếu của phá sản đã dẫn đến sự tồntại tất yếu của pháp luật phá sản Pháp luật phá sản có vai trò rất quan trọngtrong đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia Vai trò đó thể hiện ở nhữngnội dung chủ yếu sau đây:

-Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền vàlợi ích hợp pháp của các chủ nợ

-Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của con nợ, tạo cơ hội để con nợ rút khỏithơng trờng một cách trật tự

- Pháp luật phá sản góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của ngời lao động-Pháp luật phá sản góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội

-Pháp luật phá sản góp phần làm lành mạnh hoá nền kinh tế, thúc đẩyhoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn

Trang 6

Chương II Kết quả thực hiện Luật phá sản năm 2004

1 Tình hình thụ lý, giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản

So với với tình hình thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, tìnhhình thụ lý và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp theo Luật Phásản năm 2004 đã được cải thiện nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn; hiệu quảgiải quyết việc phá sản ở các cấp Toà án vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn

Theo báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao, từ khi Luật Phá sản cóhiệu lực pháp luật đến nay, đã có 195 vụ phá sản được thụ lý Tình hình thụ lý

và giải quyết đơn yêu cầu giải quyết phá sản là như sau:

- Năm 2005, toàn ngành Tòa án đã thụ lý mới 11 vụ Năm 2004 chuyểnqua 3 vụ, tổng cộng 14 vụ Toà án đã giải quyết được 01 vụ (đạt 7,14%); còn tồnchuyển sang năm 2006 là 13 vụ

- Năm 2006, toàn ngành Toà án đã thụ lý mới 40 vụ; có 13 vụ từ năm

2005 chuyển qua, tổng cộng là 53 vụ Đã giải quyết được 16 vụ, đạt tỷ lệ 30,2%

- Năm 2007, toàn ngành Toà án đã thụ lý mới 144 vụ phá sản, trong đó,Toà án nhân dân cấp tỉnh thụ lý 120 vụ, Toà án nhân dân cấp huyện thụ lý 24

vụ Năm 2006 chuyển qua 31 vụ, tổng cộng là 175 vụ việc Trong số đó, Toà án

đã ra quyết định mở thủ tục phá sản 164 vụ, quyết định không mở thủ tục phásản 10 vụ, quyết định trả lại đơn 01 vụ Toà án nhân dân cấp huyện giải quyếtxong tất cả 24 vụ đã thụ lý (đều ra quyết định tuyên bố phá sản), đạt 100% Cònlại 151 vụ phá sản do Toà án nhân dân cấp tỉnh thụ lý được giải quyết như sau:quyết định trả lại đơn 01 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 10 vụ, quyếtđịnh tuyên bố phá sản theo thủ tục đặc biệt 04 vụ, quyết định đình chỉ thủ tụcphá sản 10 vụ, quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản 75 vụ, còn tồn lại 51 vụđang được tiếp tục giải quyết

Tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, con số thống kê cho thấy việcthụ lý và giải quyết đơn yêu cầu giải quyết phá sản là không nhiều Cụ thể nhưsau:

Trang 7

- Năm 2005 thụ lý 01 vụ và đã giải quyết xong.

- Năm 2006, 2007 không thụ lý vụ nào

- Năm 2008 thụ lý 01 vụ nhưng chưa giải quyết xong

- Năm 2009 từ đầu năm cho tới giờ đã thụ lý 03 vụ + 01 vụ từ năm 2008

=04 vụ Hiện đã giải quyết xong 01 vụ

Thứ hai, quá trình tiến hành thủ tục phá sản còn bị kéo dài

Thứ ba, tình trạng chấp hành các quy định về chế độ tài chính - kế toántrong các doanh nghiệp còn yếu kém là một trong những nguyên nhân làm suygiảm hiệu lực của pháp luật phá sản

Thứ tư, số lượng và năng lực của đội ngũ cán bộ (thẩm phán, chấp hànhviên ) còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của công tác giải quyết phá sảndoanh nghiệp

Thứ năm, hiệu quả giải quyết phá sản còn kém; số nợ phải thu thấp hơn số

nợ phải trả, tỷ lệ thu hồi nợ rất thấp

Thứ sáu, tỷ lệ phục hồi doanh nghiệp sau khi mở thủ tục phá sản là rấtthấp

Trang 8

Chương III Thực tiễn thi hành Luật phá sản năm 2004-Những khó khăn, vướng mắc

I.Những hạn chế vướng mắc trong thực hiện Luật phá sản năm 2004

Mặc dù đã có nhiều điểm tiến bộ như vừa nêu trên nhưng thực tế, việc thihành Luật Phá sản trong những năm qua vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướngmắc Những khó khăn, vướng mắc này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khácnhau, trong đó, đáng lưu ý nhất là những hạn chế, khiếm khuyết trong bản thânLuật Phá sản 2004 và các văn bản có liên quan Cụ thể là:

1 Về tiêu chí doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Theo quy định hiện hành thì tiêu chí doanh nghiệp lâm vào tình trạng phásản đã được đơn giản hoá theo hướng, doanh nghiệp, HTX không thanh toánđược các khoản nợ đến hạn khi có chủ nợ yêu cầu thì bị coi là lâm vào tình trạngphá sản (Điều 3 Luật Phá sản) Tuy nhiên, quy định này vẫn chỉ là định tính,không phản ánh đúng tình trạng tài chính thực tế của doanh nghiệp bị lâm vàotình trạng phá sản.1

Trên thực tế, quy định của Điều luật này là phù hợp nhưng không có tiêuchí cụ thể để hướng dẫn, nên dễ dẫn đến việc một số doanh nghiệp khi căn cứvào điều luật này đã “lạm dụng” quyền nộp đơn nhằm gây ảnh hưởng xấu đếndanh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Trong nhiềutrường hợp, các chủ nợ thay vì khởi kiện vụ án dân sự, kinh tế đòi nợ, họ lại làmđơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản để đòi nợ (thậm chí với một khoản nợ rấtnhỏ) và tòa án không thể từ chối yêu cầu này Điều này không giúp cải thiện làbao số vụ việc phá sản mà chỉ làm cho doanh nghiệp thêm “cảnh giác” với luậtphá sản.2

Điều 19 Luật Phá sản có quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp

đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: “Nếu người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá

sản do không khách quan gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, HTX hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở

1

2

Trang 9

thủ tục phá sản thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” Tuy nhiên, quy định này như trên là chưa

rõ ràng vì không có tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là không khách quanhoặc như thế nào là gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của doanh nghiệp,HTX bị yêu cầu mở thủ tục phá sản Thực tế chưa có văn bản quy định nhữngchế tài cụ thể để xử lý những hành vi nêu trên

2 Về việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

2.1 Thành phần chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

còn bị hạn chế.

Theo Luật Phá sản thì chủ nợ có bảo đảm không được quyền nộp đơn yêucầu tuyên bố phá sản (Điều 13) Điều này vừa không cho phép chủ nợ có bảođảm sử dụng cơ chế phá sản để phòng vệ trong trường hợp họ thấy cách đó antoàn và hiệu quả hơn việc yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm Việc Luật PSDNnăm 1993 cũng như Luật Phá sản năm 2004 quy định không cho phép chủ nợ cóbảo đảm được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là xuất phát từ quanđiểm cho rằng, đối với chủ nợ có bảo đảm thì lợi ích của họ đã được bảo đảmbằng tài sản thế chấp, cầm cố của doanh nghiệp hay của người thứ ba, vì vậy,việc doanh nghiệp, HTX có bị tuyên bố phá sản hay không thì lợi ích của họ vẫnđược bảo đảm Quy định này là không hợp lý Thủ tục phá sản là một phươngthức đòi nợ đặc biệt Việc không cho chủ nợ có bảo đảm nộp đơn yêu cầu mởthủ tục phá sản đã làm mất đi quyền lựa chọn phương thức đòi nợ hữu hiệu nàycủa các chủ nợ có bảo đảm

Bên cạnh đó, nhằm phát hiện sớm tình trạng mất khả năng thanh toán củadoanh nghiệp nhờ đó toà án có thể can thiệp sớm nhằm giúp doanh nghiệp phụchồi hoạt động, pháp luật của các nước đều quy định một số chủ thể như Toà án,Viện công tố, Thanh tra chuyên ngành, tổ chức kiểm toán trong khi thực hiệnchức năng nhiệm vụ có liên quan đến doanh nghiệp, HTX mà nhận thấy doanhnghiệp, HTX đó đang lâm vào tình trạng phá sản thì có quyền mở thủ tục hoặcyêu cầu Toà án mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, HTX Tuy nhiên, Luật Phá sản

Trang 10

năm 2004 đã không quy định cho các chủ thể này có quyền nộp đơn Những quyđịnh này đã làm giảm áp lực từ phía các cơ quan nhà nước lên doanh nghiệp,dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài những vẫn ung dung tồntại nếu chủ doanh nghiệp hoặc chủ nợ không nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản

2.2 Về nghĩa vụ nộp đơn của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

- Luật Phá sản quy định nghĩa vụ pháp lý, theo đó, khi nhận thấy doanhnghiệp của mình lâm vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diệnhợp pháp của doanh nghiệp phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 15).Tuy nhiên, Luật đã không quy định chế tài nên trách nhiệm này không được con

nợ nghiêm chỉnh chấp hành, và vì vậy, cũng ảnh hưởng đến tính hiệu lực củaLuật Phá sản trong thực tiễn

- Trên thực tế, đối với các doanh nghiệp do chưa nhận thức được mộtcách đúng đắn rằng, thủ tục phá sản là một thủ tục nhằm tạo cơ hội cho họ tổchức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh, giúp họ khắc phục những khó khăn vềtài chính để trở lại hoạt động bình thường nên khi phát hiện mình đã lâm vàotình trạng phá sản thì đa số họ đều không tự nguyện nộp đơn yêu cầu giải quyếtphá sản Một tâm lý chung rất thịnh hành trong giới doanh nhân là, nếu doanhnghiệp của mình bị đưa ra Toà để giải quyết theo thủ tục phá sản thì danh dự, uytín sẽ bị tổn thương, do đó, khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn về tàichính thì không muốn làm đơn ra Toà mà tự mình cứu chữa và chỉ đến lúckhông thể cứu chưa được thì mới làm đơn ra Toà Do chủ nghĩa thành tích mànhiều người có trách nhiệm đã không làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặckéo dài thời gian giải quyết việc phá sản doanh nghiệp Họ né tránh việc thựchiện nghĩa vụ này bằng việc về hưu, hoặc chờ sự điều chuyển đến nơi công tácmới Vì sự né tránh này mà nhiều trường hợp khi có đơn yêu cầu mở thủ tục phásản đến Tòa án thì doanh nghiệp đã không còn tài sản gì đáng kể, gây khó khăncho việc giải quyết phá sản

- Bên cạnh đó, sự tác động của cơ quan nhà nước cũng làm ảnh hưởngđến việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp Đối với doanhnghiệp nhà nước, việc phá sản hay không phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của đại

Trang 11

diện chủ sở hữu, tức là Bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Thực tế cho thấy,doanh nghiệp nhà nước không thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanhnghiệp nếu như chưa có ý kiến đồng ý của các cơ quan chủ quản này Mặt khác,theo quy định hiện hành thì một số doanh nghiệp nhà nước tuy đã lâm vào tìnhtrạng phá sản nhưng không được đưa ra giải quyết theo Luật Phá sản mà lạiđược sắp xếp, tổ chức lại theo các hình thức cổ phần hoá, bán, khoán kinhdoanh, cho thuê ; chỉ khi nào không chuyển đổi được thì các doanh nghiệp nàymới chuyển sang thủ tục phá sản Trong quá trình đó, tài sản của doanh nghiệp

bị điều động qua lại, gây nhiều khó khăn cho việc xác minh tài sản của doanhnghiệp Khi tiến hành thủ tục phá sản, Tòa án, Tổ quản lý và thanh lý tài sản hầunhư đã không còn khả năng thực thi những biện pháp thu hồi tài sản cho doanhnghiệp nên đã gây bức xúc cho các chủ nợ

2.3 Về quyền nộp đơn của chủ nợ và người lao động trong doanh nghiệp

- Đối với các chủ nợ thì thủ tục phá sản không phải là con đường lựa chọnhấp dẫn, chỉ được họ sử dụng như một phương thức đòi nợ khi không còn giảipháp nào khác Khi doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản, các chủ nợthường tìm đủ mọi cách, kể cả nhờ tác động của cơ quan công an, kiểm sát đểthu hồi tài sản của mình Nếu chủ động yêu cầu phá sản doanh nghiệp thì chủ nợkhông được ưu tiên gì hơn các chủ nợ khác, đồng thời, lại có nguy cơ phải chiaphần tài sản còn lại của con nợ với các chủ nợ khác, do đó, sẽ không thu hồiđược hết các món nợ Đối với nhiều chủ nợ, như ngân hàng, doanh nghiệp nhànước thì thu hồi được nợ là tốt nhưng nếu không thu hồi được nợ thì thà cứ đểkhoản nợ đó xếp vào loại nợ khó đòi và được xử lý, hạch toán vào kết quả kinhdoanh còn hơn là yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp để rồi chỉ thu đượcmột phần nợ rất nhỏ bé so với khoản nợ mà doanh nghiệp khác đang mắc nợmình Thực tế hiện nay, thay vì việc sử dụng con đường nộp đơn yêu cầu mở thủtục phá sản con nợ, các chủ nợ thường đi tìm các giải pháp khác khôn ngoan hơn

và có lợi hơn qua việc thu xếp kín đáo các khoản nợ Đối với các ngân hàngthương mại nhà nước thì việc xử lý các khoản nợ xấu, khó đòi của các doanh

Trang 12

nghiệp nhà nước bằng các hình thức xoá nợ, giảm nợ, khoanh nợ, giãn nợ vẫncòn được sử dụng khá phổ biến thay vì nộp đơn xin phá sản doanh nghiệp

- Đối với người lao động, trong trường hợp doanh nghiệp, HTX không trảđược lương, các khoản nợ khác cho người lao động thì người lao động phảiđược xem như là chủ nợ không có bảo đảm và có các quyền, nghĩa vụ như chủ

nợ không bảo đảm Nhưng Luật Phá sản hiện hành lại quy định người lao độngkhông được tự nộp đơn mà phải phải cử người đại diện hoặc thông qua đại diệncông đoàn để nộp đơn Thủ tục cử người đại diện cho người lao động được quyđịnh trong Luật Phá sản rất phức tạp và khó thực thi Do vậy, Luật Phá sản hiệnhành vô hình chung đã hạn chế và gần như vô hiệu hóa quyền nộp đơn củangười lao động trong doanh nghiệp

2.4 Về quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của đại diện chủ sởhữu doanh nghiệp

Điều 16 Luật Phá sản quy định cho đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhànước có quyền làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tuy nhiên, hiện nay, Chínhphủ đang tổ chức lại một số doanh nghiệp nhà nước, trong số đó, có những đơn

vị thuộc diện phá sản Tuy nhiên, một số trường hợp là đơn vị phụ thuộc của cácTổng công ty nhà nước không có tư cách pháp nhân, không có tài sản độc lập(trường hợp của Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam) nên Tòa án không thụ lý,giải quyết được theo Luật Phá sản Đây là vấn đề phức tạp còn có ý kiến khácnhau về trình tự, thủ tục mà các cơ quan có thẩm quyền đã làm việc trực tiếp vớiBan đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước ở Trung ương và ở Bộ chủquản, tuy nhiên, hiện vẫn chưa có hướng dẫn chính thức

3 Về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản

3.1 Vướng mắc trong trường hợp không xác định được địa chỉ của doanhnghiệp và của chủ doanh nghiệp khi nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đăng ký thành lập nhưng hoạt động đượcmột thời gian thì “mất tích”, nghĩa là theo địa chỉ đăng ký kinh doanh của doanhnghiệp thì doanh nghiệp không còn hoạt động vì đã chuyển trụ sở đi nơi khác

Trang 13

mà không để lại địa chỉ mới Do vậy, khi có chủ nợ làm đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản đối với doanh nghiệp đó thì Toà án không xác định được trụ sở doanhnghiệp Trong những trường hợp như vậy, vừa rất khó xác định thẩm quyền giảiquyết yêu cầu mở thủ tục phá sản của Toà án nhân dân và vừa không đủ điềukiện để Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Có trường hợp chủ doanh nghiệp là người nước ngoài sau khi kinh doanhthua lỗ bỏ về nước, khi nhận được giấy của Tòa án nhưng cũng không đến ViệtNam để giải quyết hoặc đặt điều kiện chỉ đến Việt Nam khi phía Việt Nam bảođảm cho họ được rời Việt Nam bất cứ lúc nào họ muốn Tòa án thường rất lúngtúng khi gặp tình huống này với sức ép của người lao động và của các chủ nợđòi hỏi Tòa án mở thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bảo đảm quyền lợicủa họ nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể Gặp trường hợp này, Tòa án vận dụngđiểm 5 Điều 24 Luật Phá sản để trả lại đơn với nhận định rằng, doanh nghiệp,HTX có quyền chứng minh họ không lâm vào tình trạng phá sản, Tòa án cũngcần biết điều đó để quyết định có tiếp nhận đơn hay không Đây chỉ là biện pháptình thế, nhưng việc này gây rất nhiều khó khăn cho chủ nợ nhất là Ban quản lýcác khu chế xuất, khi diện tích nhà xưởng bị bỏ không, người thuê không sửdụng nhưng không thể thu hồi cho người khác thuê Công nhân không được trả

nợ lương; Ban quản lý vẫn phải thuê người bảo quản trông nom tài sản củadoanh nghiệp

3.2 Về thời hạn ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản

Quyết định của Toà án về việc mở hoặc không mở thủ tục phá sản có vaitrò quan trọng vì nó là bước khởi động của quá trình giải quyết phá sản LuậtPhá sản qui định thời hạn để Toà án ra quyết định này là 30 ngày, kể từ ngày thụ

lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Khoản 1, Điều 28) Trên thực tế, khi hồ sơđến tay Thẩm phán thì thời hạn này chỉ còn khoảng 20 ngày Thời hạn này sovới yêu cầu của thực tiễn là quá ngắn Trong nhiều trường hợp chủ thể nộp đơn

đã không có đủ những tài liệu theo các qui định tại các Điều 16, 17, 18 và 19của Luật Phá sản năm 2004 Có hồ sơ do doanh nghiệp mắc nợ nộp không cóbáo cáo tài chính hoặc có nhưng không được xác nhận bởi cơ quan kiểm toán

Trang 14

nên Thẩm phán phải chờ Sau khi có kết quả kiểm toán thì Thẩm phán mới raquyết định mở thủ tục phá sản, dẫn đến việc kéo dài thời gian mở thủ tục phásản

3.3 Về nộp tạm ứng phí phá sản và chi phí cho việc giải quyết phá sảnKhi tiến hành thủ tục phá sản doanh nghiệp, HTX, đòi hỏi phải có nhữngchi phí như: chi phí cho việc đăng báo; chi phí cho việc định giá và bán đấu giátài sản; chi phí cho việc bảo vệ, duy trì tài sản của doanh nghiệp, HTX; chi phícho việc phát hiện, xác minh, thu hồi tài sản của doanh nghiệp, HTX; chi phícho việc bán đấu giá Trường hợp, người yêu cầu mở thủ tục phá sản không cótiền, doanh nghiệp, HTX bị yêu cầu mở thủ tục phá sản có tài sản nhưng khôngthể bán đấu giá ngay được, thì được ngân sách nhà nước tạm ứng phí phá sản.Nhưng tạm ứng theo trình tự thủ tục nào, ứng từ cơ quan nhà nước nào, thì chưa

có hướng dẫn

Theo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tạiđiểm 1 mục II và chương II Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-4-2005

về thi hành một số quy định của Luật phá sản về nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản của Luật phá sản thì “Trong khi chưa có quy định mới về phí

phá sản thì Tòa án căn cứ điều 41 Nghị định 189/CP ngày 23-12-1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp 1993 về chi phí phá sản, Điều 34 Nghị định 70/CP của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án để quyết định việc nộp tiền tạm ứng phí phá sản trong từng trường hợp cụ thể” Nhưng đến

nay vẫn chưa có hướng dẫn mới Trên thực tế, có nhiều trường hợp doanhnghiệp đã nộp đơn đến Tòa án yêu cầu mở thủ tục phá sản nhưng lại không đếnToà án để nộp tạm ứng phí phá sản Vì vậy, Tòa án đã căn cứ khoản 1 Điều 24Luật Phá sản ra quyết định trả lại đơn cho doanh nghiệp Vấn đề tạm ứng phíphá sản là vấn đề cần được hướng dẫn rõ hơn

4 Các quy định về vai trò của Toà án và Thẩm phán phụ trách việc giải quyết phá sản

4.1 Vai trò của Toà án trong quá trình giải quyết phá sản được Luật Phásản quy định là quá lớn, không hợp lý

Trang 15

Điều này thể hiện ở chỗ, Toà án nước ta phải tự mình thành lập ra cácthiết chế (Tổ quản lý tài sản, Tổ thanh toán tài sản trước đây và Tổ quản lý,thanh lý tài sản hiện nay), trong đó có sự tham gia của nhiều cán bộ, công chứcnhà nước để làm nhiều công việc liên quan đến quá trình giải quyết việc phá sản(Điều 9) Trong khi đó, ở các nước, việc thực hiện các công việc này, lại do cácthiết chế do chính các đương sự (chủ nợ và con nợ) thành lập ra Ví dụ, ở nhiềunước, việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động của doanh nghiệp sau khi cóQuyết định mở thủ tục phá sản được tiến hành bởi các nhân viên quản lý tài sản(quản tài viên) do các chủ nợ tự thoả thuận quyết định lựa chọn từ các tổ chức

xã hội - nghề nghiệp và Nhà nước mà cụ thể là Toà án chỉ có vai trò trong việcphê duyệt, thừa nhận sự lựa chọn đó của các bên mà thôi Trong khi đó, theoLuật Phá sản năm 2004, việc quản lý tài sản và thanh lý tài sản được xác định làmột nhiệm vụ của cơ quan nhà nước và được thực hiện bởi một thiết chế (Tổquản lý và thanh lý tài sản) do Toà án thành lập, gồm đại diện của Toà án, cơquan thi hành án dân sự, chủ nợ, con nợ, người lao động Quy định này của LuậtPhá sản có thể còn phù hợp trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay,nhất là khi chúng ta chưa có một đội ngũ những người có chuyên môn nghiệp vụ

về quản lý tài sản của con nợ nhưng trong tương lai, quy định này sẽ là khôngphù hợp

4.2 Về việc thành lập Tổ Thẩm phán phụ trách việc giải quyết phá sản

Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng Thẩmphán Toà án nhân dân tối cao có hướng dẫn các trường hợp cần phải do TổThẩm phán gồm 3 người tiến hành thủ tục phá sản, trong đó có các trường hợp

sau: Cần giải quyết tranh chấp về khoản nợ; Tuyên bố giao dịch là vô hiệu;

Giải quyết tiếp vụ án mà doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản là đương

sự trong vụ án đó; Doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản có bất động sản, có nhiều chủ nợ hoặc người mắc nợ tại nhiều tỉnh khác nhau hoặc ở nước ngoài.

Thông thường, vụ phá sản nào cũng có tranh chấp về khoản nợ, có thể là

nợ phải trả cho chủ nợ, có thể là nợ phải thu từ người mắc nợ Mỗi vụ phá sản

Trang 16

đều có nhiều người tham gia và vì vậy, chắc chắn sẽ có những chủ nợ hoặcngười mắc nợ ở nhiều tỉnh khác Nếu áp dụng đúng quy định của Nghị quyết 03của Hội đồng Thẩm phán thì hầu như vụ phá sản nào cũng phải do Tổ Thẩmphán gồm ba người tiến hành Quy định này đòi hỏi các Toà án địa phương, nhất

là nơi có những vụ phá sản phức tạp như trên phải có nhiều Thẩm phán và điềunày là rất khó thực hiện được trong giai đoạn hiện nay

Chẳng hạn ở Toà kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 8 thẩm phán vànếu thành lập thì chưa được 03 Tổ, trong khi đó, số vụ phá sản mà Toà kinh tế

TP Hồ Chí Minh thụ lý từ ngày Luật Phá sản năm 2004 có hiệu lực đến cho đếnhết năm 2006 là 22 vụ Thực hiện quy định này thì mỗi Thẩm phán phải thamgia giải quyết hơn 8 vụ, nhưng thực tiễn các vụ giải quyết phá sản tại thành phố

Hồ Chí Minh cho đến nay chỉ có 01 Thẩm phán tiến hành, kể cả những vụ phásản có những dấu hiệu như quy định tại Nghị quyết 033

5 Những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản

Luật Phá sản năm 2004 đã quy định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sảnthay cho Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh lý tài sản như trước đây Tuy nhiên,thực tế cho thấy, do một số quy định của pháp luật chưa đầy đủ và cụ thể, cơ chếphối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa đồng bộ đều là nguyên nhân dẫn đếnhoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản trên thực tế còn kém hiệu quả Cụ thểlà:

5.1 Về việc thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản

Hiện nay có sự mâu thuẫn giữa các văn bản hướng dẫn về việc thành lập

Tổ quản lý, thanh lý tài sản Điều 9 Luật Phá sản quy định, đồng thời với việc raquyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý,thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp

Theo hướng dẫn tại mục 5.1 Chương I của Nghị quyết HĐTP ngày 28/4/2005 của Toà án nhân dân tối cao thì sau khi thụ lý đơn yêu

03/2005/NQ-3 Phạm Xuân Thọ (2006)- Chánh toà kinh tế Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, “Giải quyết phá sản tại thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng, vướng mắc và kiến nghị”, Hội thảo về Luật phá sản năm 2004 những vướng mắc và giải pháp khắc phục, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 17

cầu mở thủ tục phá sản và trong quá trình nghiên cứu hồ sơ việc phá sản, Thẩmphán phải có công văn gửi cơ quan, tổ chức qui định tại khoản 2 Điều 9 của LuậtPhá sản yêu cầu họ cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản

Theo hướng dẫn tại Điều 16 của Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày11/7/2006 thì đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phángửi văn bản đề nghị cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản tới cơ quan,

tổ chức, cá nhân có liên quan Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhậnđược văn bản của Thẩm phán, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cótrách nhiệm cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản

Trên thực tế, việc phối hợp giữa Toà án và các cơ quan, tổ chức, cá nhânliên quan thường bị chậm trễ do không cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lýtài sản Tình trạng này đã dẫn đến việc không kịp thời thành lập Tổ quản lý,thanh lý tài sản nên đã tạo “kẽ hở” cho doanh nghiệp tẩu tán tài sản Việc chậmthành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản còn dẫn đến tình trạng sau khi các chủ nợbiết được thông tin doanh nghiệp đã bị Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sảnnên đã đến doanh nghiệp thực hiện việc siết nợ, thu tài sản của doanh nghiệp tráipháp luật mà chủ doanh nghiệp bị phá sản không thể ngăn chặn được

5.2 Chất lượng hoạt động Tổ quản lý, thanh lý tài sản chưa đáp ứng yêucầu

- Tổ quản lý, thanh lý tài sản được thành lập với thành phần bao gồm: 01Chấp hành viên làm tổ trưởng, 01 cán bộ Tòa án, 01 đại diện chủ nợ, 01 đại diệnhợp pháp của doanh nghiệp, HTX bị mở thủ tục phá sản, trường hợp cần thiếtphải có 01 đại diện của công đoàn, người lao động và các cơ quan chuyên môn.Như vậy, thành viên Tổ quản lý thanh lý tài sản hầu hết là kiêm nhiệm nên hiệuquả hoạt động bị hạn chế rất nhiều; hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sảnphụ thuộc chủ yếu vào Chấp hành viên

- Trước đây, theo Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, Tổ trưởng Tổ quản lýtài sản là cán bộ Toà án, là thư ký giúp việc cho Thẩm phán phụ trách việc thựchiện phá sản thì toàn bộ công việc như mời con nợ, chủ nợ lên đối chiếu công

nợ, lập danh sách chủ nợ, người mắc nợ do Thẩm phán thực hiện Thư ký Toà

Ngày đăng: 16/03/2018, 23:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Các văn bản hướng dẫn đi kèm Khác
4. Luật phá sản doanh nghiệp 1993 Khác
5. Bộ luật dân sự Khác
6. Thống kê atì liệu ngành tào án Khác
7. Giáo trinh Luật kinh doanh dành cho các trường đại học của C.E.Rưlinski Khác
9. Các tài liệu khác Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w