1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập lịch sử quan hệ kinh tế quốc tế

7 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Quan Hệ Kinh Tế Quốc Tế
Tác giả Adam Smith
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Bài tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 39,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LICH SỬ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ Câu 1 Trình bày nội dung cơ bản của các học thuyết kinh tế Nêu vai trò và ý nghĩa của các học thuyết trong bối cảnh hiện nay Câu 2: Chứng minh nhận định: “Sự ra đời của IMF và WB đã đáp ứng nhu cầu của thời đại”

Trang 1

LICH SỬ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

Câu 1: Trình bày nội dung cơ bản của các học thuyết kinh tế Nêu vai trò và ý nghĩa của các học thuyết trong bối cảnh hiện nay.

Mở đầu là lý thuyết về “Bàn tay vô hình” của Adam Smith.

Adam Smith (1923 – 1970), là một nhà kinh tế học người Scotland, một nhà triết học đạo đức, người mở đường của kinh tế chính trị và là một nhân vật then chốt trong thời kì Khai sáng Schottish, cũng được biết đến như là “Cha đẻ của Kinh tế học” hoặc “Cha đẻ của Chủ nghĩa tư bản” Hay nói cách khác, ông là người đưa ra lý thuyết “Bàn tay vô hình” và “Lợi thế tuyệt đối”

Cụm từ “bàn tay vô hình” đã được Adam Smith giới thiệu lần đầu tiên trong cuốn sách

“The Wealth of Nations” Ông cho rằng một nền kinh tế sẽ hoạt động một cách hiệu quả nhất trong một thị trường tự do – nơi mà mọi người hầu hết sẽ làm việc vì lợi ích của riêng mình Ông cho rằng nếu mọi người được cho phép tự giao dịch, tự thỏa thuận về mặt hàng với nhau thì một “bàn tay vô hình” sẽ dẫn dắt con người trong khi họ đang làm những việc có lợi cho mình thì vô hình chung cũng đã góp một phần lợi ích cho cộng đồng

Học thuyết này có vai trò to lớn trong việc xây dựng và cải thiện khuynh hướng phát triển của thị trường nói riêng và của các nền kinh tế nói chung Nó cung cấp tri thức quan trọng

về vai trò của cơ chế kinh tế thị trường trong điều tiết kinh tế, giúp cho chính phủ cũng như các nhà kinh tế học có cái nhìn đúng đắn về vai trò quan trọng của cơ chế kinh tế thị trường, để phát huy vai trò trong vận hành nền kinh tế Học thuyết thúc đẩy chính phủ quan tâm nhiều hơn

về vấn đề thị trường, có những chính sách thích hợp để khuyến khích tự do hóa cạnh tranh

Ngoài ra, học thuyết cũng để lại ý nghĩa cũng nhiều giá trị sâu sắc trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường của các nước sau này Nó tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan, tôn trọng tư tưởng tự do kinh tế Lý thuyết về bàn tay vô hình khuyến khích nhà nước cần tham gia vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô bên cạnh việc thả tự do thị trường, nhất là trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay Ngày nay, người ta vẫn phải dùng đến nhà nước là "bàn tay hữu hình" thông qua luật pháp, thuế và các chính sách kinh tế để điều chỉnh nền kinh tế xã hội kết hợp với

cơ chế tự điều chỉnh theo thuyết "bàn tay vô hình" để thúc đẩy sự phát triển về kinh tế xã hội của đất nước Tóm lại, không thể phủ nhận toàn bộ giá trị của thuyết “bàn tay vô hình” khi đã

mở ra một chương mới trong lịch sử kinh tế là tôn trọng và ủng hộ tự do kinh doanh trong thời

kì mà các luật lệ, thuế má hà khắc đã cản trở rất lớn đến phát triển kinh tế

Trang 2

Bên cạnh đó, Adam Smith còn có một học thuyết nữa, đó chính là lý thuyết về “Lợi thế tuyệt đối”.

Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối được giới thiệu lần đầu tiên trong tác phẩm “An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations” năm 1776 bởi Adam Smith Và để thay thế quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, ông đưa ra tuyên bố rằng tất cả các quốc gia đều có lợi nếu tất cả các quốc gia thực hiện thương mại tự do và chuyên môn hóa phù hợp với “lợi thế tuyệt đối” của họ Sản xuất và trao đổi sản phẩm dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho cả quốc gia xuất khẩu lẫn quốc gia nhập khẩu và nhờ vậy có lợi cho cả thế giới nói chung

Học thuyết này là một bước tiến bộ vượt bậc so với chủ nghĩa trọng thương – một thuyết với nhiều quan điểm phiến diện đã hạn chế sự tự do thương mại, những ý nghĩa mà học thuyết mang lại vẫn còn tác động rõ rệt cho đến ngày nay Nó giải thích bản chất kinh tế và ích lợi trong thương mại quốc tế - nhất là trong nền kinh tế hiện nay, khi mà hội nhập quốc tế đang là

xu hướng Việc giao thương và trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia không chỉ mang lại lợi nhuận cho từng nước mà còn thúc đẩy toàn cầu phát triển

Học thuyết còn có vai trò nhất định trong việc khuyến khích tự do thương mại, tự do định giá trao đổi, có tác dụng lành mạnh hóa và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển Việc

“Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối” được ra đời như một sự thúc đẩy mạnh mẽ cho chính phủ các nước quan tâm nhiều hơn đến việc mua bán hàng hóa, xuất – nhập khẩu giữa các nước hơn là chỉ chăm chú vào việc số lượng vàng tích trữ, Điều này là hoàn toàn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản lúc bấy giờ, và nó vẫn còn những phù hợp nhất định đến sau này, khi mà thương mại quốc tế sẽ tạo điều kiện để phát triển những ngành có lợi thế và thu hẹp những ngành bất lợi thế, là cơ sở lý luận sau này cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế giữa các quốc gia

Nối tiếp hai học thuyết trên là lý thuyết về “Lợi thế so sánh” của David Ricardo.

David Ricardo (1772 – 1823) là một nhà kinh tế học cổ điển nổi tiếng với các lí thuyết

về tiền lương và lợi nhuận, lí thuyết về giá trị lao động, lí thuyết về lợi thế so sánh, … Một trong số những lí thuyết nổi bật mà ông đưa ra trong “Nguyên tắc Kinh tế Chính trị và Thuế” là

lí thuyết về lợi thế so sánh

Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học phát biểu rằng mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia

Trang 3

sẽ được lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác

Cũng giống như hai học thuyết kinh tế nói trên, lý thuyết về “Lợi thế so sánh” mang lại

ý nghĩa quan trọng cho nền kinh tế thế giới Nó cũng đóng góp một phần trong việc thúc đẩy phát triển ngoại thương, phát triển thương mại quốc tế Học thuyết này như bổ sung và củng cố vững chắc cho hai học thuyết trên của Adam Smith, thúc đẩy kinh tế bằng cách tự do thương mại, khuyến khích chính phủ quan tâm hơn về giá trị lợi nhuận của việc xuất – nhập khẩu

Ngoài ra, học thuyết còn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho các quốc gia có cái nhìn rõ hơn về thương mại, có vai trò giúp các nước nhận rõ điểm mạnh cũng như điểm yếu về từng mặt hàng, từ đó có thể tập trung nguồn vốn, lao động và nguồn lực của họ vào sản xuất mặt hàng có ưu thế để đạt được chi phí sản xuất thấp để đạt được tỉ suất lợi nhuận một cách tối

đa Điều này vẫn có thể áp dụng được đến tận ngày nay, bởi một quốc gia không thể chiếm ưu thế ở tất cả các mặt hàng mà họ đều phải tập trung sản xuất những mặt hàng có ưu thế để xuất khẩu sang những quốc gia không có ưu thế về mặt hàng đó và ngược lại

Tiếp theo là “Học thuyết giá trị thặng dư” của Karl Marx.

Karl Marx (1818 – 1883) là một nhà kinh tế chính trị người Phổ, nhà báo và nhà hoạt động, tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như “Das Kapital”, “Tuyên ngôn cộng sản”

và được mệnh danh là Cha đẻ của Chủ nghĩa cộng sản

Giá trị thặng dư là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tế chính trị Karl Marx Giá trị thặng dư là mức độ dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không, giá trị thặng dư là nguồn gốc hình thành lên thu nhập của các nhà tư bản và các giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản Giá trị thặng dư phản ánh mối quan hệ bóc lột sức lao động của nhà tư bản đối với người công nhân

Học thuyết giá trị thặng dư có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó chi phối mọi hoạt động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa; chi phối hướng vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Chạy theo giá trị thặng dư, một mặt làm cho kỹ thuật sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động xã hội ngày càng cao, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển Tuy nhiên, nó cũng làm cho những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt, đặc biệt là những mâu thuẫn cơ bản Đây là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất xã hội với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động Sự vận động của mâu thuẫn này nhất định làm cho quan hệ sản

Trang 4

xuất tư bản chủ nghĩa không thể tồn tại vĩnh viễn Nó sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất tiến bộ hơn, đó là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Và cuối cùng là Học thuyết kinh tế của trường phái KeyNes.

Vào những năm 30 của thế kỷ XX ở các nước phương Tây, khủng hoảng kinh tế và tình trạng thất nghiệp diễn ra thườn xuyên, nghiêm trọng dẫn đến tư tưởng tự do kinh tế tan rã, đòi hỏi phải có một lí thuyết kinh tế mới có khả năng thích ứng với tình hình mới

John Maynard Keynes (1883 – 1946) là một nhà kinh tế học người Anh Ông là người khai sinh kinh tế học vĩ mô hiện đại và là nhà kinh tế có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20, ông còn được xem là “cứu tinh” của chủ nghĩa tư bản, là “người cha của sự phồn vinh sau chiến tranh”

Học thuyết kinh tế của trường phái Keynes có hai nội dung chính là: “Lý thuyết chung

về việc làm” và “Lý thuyết về sự điều chỉnh kinh tế vĩ mô của Nhà nước” Với lý thuyết đầu tiên, ông cho rằng sự tăng thêm của việc làm sẽ làm tăng thêm thu nhập, dẫn đến tăng tiêu dùng Tuy nhiên, do khuynh hướng tiêu dùng giới hạn nên tiêu dùng tăng chậm hơn tăng thu nhập, còn tiết kiệm tăng nhanh Điều đó làm giảm tương đối dẫn đến giảm cầu có hiệu quả và ảnh hưởng đến sản xuất và việc làm Với lý thuyết thứ hai, nội dung trọng tâm của lý thuyết là đưa ra những giải pháp kích thích tiêu dùng và đầu tư, trong đó nhấn mạnh vào vai trò đầu tư của Nhà nước; sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ làm công cụ chủ yếu để điều tiết kinh tế; khuyến khích mọi hình thức đầu tư; khuyến khích tiêu dùng

Học thuyết ra đời đúng lúc và kịp thời giúp phục hồi nền kinh tế thể giới sau những tổn thất của chiến tranh Ngoài ra, nó còn giúp cho các nhà kinh tế học, các quốc gia có cái nhìn, chính sách mới trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế

Học thuyết kinh tế Keynes có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy kinh tế của các nước tư bản phát triển, hạn chế được khủng hoảng và thất nghiệp trong những năm 50-60 của thế kỉ

XX Nó thúc đẩy nhà nước cần tích cực và chủ động tác động vào nền kinh tế bên cạnh việc mở cửa tự do thị trường thông qua việc nắm giữ và chi phối được các vị trí, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân, là cơ sở chủ đạo của các chính sách kinh tế vĩ mô ở các nước tư bản phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ hai

Câu 2: Chứng minh nhận định: “Sự ra đời của IMF và WB đã đáp ứng nhu cầu của thời đại”

Trong thời đại hội nhập quốc tế hiện nay, việc có nhiều tổ chức quốc tế được thành lập như một xu hướng tất yếu, và cũng có nhiều tổ chức quốc tế lâu năm đang dần chứng minh được tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của mình đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội toàn

Trang 5

cầu Trong đó, có thể khẳng định rằng, sự ra đời của hai tổ chức Qũy tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) là sự tất yếu và đáp ứng được nhu cầu của thời đại

Từ năm 1929 đến năm 1933, cuộc Đại suy thoái xảy ra, nền kinh tế tư bản có xu hướng giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, xuất hiện nhiều mâu thuẫn nội bộ trong các nước phát triển Trong thời kỳ này, nền kinh tế thế giới phát triển không đồng đều, mâu thuẫn giữa các nước phát triển ngày càng nghiêm trọng Tháng 11 năm 1943, Hoa Kỳ đề xuất thành lập Ngân hàng Tái thiết và Phát triển của Liên hợp quốc Mục đích của bản kiến nghị này là để nhiều nước phát triển chịu vốn cho nhu cầu khôi phục kinh tế và xây dựng sau chiến tranh Vào tháng 7 năm 1944, hai tổ chức được thành lập để hỗ trợ tái thiết kinh tế sau chiến tranh: Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế , sau này được gọi là Ngân hàng Thế giới Việc thành lập hai tổ chức này là kịp thời và phù hợp với tình hình thế giới lúc bấy giờ, do IMF

và WB được thành lập khi nhiều nước đang gặp khó khăn sau chiến tranh và rất cần được sự hỗ trợ

Qũy tiền tệ quốc tế là một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng cách theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kĩ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu Đây là một tổ chức thiết lập tài chính an toàn tạo tuận lợi cho thương mại quốc tế, đẩy mạnh việc làm, tăng trưởng kinh tế cao, giảm bớt đói nghèo Trong đó, Ngân hàng thế giới là một tổ chức tài chính quốc tế nơi cung cấp những khoản vay nhằm thúc đẩy kinh tế cho các nước đang phát triển thông qua chương trình vay vốn Mục đích chính của tổ chức này

là giảm thiểu việc đói nghèo thông qua những nhiệm vụ như là: kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng cường chất lượng cuộc sống, hoạch định chiến lược phát triển kinh tế hiệu quả, chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo, …

Sở dĩ chúng ta có thể khẳng định rằng sự ra đời của hai tổ chức này là đáp ứng nhu cầu của thời đại vì ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, IMF và WB ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu

Quỹ tiền tệ quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các công cụ để các quốc gia đo lường, đánh giá và cải thiện điều kiện kinh tế vĩ mô cũng như chính sách tiền tệ, ổn định tài chính và giá cả Ngoài ra, IMF còn có vai trò thúc đẩy hợp tác quốc tế, thúc đẩy mở rộng và tăng trưởng cân bằng các hoạt động thương mại quốc tế, góp phần tăng và duy trì mức việc làm

và thu nhập cao Các tổ chức cũng đang tích cực làm việc để gỡ bỏ các hạn chế tiền tệ có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, cải thiện sự ổn định của tiền tệ và tránh phá giá để cạnh tranh giữa các quốc gia gia tăng IMF đã xây dựng lòng tin đối với các quốc gia

Trang 6

thành viên bằng cách cung cấp dự trữ từ Quỹ, đảm bảo an toàn và tạo cơ hội cho các quốc gia sửa chữa tình trạng mất cân đối cán cân thanh toán của mình

Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế là hai tổ chức có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong khi IMF quan tâm nhiều đến các vấn đề kinh tế và tài chính toàn cầu, các hoạt động của WB lại thiên về các hoạt động xã hội giúp phát triển con người Mục tiêu chính của tổ chức này là chống đói nghèo trên thế giới bằng cách cung cấp vốn và chuyên môn cho chính phủ các nước đang phát triển Tổ chức này thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xã hội ở các nước đang phát triển thông qua hỗ trợ kỹ thuật và tài trợ dự án cho các chính phủ Ngày nay, Ngân hàng Thế giới đóng một vai trò quan trọng trong việc xóa đói và giảm nghèo bằng cách cung cấp các khoản vay cho các nước có thu nhập trung bình và nghèo với mức độ uy tín và đảm bảo

về mặt tín dụng Ngoài ra, tổ chức này còn cung cấp các dịch vụ tư vấn và phân tích chính sách cho chính phủ các nước nhằm tăng cường phát triển kinh tế một cách hợp lý nhất Ngoài ra, Ngân hàng Thế giới cũng đang nỗ lực chống tham nhũng và cải thiện tình trạng quản trị kém vì coi đây là trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế của các nước kém phát triển nhất thế giới

Việc hai tổ chức ra đời như một “hậu phương” vững chắc của nền kinh tế thế giới, không chỉ giúp khôi phục nền kinh tế thế giới sau chiến tranh mà còn giúp giữ vững nền kinh tế

ổn định và phát triển sau này Không chỉ giảm sự cạnh tranh và mâu thuẫn giữa các nước, hai tổ chức như gắn kết các quốc gia gần nhau hơn bằng việc lấy vốn từ các nước phát triển đi hỗ trợ cho các nước đang phát triển Tổ chức còn giải quyết nhiều vấn đề vẫn chưa thể giải quyết triệt

để như là: nạn tham nhũng; phá giá tiền tệ; mất cân bằng kinh tế; … Ngoài ra, việc quan tâm nhiều hơn đến các nước nghèo mà trước đây chưa từng có tổ chức nào quan tâm nhiều đến các quốc gia nghèo như này đã thể hiện rằng: thế giới đang nỗ lực hướng đến một xã hội công bằng, hòa bình, một xã hội đoàn kết không phân biệt giàu nghèo, quốc gia hay vùng miền Vì vậy, sự ra đời của hai tổ chức IMF và WB chính là sự tất yếu, thực sự đáp ứng nhu cầu của thời đại ngày nay

Trang 7

Các nguồn tham khảo:

Câu 1:

Lý thuyết về bàn tay vô hình:

https://vietstock.vn/2020/05/ly-thuyet-ban-tay-vo-hinh-la-gi-830-747134.htm

https://vietnambiz.vn/ban-tay-vo-hinh-invisible-hand-la-gi-loi-ich-xa-hoi-tu-ban-tay-vo-hinh-20190926150054939.htm

Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối:

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A3i_th%E1%BA%BF_tuy%E1%BB%87t_

%C4%91%E1%BB%91i

Lợi thế so sánh:

https://www.voer.edu.vn/m/loi-the-so-sanh/d9eb1935

https://www.academia.edu/13174344/C%C3%A2u_10

Học thuyết giá trị thặng dư:

https://moet.gov.vn/content/vanban/Lists/VBDH/Attachments/2730/GT%20h%E1%BB

%8Dc%20ph%E1%BA%A7n%20Kinh%20t%E1%BA%BF%20ch%C3%ADnh%20tr

%E1%BB%8B%20MNL%20(C)%20Tr%2064-Tr130.pdf

https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai- thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/hoc-thuyet-gia-tri-thang-du-van-con-nguyen-gia-tri-trong-boi-canh-moi

Học thuyết kinh tế của trường phái Keynes

http://tapchinganhang.gov.vn/ung-dung-hoc-thuyet-kinh-te-keynes-de-vuot-qua-nhung-cu-soc-tuong-tu-covid-19.htm

https://voer.edu.vn/m/hoc-thuyet-kinh-te-cua-truong-phai-keynes/cb9a4f8e

Câu 2:

https://vietnambiz.vn/qui-tien-te-quoc-te-international-monetary-fund-imf-la-gi-20190917134755746.htm

Ngày đăng: 16/02/2023, 23:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w