1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Lịch sử: Quan hệ giữa vương quốc cổ Champa với các nước trong khu vực

182 141 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án tập trung nghiên cứu về các nội dung: vấn đề buôn bán và trao đổi sản phẩm trên cơ sở một vị trí thuận lợi về vùng biển và cảng biển, những quan hệ về chính trị thường gắn với những lợi ích về lãnh thổ, đất đai; hòa bình hay chiến tranh, xung đột hay khoan nhượng...; những biểu hiện và mức độ của giao lưu văn hóa. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số hiệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

HÀ BÍCH LIÊN

Trang 4

CHỮ VIẾT TẮT

BEFEO : Bulletin de L'Ecole Francaise d'Extrême - Orient

CHSEA : Cambridge History of Southeast Asia

CHCPI : Centre d' Histoire et Civilisation de la Péninsule Indochinoise ĐNNTC : Đại Nam nhất thống chí

ĐNTL : Đại Nam thực lục

ISAS : Inslitute of Southeast Asian Studies

NPHMVKCH : Những phát hiện mới về khảo cổ học

Toàn Thƣ : Đại Việt sử kí toàn thƣ

VBTLS : Viện bảo tàng lịch sử

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG MỐI QUAN HỆ CỦA CHAMPA TRONG GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ BƯỚC ĐẦU PHÁT TRIỂN (Từ đầu công nguyên đến thế kỷ X) 17

1 Cơ sở ban đầu của những mối quan hệ 17

1.1 Từ người Nam Đảo đến người Chăm - điểm khởi đầu của những mối quan hệ 17

1.2 Một vị trí thuận lợi cho việc buôn bán và giao lưu văn hóa 26

1.3 Những điều kiện kinh tế và xã hội 27

2 Những vương triều đầu tiên - quan hệ liên vùng và liên quốc gia 32

2.1 Vương triều Simhapura và những mối quan hệ ban đầu 32

2.2 Quan hệ giữa Champa với Java và Campuchia trong thời kỳ vương triều Miền Nam Virapura (750 - 850) 43

2.3 Indrapura và những quan hệ mới 49

CHƯƠNG 2: NHỮNG MỐI QUAN HỆ TRONG THỜI KỲ VIJAYA (thế kỷ X - thế kỷ XV) 65

1.Quan hệ Champa với các nước trong khu vực thời kỳ thành lập và bước đầu phát triển của Vijaya 66

1.1 Quan hệ kinh tế - ngoại giao với các đảo Philippin 68

1.2 Mối quan hệ tay ba giữa Champa với Campuchia và Đại Việt trong vấn đề chính trị - lãnh thổ 72

2 Sự thay đổi trong đường lối đối ngoại và những mối quan hệ trong thời kỳ phát triển của Vijaya (1220 - 1353) 82

2.1.Chuyển hướng kết thân với Đại Việt 82

2.2 Duy trì và phát triển quan hệ với vùng hải đảo 93

2.3 Sự tiến triển trong giao thương 96

3 Sự khủng hoảng của Champa và sự tái diễn những xung đột về chính trị - lãnh thổ trong quan hệ khu vực (1353 - 1471) 102

3.1 Những thay đỗi trong lịch sử khu vực 103

3.2 Sự tái diễn những xung đột trong vấn đề lãnh thổ 105

3.3 Nguyên nhân nào đã dẫn đến việc mất kinh đô Vijaya và đưa vương quốc này đến bước đường suy vong? 111

CHƯƠNG 3: HẬU CHAMPA VÀ ĐOÀN KẾT CỦA CÁC MỐI QUAN HỆ (TỪ CUỐI THẾ KỈ XV - THẾ KỈ XVII) 115

1 Vùng đất Champa sau sự kiện 1471 116

2 Quan hệ giữa Chiêm Thành và Đại Việt - Từ Chiêm Thành quốc đến trấn Thuận Thành 124

3 Hội nhập - Lịch sử và tất yếu 133

PHẦN KẾT LUẬN 146

Trang 6

BẢN ĐỒ VƯƠNG QUỐC CHAMPA

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Ý nghĩa khoa học và mục đích nghiên cứu

Champa là một vương quốc cổ ra đời sớm trong khu vực Đông Nam Á, có địa bàn chủ yếu ở vùng đồng bằng duyên hải Miền Trung Việt Nam ngày nay Do án ngữ một vị trí quan trọng trên con đường giao lưu quốc tế Đông - Tây, những thuyền bè ngược xuôi trong

hệ thống mậu dịch Châu Á đều phải dừng chân nơi đây, nên người Chăm đã từng có những

mối liên hệ rộng rãi với các nước trong và ngoài khu vực, Sách An Nam chí lược của Lê Trắc biên soạn vào năm 1333 phần các dân biên cảnh phục dịch có đưa ra lời bình về vị trí tự

nhiên của Chiêm Thành (Champa); "Nước này ở ven biển, những thuyên buôn của Trung Hoa vượt biên đi lại với các nước ngoại phiên đều tụ ở đây, để lấy củi, nước chứa Đấy là bến thứ nhất ở phương Nam" Nói một cách hình ảnh, những con thuyền đó "'bám'' vào bờ biên Champa, ít nhất la 500 km nếu tính từ mũi Varella để đi vào vịnh Siêm hay tối eo Malacca và ngược lại, từ eo Malacca đi vào Vịnh Bắc Bộ để tới được Trung Hoa Tuy nhiên, điều quan trọng để vùng bờ biên Champa xưa được biết đến như một tuyến đường giao thông và sau đó

là thương mại và văn hóa không phải chỉ do vị trí tự nhiên của nó, mà chính vì đó là vùng cư

trú của một cộng đồng dân cư có nhà nước riêng của mình, có một nên văn hóa phát triên không thua kém bất cứ một nên văn hóa đương thời nào Và cũng chính họ là chủ thể của những mối quan hệ đến, và đi trên vùng biển này

Trang 8

Vị trí tự nhiên thuận lợi cho xu hướng mở rộng giao lưu với thế giới bên ngoài cũng chính là điều kiện tiên quyết dẫn tới việc ra đời sớm của vương quốc cổ Champa trong khu vực Đông Nam Á Hơn 15 thế kỷ, để tồn tại và phát triển, Champa đã thiết lập nhiều mối quan hệ với các quốc gia xung quanh nó Những quan hệ đó không chỉ là quan hệ về chính trị

- lãnh thổ mà còn là quan hệ về kinh tế, văn hóa Do vậy, nghiên cứu những mối quan hệ này cũng là để hiểu rõ hơn về lịch sử Champa và lịch sử các nước xung quanh

Đề cập đến những vân đề có liên quan đền một vương quốc cổ ngày nay không còn tồn tại là một việc khá phức tạp, mặc dù tính bức thiết trong lĩnh vực chuyên môn luôn là một đòi hỏi Qúa trình phát triển của lịch sử khu vực cho thấy nhiều mối quan hệ xảy ra giữa các nước ở các thời kỳ khác nhau đã đánh dấu sự tồn tại hay diệt vong của nhiều vương quốc lớn nhỏ Champa nằm trong trường hợp nào và liệu có phải chỉ do quan hệ?

Với một bờ biển dài, Champa có thể thiết lập mối quan hệ thường xuyên với thế giới Hải đảo Nhưng mặt khác, Champa lại nằm kẹp giữa hai nước lớn là Đại Việt và Campuchia

Sự đa dạng, phức tạp trong những mối quan hệ đó, có lẽ là điêu mà K Hall đã nghĩ đến khi đưa ra một so sánh "chỉnh thể Champa giống các quốc gia sông nước Malay hơn là những quốc gia láng giềng làm nông nghiệp trồng lúa nước ở lục địa về phía Tây và phía Bắc của nó" [111, 253] [126, 13] K.Hall còn đưa ra một bức tranh về "'một thể chế hóa yếu ớt" khối liên minh ở Champa giữa những vị vua chúa ở những hệ thống sông khác nhau - một quan điểm dường như đã được đặt ra từ J Boisselier (1963) khi ông muốn nói đến tính địa phương

ẩn hiện trong mỗi phong cách nghệ thuật Thật ra đây là một vấn đề khá lý thú nảy sinh trong

Trang 9

hiện sự phân tán trong thể chế chính trị? Mối quan hệ giữa Champa với các nước vùng Hải đảo thực chất có phải chỉ là mối quan hệ đồng tộc? Kinh tế thương mại biển khu vực đóng vai trò gì trong các mối quan hệ này?

Vấn đề dường như phức tạp hơn khi đề cập đến quan hệ của vương quốc cổ này với các vương quốc láng giềng Là một quốc gia nông nghiệp trồng lúa nước giống như Đại Việt

và Campuchia, lại nằm trên cùng một địa bàn có môi trường sinh thái tương đối giống nhau,

có cả những thói quen giống nhau trong sản xuât và đời sống, Champa có một mối quạn hệ thường xuyên với Đại Việt và Campuchia cả về kinh tế, văn hóa, chính trị - lãnh thổ

Luận án dành một phần để bàn đến mối quan hệ này, đặc biệt là quan hệ về chính trị - lãnh thổ Quá trình phát triển của lịch sử Champa không thể tách rời với những mối quan hệ

đó Thậm chí trong từng giai đoạn, trong một khoảng khắc nào đó của lịch sử, quan hệ với các quốc gia láng giềng còn liên quan trực tiêp đến vận mệnh của vương quốc Sự thật thì từ mội quốc gia độc lập thời cổ trung đại ở Đông Nam Á, Champa đã bị co hẹp dần về lãnh thổ

và đến thế kỷ XVII nó đá không còn tôn tại với tư cách là một quốc gia

Như vậy, mục đích của luận án là nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống những mối quan hệ đã có, đã xảy ra giữa vương quốc cổ Champs với các quốc gia trong khu vực Những mối quan hệ đó đã phát triển, thay đổi như thế nào qua từng giai đoạn lịch sử Hệ quả trực tiếp của nó đối với lịch sử Champa? Có thể chính các mối quan hệ này trong nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự phát triển, tồn tại và suy vong của vương quốc cổ Champa?

Tuy nhiên, như sẽ được trình bày, luận án còn hướng tới phản ánh qúa trình phát triển của lịch sử cũng là quá trình hình thành một cách tự nhiên những quan hệ giữa các cộng đồng

Trang 10

Champa vào Việt Nam đã xảy ra trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, chịu "sức hút " của một dân tộc láng giềng có năng lực tiến thủ mạnh hơn - như cách nghĩ của học giả Đào Duy Anh [2, 234] Nhưng có thể đó cũng là sức hút của một nên kinh tế, một nên văn hóa vừa xa

lạ, vừa gần gũi, là kết quả của một quá trình giao lưu, quan hệ tiếp xúc bình thường nhưng cũng có khi là ép buộc, cưỡng bức giữa hai quốc gia phong kiến ở kề sát nhau như đã từng xảy ra trong lịch sử

Và cuối cùng, tất cả những vấn đề đó cũng là nhằm để hiểu rõ, hiểu đúng hơn về một tộc người có một nên văn hóa riêng đầy bản sắc, đã hội nhập vào văn hóa Việt Nam từ trong lịch sử và là một phần không thể thiếu của văn hóa Việt Nam ngày nay

2 Giới hạn nội dung nghiên cứu và những đóng góp mới của luận án

Vấn đề mà luận án đặt ra chỉ nhằm tìm hiểu một khía cạnh nhỏ trong mảng nghiên cứu về lịch sử Champa - quan hệ với các nước trong khu vực Bản thân vấn đề đã tạo sự giới hạn nhất định cho đề tài, bởi vì không phải tất cả các vương quốc đương thời đều có quan hệ với Champa, Các vương quốc của người Miến là một ví dụ Nhưng mặt khác, Champa còn có Quan hệ với những nước ở gần và có thuyền bè đi qua lại vùng biển Champa thường xuyên như Trung Hoa, Ấn Độ Trong từng giai đoạn hay trong một sự kiện lịch sử nào đó, không thể không đề cập tới những ảnh hưởng của Trung Hoa, Ấn Độ Bởi vì, đây cũng là hai nền văn minh lớn trên thế giới lúc bấy giờ và có ảnh hưởng đến quá trình phát triển của lịch sử Champa

Trang 11

những mối quan hệ nối tiếp, chi phối lẫn nhau để tạo nên một thực tế lịch sử như ngày nay

Cụ thể luận án tập trung giải quyết những nội dung chính sau:

1 Vấn đề buôn bán và trao đổi sản phẩm trên cơ sở một vị trí thuận lợi về vùng biển

và cảng biển Điều này ít nhiều tạo nên diện mạo của một nền kinh tế ngoại thương ở Champa Và đó cũng là nội dung chính của những quan hệ về kinh tế được luận án đề cập tới

2 Những quan hệ về chính trị thường gắn với những lợi ích về lãnh thổ, đất đai Hòa bình hay chiến tranh, xung đột hay khoan nhượng Tất cả còn trực tiếp gắn với chính sách đối ngoại của các triều vua Champa, nội tình của vương quốc cũng như những thay đổi trong tình hình khu vực

3 Những biểu hiện và mức độ của giao lưu văn hóa Dĩ nhiên văn hóa có con đường

đi riêng của nó nhưng cũng không thể tách rời những mối quan hệ về kinh tế, chính trị Thậm chí trong nhiều trường hợp, quan hệ văn hóa giữa Champa với các nước còn là kết quả của những mối quan hệ trên

Tập trung làm sáng tỏ ba nội dung trên, luận án có thể có những đóng góp mới như sau:

- Trình bày có hệ thống lịch sử bang giao của vương quốc cổ Champa, hay nói cách khác, Champa - nhìn từ góc độ những mối quan hệ với bên ngoài

- Trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra, dựa trên nhiều nguồn tài liệu khác nhau

mà chủ yếu là tiếp tục khai thác tài liệu bi kí, thư tịch cổ, niên

Trang 12

giám Chăm, văn kiện xứ Panduranga và những kết quả nghiên cứu của khảo cổ học những năm gần đây, luận án góp phần làm phong phú thêm tư liệu về giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa trong khu vực thời cổ trung đại Đồng thời, trên cơ sở đó, luận án đưa ra một cách nhìn khách quan về mối quan hệ chính trị và lãnh thổ của Champa với các nước láng giềng trong quá khứ, từ đó có những kiến giải khoa học về nguyên nhân suy vong của vương quốc cổ này

và quá trình sáp nhập của Champa vào Việt Nam trong lịch sử

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cuối thế kỷ XIX, Những khám phá của khảo cổ học và việc tiếp xúc với bi ký Champa đã gây nên sự chú ý của các nhà nghiên cứu về lịch sử Champa và những lĩnh vực khác liên quan đến lịch sử Thư mục của P.B Lafont và của Lương Ninh (1992) đã cho biết con số ít nhất là hơn 1000 tài liệu

Những học giả người Pháp là những người đầu tiên nghiên cứu lĩnh vực này Có thể

kể đến những nhà nghiên cứu rất xuât sắc trong các lĩnh vực khác nhau Abel Bergaigne, E.Aymonier, L.Finot nghiên cứu về văn bia; E M Durand nghiên cứu về dân tộc học; về khảo cổ học có LY.Claeys và về nghệ thuật có H Parmentier, và sau ông là Ph Stern, Jean

Boisselier Trong lĩnh vực lịch sử, năm 1911, G Maspero xuất bản cuốn Vương quốc cổ Champa Đây là tác phẩm duy nhất viết về lịch sứ Champa từ đâu cho đến năm 1471

G.Maspero viết lịch sử Champa theo vương triều, trong đó ông có đề cập đến những xung đột quân sự giữa Champa với các nước xung quanh như là một biểu hiện về tính hiếu chiến của người Chàm, mà ông giải thích là do những hạn chế về điều kiện tự nhiên Có thể nói đây là

Trang 13

và dân tộc Chàm Tác giả dựng lại lịch sử Champa và chủ yếu la lịch sử quan hệ để trình bày

quá trình diệt vong của vương quốc cổ này Một cách lý giải còn phiến diện, nhưng cũng chính vì vậy mà tác phẩm chỉ đề cập đến những quan hệ về chiến tranh mà chủ yếu là quan hệ chiến tranh giữa Champa với Trung Quốc và Việt Nam

Năm 1944, G Codes đề cập đến lịch sử Champa trong khuôn khổ của một tác phẩm

viết chung về Lịch sử cổ đại ở các nước Viễn Đông chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ

Phần lịch sử Champa cũng chỉ được đề cập đến năm 1471 và chú trọng lịch sử chính trị Ba năm sau, R Stein công bố những nghiên cứu của mình về thời kỳ đầu của Champa qua tác

phẩm Nước Lâm Ấp, vị trí và sự đóng góp của nó vào sự hình thành Champa và các quan hệ của nó với Trung Quốc Trong đó, Stein đã trình bày sự hình thành của Lâm Ấp (Lin Yi) cổ

đại và "sự tiến triển từ Lâm Ấp đến Champa", phân tích và chứng minh cả về mặt lịch sử và

về mặt ngôn ngữ Sự nghiên cứu này được bổ sung vào năm 1958 bởi Wang Gungwu trong

công trình Nghiên cứu về lịch sử cổ đại của con đường thương mại Trung Hoa ở biển Nam Trung Quốc Có thể coi đây là tác phẩm đầu tiên đề cập đến con đường thương mại của Lâm

Ấp trong những thế kỷ đầu công nguyên

Nhưng nếu như lịch sử Champa trước năm 1471 được khá nhiều người đề cập đến thì

giai đoạn sau 1471 lại rất hiếm Năm 1991, luận án tiến sĩ của Po Dharma Le Ponduranga

nghiên cứu lịch sử giai đoạn 1805 - 1835 ở một vùng dân cư phía Nam của Champa cũ, vùng Panduranga Trước đó Po Darma cũng đã tổng kết những quan điểm của mình về lịch sử

Champa trong bài nghiên cứu Tình hình nghiên cứu gần đây về niên đại sáp nhập của Champa vào Việt Nam Ông cho rằng Paduranga là một tiểu quốc tự trị trong "liên bang

Champa", sự kiện 1471 chỉ đánh dấu sự diệt vong của tiểu quốc

Trang 14

Vijaya, và cho rằng: "Champa, một thể chế chính trị có tổ chức đã không biến mất vào thế kỷ

XV, cũng không phải vào thế kỷ XVII, mà chỉ đến nửa đầu thế kỷ XIX nó mới bị diệt vong" Luận điểm này, đứng về mặt khoa học có lẽ còn là vấn đề phải tranh cãi Tuy nhiên xin được

đề cập đến sau, ở chương III của luận án

Ở Việt Nam, nghiên cứu về Champa không còn là một vấn đề mới mẻ Đã có nhiều thế hệ học giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực khảo cổ học Hai thập niên cuối của thế kỷ XX, việc nghiên cứu di tích văn hóa vật chất đã đạt được những thành tựu đáng

kê Thông báo hàng năm của viện Khảo cổ luôn có những báo cáo mới, những kết quả mới Đây cũng chính là một nguồn tài liệu gốc, mang tính cập nhật cao mà tôi sử dụng trong luận

án của mình

Việc nghiên cứu Champa dưới góc độ dân tộc học, nghệ thuật, văn hóa cũng khá sôi

nổi Các tác phẩm như Văn hóa Chăm của Phan Xuân Biên và các cộng sự, Văn hóa Champa

của Ngô Văn Doanh, một số bài nghiên cứu của Trần Kỳ Phương đã trở nên khá quen thuộc Nhiều nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến những vấn đề thuộc lĩnh vực lịch sử Đáng

kể là phần lịch sử Champa được viết trong cuốn giáo trình Lịch sử Việt Nam của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1992) Người viết là giáo sư Lương Ninh đã đề cập đến lịch sử Champa một cách khá toàn diện, từ lịch sử chính trị cho đến lịch sử kinh tế, văn hóa, xã hội Đáng tiếc là do nhiều lý do khách quan ông mới chỉ công bố được phân lịch sử Champa trước

thế kỷ X, dưới nhan đề Cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Champa, tức là chương

V, trong giáo trình Ngoài ra ông còn có một số bài nghiên cứu về các vấn đề khác như văn

bia, nghệ thuật Bài viết gần đây nhất, năm 1999, đăng trong tạp chí Nghiên cứu lịch sử là

Trang 15

nhất của vương Quốc cổ Champa

Một số tác giả cũng đã đề cập đến lịch sử quan hệ nhưng chủ yếu là quan hệ với Đại

Việt trong một số tác phẩm như Lý Thường Kiệt của Hòang Xuân Hãn, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777 - cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam của Phan Khoang, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim Ngoài ra cũng cân phải kể đến một số bài nghiên cứu khác, trong

đó có những bài viết và đăng trong các tạp chí ở miền Nam từ những năm 50 của thế kỷ nhưng những vấn để đặt ra cho đến nay, vẫn chưa được giới nghiên cứu kế thừa và lưu tâm tới như về quan hệ Việt - Chăm, sự ảnh hưởng và " hòa nhập" văn hóa là một ví dụ Các tác

giả Vũ Lang và Nguyễn Khắc Ngữ có bài viết Ảnh hưởng văn hóa Chàm qua Việt Nam, Tân Việt Điểu với bài Ảnh hưởng và di tích Chiêm Thành trong nền văn hóa Việt Nam

Như vậy, việc nghiên cứu Champa đã có và khá phong phú Tuy nhiên có một điều dễ nhận thấy là chưa có một tác phẩm nào đề cập đến vấn đề quan hệ giữa Champa với các nước trong khu vực một cách hoàn chỉnh trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa Còn có nhiều khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu này Mặc dầu vậy, điểm qua một số công trình nghiên cứu mang tính chuyên khảo, ta thấy cũng đã có nhiều học giả quan tâm đến vấn đề lịch sử quan hệ của Champa trên nhiều khía cạnh khác nhau

Quan hệ về chính trị - lãnh thổ thường gắn với những hoạt động quân Sự, chiến tranh

đã được đề cập đến trong một số tác phẩm đã nêu trên Năm 1942, Ph Stern công bố tác

phẩm Nghệ thuật Champa (xứ An Nam cũ) và tiến trình của nó Sáu đó, người học trò của ông là J Boisselier (1963) đã rất xuất sắc trong một tác phẩm chuyên khảo đồ sộ, Nghệ thuật tạo tượng Champa - nghiên cứu về các đạo giáo và tiếu tượng học, Ph Stern và LBoisselier

Trang 16

đề cập đến những quan hệ giao lưu văn hóa để lại những dấu ấn trong nghệ thuật kiến trúc và

điêu khắc Champa Pierre Dupont (1949) trong một chuyên khảo nhỏ Nước Chân Lạp và Panduranga đề cập đến mối quan hệ giữa Chân Lạp và Panduranga, về một vương triều có

những mối quan hệ tiếp nối truyền thống tốt đẹp đã có từ thế kỉ VII, khi kinh đô còn ở Trà

Kiệu Ông còn có chuyên luận về Những sự đóng góp của Trung Quốc trong phong cách Phật giảo ở Đồng Dương, nêu những nhận xét về một ảnh hưởng ngoại lai đối với phong

cách nghệ thuật này

Gần đây hơn, ở hội nghị Champa tổ chức tại Copenhagen (23 tháng 5 năm 1987), trong một báo cáo, B.RLaíont đã nêu tóm tắt một số quan điểm của ông về mối quan hệ giữa Champa và các nước Đông Nam Á Nhiều mối quan hệ trên các lĩnh vực đã được ông đề cập tới và gợi ra những vấn đề thú vị, những hướng nghiên cứu theo chủ đề này Tuy nhiên, dường như ông có phần "cực đoan" khi đánh giá quan hệ giữa Champa với Đại Việt chỉ đơn thuần là quan hệ chiến tranh và dẫn đến sự triệt tiêu về mặt văn hóa (?)

Anthony Reid cũng bàn đến vấn đề "Champa trong hệ thống thương mại biển Đông Nam Á", đề xuất một thể chế chính trị đa trung tâm ở Champa giống như các vương quốc của người Nam Đảo vùng Hải đảo Còn K Hall thì dành chương VII trong tác phẩm cửa mình là

Thương mại biển và tình trạng phát triển của Đông Nam Á cổ đại, thống kê những sản phẩm

của thương mại Chàm trong thư tịch cổ Trung Hoa và nhân mạnh tầm quan trọng của vị trí bờ biển Champa đối với nền ngoại thương khu vực Ngoài ra, dựa trên cơ sở sử liệu Trung Quốc

và Việt Nam viết về tính hiếu chiến, giỏi chiến thuyền, thường xuyên cướp bóc Đại Việt từ đường biển của người Chàm, K Hall còn cho rằng ở Champa cả nông nghiệp và mẫu dịch

Trang 17

Những bài nghiên cứa riêng biệt nêu trên dẫu sao cũng không thể khái quát một cách đầy đủ vấn đề quan hệ của Champa với các nước trong khu vực Mặt khác, vì nhiều lý do khách quan cũng chưa thể phản ánh hết được những phát hiện mới, những kết quả nghiên cứu mới về Champa trong những năm gần đây trên cơ sở nguồn tư liệu tại chỗ

4 Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu

Có nhiều nguồn sử liệu ghi lại những mối quan hệ của Champa với các nước trong khu vực nhưng tản mạn, thiếu hệ thống và khó nghiên cứu Tuy nhiên, tôi đã cố găng khai thác để sử dụng nguồn tài liệu có trong văn bia, thư tịch cổ và những hiện vật, di tích khảo cổ học

Về văn bia, tôi sử dụng bản thống kê và dịch của các học giả người Pháp, chủ yếu là

trong công trình Notes d'epigraphie Indochinoise của L.Finot cùng một loạt các bài nghiên

cứu của ông về bi kí Mĩ Sơn đăng trong tập san Viễn Đông Bác Cổ, các tập II số 3 - 4 năm

1902; tập III số 4 năm 1903; tập XV năm 1915 Ngoài ra tôi còn sử dụng thống kê văn bia Champa của giáo sư Lương Ninh đăng trong Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam Số tự và ký hiệu của các văn bia tôi dùng trong luận án là ghi theo L.Finot

Về thư tịch cổ có thư tịch cổ Trung Hoa và thư tịch cổ Việt Nam Thư tịch cổ Trung

Hoa chủ yếu ghi lại các quan hệ ngoại giao và quân sự như Tam Quốc chí (phần Ngô thư, truyện thứ 15), Tấn thư (phần Lâm Ấp quốc, quyển 97), Tùy thư (quyển 82), Tân Đường thư (quyển 222), Cựu Đường thư (quyển 197) Ngoài ra một số sách khác như Thủy kinh chú - sách viết về địa lý thể kỷ VI, hay Lĩnh ngoại đại đáp, tập sách ghi chép về tỉnh Quảng Tây và

các nước ở Nam Hải, được biên soạn vào năm 1178 cũng

Trang 18

được tham khảo để biết thêm về điều kiện tự nhiên hay tiềm năng kinh tế của Champa dưới cái nhìn của người Trung Hoa Nguồn tài liệu mà thư tịch cổ Việt Nam cung cấp chủ yếu tôi

khai thác trong Đại Việt sử kỷ toàn thư, Đại Nam thực lục tiền biên Các sách khác như Việt

sử lược, An Nam chí lược, Khâm định Việt sử thông giám cương mục chủ yếu dùng để đối chiếu, so sánh Ngoài ra tôi còn khảo cứu Ô châu cận lục, Đại Nam nhất thống chí, Dư địa chí, Phủ biên tạp lục như là một nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu những vấn đề về

lãnh thổ, biên giới, dân cư những vùng đất có liên quan đến quan hệ giữa hai nước Tôi cũng

chú ý khai thác sử liệu trong Văn kiện xứ Panduranga, một tài liệu gốc rất có ý nghĩa, phản

ánh tương đối đầy đủ tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trấn Thuận Thành giai đoạn thế kỷ XVII, XVIII

Về tài liệu di tích và hiện vật, ngoài những tài liệu có được qua công tác điền dã, tôi còn sử dụng khá nhiều những kết quả mà khảo cổ học phát hiện được những năm gần đây được công bố trong các hội nghị thông báo khảo cổ học hàng năm của Viện Khảo cổ

Trong quá trình làm đề tài, tôi đã sử đụng những phương pháp nghiên cứu sau:

1 Phương pháp tiếp cận hệ thống : Đặt Champa trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á thời cổ trung đại để nghiên cứu Coi Champa như một vương quốc độc lập với các nước khác trong khu vực bấy giờ và là một thành tố vừa tham gia vừa chịu sự tác động của những biến chuyển trong tình hình khu vực Phương pháp tiếp cận hệ thống là cơ sở để xem xét các vấn

đề trình bày trong luận án

2- Phương pháp khảo sát điền dã: tiếp xúc di tích, sưu tầm gia phả, tài liệu dân gian Đặc biệt là điều tra thực trạng người Chăm ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Thành phố

Trang 19

3 Phương pháp liên ngành : Tôi đặc biệt chú trọng phương pháp này trong quá trình thực hiện đề tài, khai thác và kết hợp ba loại tài liệu: lịch sử, dân tộc học, khảo cổ học

4 Là một đề tài lịch sử, quan điểm khi nghiên cứu là tuân thủ phương pháp lịch sử Ngoài việc phân tích, so sánh mối liên hệ giữa các sự luận lịch sử, đề tài cố gắng trình bày các luận điểm trên cơ sở bám sát các sự kiện lịch sử , chân thực lịch sử, trình bày lịch sử như

nó đã từng có

5 Bố cục của luận án

Luận án gồm 180 trang Phần nội dung chính là 160 trang, trong đó gồm phần mở đầu

13 trang, kết luận 5 trang, tài liệu tham khảo 10 trang Luận án được chia làm 3 chương:

- Chương I: Những mối quan hệ của Champa trong giai đoạn hình thành và bước đầu phát triển (từ đầu công nguyên đến thế kỉ X)

- Chương II: Những mối Quan hệ trong thời kì Vijaya (thế kỉ X - thế kỉ XV)

- Chương III: Hậu Champa và đoạn kết của các mối quan hệ (cuối thế kỉ XV- thế kỉ XVII)

Trang 20

CHƯƠNG 1: NHỮNG MỐI QUAN HỆ CỦA CHAMPA TRONG GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ BƯỚC ĐẦU PHÁT TRIỂN (Từ đầu công nguyên

đến thế kỷ X)

Ra đời trên một địa bàn khá hẹp, cư dân ít, nhưng mười thế kỷ đầu lập quốc và phát triển, Champa vẫn tự đứng vững được trong khi hàng loạt các quốc gia cổ ở Đông Nam Á lục địa ra đời cùng thời với nó bị diệt vong Vào thế kỷ X, một đỉnh cao, một thế kỷ độc đáo trong lịch sử của mình, Champa còn là một vương quốc phát triển toàn diện và vững chắc so với các quốc gia trong khu vực Điều gì khiến cho nó trở thành một vương quốc phát triển ở Đông Nam Á lúc bấy giờ? Phải chăng trong một bối cảnh khu vực thuận lợi và Champa đã

biết phát huy thế mạnh của mình: mở cửa giao lưu với thế giới bên ngoài?

1 Cơ sở ban đầu của những mối quan hệ

1.1 Từ người Nam Đảo đến người Chăm - điểm khởi đầu của những mối quan hệ

Một bộ phận của người Nam Đảo đã thiên di đến vùng biển miền Trung Việt Nam ngày nay Họ trở thành người Chăm với tư cách là cư dân của vương quốc cổ Champa Nhưng họ không phải là những người đầu tiên có mặt ở vùng đất này

Nhà nghiên cứu người Ao R Heiner Gelder (1932) đã đưa giả thiết về

Trang 21

quê hương ban đầu của người Nam Đảo ở vùng đất phía Nam Trung Hoa rồi sau đó họ mới thiên di xuống vùng Đông Nam Á hải đảo Sau R Heiner Geldern và vẫn theo quan điểm này của ông là Colani (1938), H Otley Beyer (1948) Gần đây hơn là Bellwood Peter (1992), Anthony Reid (1995) Trong khoảng thiên niên kỷ III tr CN, dân Nam Đảo đã tập trung xung quanh các đảo Philippin và Indonesia ngày nay Họ tiếp tục đời sống sản xuất nông nghiệp, làm đồ gốm và đặc biệt là đóng thuyền đi biển Cũng bắt đâu từ đó, họ thực hiện những chuyến đi ngang dọc trên biển, in dấu ấn của mình vào lịch sử nhân loại như một tộc người giỏi đi biển và sinh sống gắn với biển khơi

Đưa ra một giả thiết khác về quê hương ban đầu của người Nam Đảo, học giả người

Mỹ Soheim II cho rằng dân Nam Đảo (hay Nusantao, theo cách gọi của ông) xuất phát từ đảo Mindanao (Philippin) theo gió mùa vào biển Đông (Miền Trung và Nam Việt Nam ngày nay), rồi mới đến miền Nam Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản Một bộ phận còn đi về phía Nam lục địa Châu Á, tới tận bờ biển Đông Phi Họ định cư lại ở một nơi, một nhóm dân cư,

mở ra sự trao đổi sản phẩm và giao lưu văn hóa rộng lớn [130]

Nhìn chung thì các học giả nếu vẫn còn phân vân về quê hương ban đầu của người Nam Đảo thì lại dễ dàng thừa nhận khả năng thiên di trên biển và vai trò tiên phong mở ra những con đường đi trên biển của họ Chính người Chàm về sau đã biết lợi dụng thế mạnh này của tộc người trong việc giao lưu với thế giới bên ngoài

Từ khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II - đầu thiên niên kỷ I - tr CN, nhóm Nam Đảo phía Đông (Indonesia) tung hoành trên biển Thái Bình Dương, đến Tonga, Samoa, Hawai và Newzeland Cùng thời gian đó, nhóm Nam Đảo phía Tây đã thực hiện được những chuyến đi đáng kinh ngạc Họ tới vùng biển miền Trung Việt Nam ngày nay, để sau này tạo nên nhóm Austronesia -

Trang 22

Chàm, tới Borneo, Java, Sumatra, Sulawesi Một bộ phận cũng từ đây thiên di tới tận Madagaskar, nơi đã có "những người bản địa Java hóa giống họ", định cư và dần dần tạo nên một nền văn hóa Malayopolynesian phía Tây phát triển độc lập Có lẽ đây chính là nhóm Nam Đảo mà biên niên sử Bồ Đào Nha thế kỷ XVII lưu ý đến [125, 2 - 3]

Có thể ra đưa ra sơ đồ về sự phân tách các dòng nói tiếng Nam Đảo mà người Chăm

là một nhánh như sau:

Như vậy, một thế giới Nam Đảo rộng lớn đã được mở ra Trong thế giới đó, vùng biển miền Trung Việt Nam ngày nay là một điểm quan trọng

Khảo cổ học đã chứng minh được sự có mặt của người Nam Đảo ở bờ biển Việt Nam

từ cuối thiên niên kỷ II tr CN Tuy nhiên, những đợi thiên di đáng kể của họ đến vùng biển này nẳm trong khoảng thời gian từ 500 năm tr CN cho đến đầu công nguyên và tập trung rõ nhất là ở Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) Cùng trong khoảng thời gian này, dấu vết những vùng quần cư của họ còn rải ra đến tận Quảng Bình, và lan vào đến ven biển thành phố Hồ Chí Minh ngày nay Một nhánh còn đến tận An Giang, Kiên Giang, sau này đọng lại ở Óc Eo, là

cư dân của "nước Chí Tôn"-NaravaraNagara [50] mà có lẽ cũng chính là một bộ phận chủ chốt của cư dân vương quốc cổ Phù Nam vào những thế kỷ đầu công nguyên

Dân Nam Đảo vốn là những người đi biển cừ khôi, thiên di nhiều và có thói quen sống phiêu diêu trên biển Điều đó nói lên nhiều ý nghĩa, song không có nghĩa là họ không có

Trang 23

vò vò ở Bình Châu, Long Thạnh, Quảng Ngãi mà khảo cổ học phát hiện ra không thể là việc diễn ra một ngày, một tháng Những dâu vết cư trú còn nằm rái rác ven bờ biển Việt Nam, và gần đây nhất, năm 1993, người ta còn phát hiện ra thêm một di chỉ cư trú gần Sa Huỳnh [85,

121 - 124]

Rõ ràng người Nam Đảo đã đến bờ biển Việt Nam từ rất sớm, ít ra là từ trên dưới

1000 năm tr CN, ăn đời ở kiếp nơi đây, và chắc là đã diễn ra một quá trình cộng cư đơn giản, hòa bình với những nhóm dân bản địa sống thưa thớt nhưng đã có mặt từ trước khi người Nam Đảo thiên di tới Chính sự có mặt của người Nam Đảo và sự cộng cư này là điểm khởi đầu cho sự ra đời và phát triển của những nền văn hóa và những vùng văn hóa sau đó ở ven biển miền Trung Việt Nam ngày nay

Các nhà khảo cổ học tìm thấy trong một số di chỉ dấu vết của một nên văn hóa đặc trưng, gọi chung là văn hóa Sa Huỳnh, có niên đại phổ biến cũng vào khoảng 500 năm tr CN

- nằm trong khoảng không gian và thời gian mà người Nam Đảo thiên di đến vùng biển miền Trung Việt Nam Sau văn hóa Sa Huỳnh và cũng chính trên địa bàn này xuất hiện nền văn hóa của tộc người Chăm gắn liên với lịch sử hơn 10 thế kỷ tồn tại của vương quốc cổ này

Tài liệu chính sử Trung Quốc cho thấy, người Chăm lập quốc sớm nhất là vào thế kỷ

II Như vậy Sa Huỳnh cách Chăm cả gần nửa thiên niên kỷ, nhưng trong khoảng thời gian đó liệu vùng văn hóa Sa Huỳnh có sự tồn tại tự nhiên của một bộ phận dân cư nào khác?

Vùng biển miền Trung xưa của Việt Nam sớm hội tụ được những điều kiện cho khả năng tập trung dân cư mà trước hết phải kể đến biển như là một yếu tố đầu tiên Hơn nữa, đây cũng là nơi có, những dòng sông lớn đổ ra biển và tạo nên những đồng bằng nhỏ; sông Thu Bồn ở Quảng Nam, sông Trà ở

Trang 24

Quảng Ngãi, sông Côn ở Bình Định, sông Ba ở Phú Yên Ở di chỉ Trảng Sỏi Sứ (nằm bên bờ Bắc của dòng chảy cổ có tên gọi hiện nay là Rọc Gốm thuộc Hội An, Quảng Nam, Đà Nằng), thuộc tầng văn hóa thứ hai, độ sâu là 0,20 m -0,80 -0,90 m, tìm thấy khá tập trung nhiều hiện vật gốm thô và hơi thô, mà " rất khó phân biệt rạch ròi giữa hai loại gốm thô Sa Huỳnh Và Gốm thô Champa" Vì thế những nhà Khảo cổ học tạm dùng thuật ngữ "gốm thô Sa Huỳnh - Champa" để chỉ những hiện vật này [80] Theo dự đoán của các nhà nghiên cứu, có lẽ Trảng Sỏi Sứ không phải là một di chỉ sản xuất gốm mà có thể chỉ là một làng - bên ven sông, một vùng cư trú Gần đây hơn, tháng 9 năm 1996, một nhóm các nhà khoa học tiến hành đào thám sát kinh đô Champa cổ - Đông Dương Qua phân tích những hiện vật tìm thấy, họ đã đưa ra những giả thiết đáng tin cậy về sự tồn tại liên tục của một vùng cư trú từ những thế kỷ trước công nguyên cho đến tận thế kỷ XVIII [74] [88, 674] Ở một di chỉ thuộc vùng trung tâm của văn hóa Sa Huỳnh, di chỉ Xóm Ốc trên đảo Lý Sơn, tính chất cư trú lâu dài và liên tục từ tiên

Sa Huỳnh đến Champa được thể hiện ở sự có mặt một tâng văn hóa dày 1,5 m và không có lớp ngăn cách Lớp trên cùng chứa gốm Sa Huỳnh muộn - Champa sớm mà rõ ràng nhất là các mảnh gốm muộn có độ nung cứng dạng bát sành, xương gốm mịn và sáng mầu [51], [71] Mặc dù vấn đề còn nhiều nghi vấn, nhưng dẫu sao những hiện vật gốm tìm thấy ở một số di chỉ thuộc vùng văn hóa Sa Huỳnh - Champa cũng hé mở ít nhiều những bằng chứng cho thấy,

sự tiếp nối trong đời sông dân cư ở ven những dòng sông thuộc miền Trung Việt Nam ngày nay Văn hóa Chăm có sự trùng lặp về mặt không gian và nối tiếp về mặt thời gian với văn hóa Sa Huỳnh Dân Sa Huỳnh cổ có thể trở thành dân của vương quôc cổ Champa là một giả thiết vẫn được đặt ra

Cũng trên địa bàn của văn hóa Sa Huỳnh, truyền thuyết Chăm nói đến hai bộ lạc Cau

Trang 25

và không gian tồn tại của hai bộ lạc này còn phải bàn cãi nhiều nhưng chắc đây là hai bộ lạc

có thật bởi vì nó được phản ảnh lại cả trong truyền thuyết và bi kí Từ hai bộ lạc này, hình thành hai tiểu quốc Nam Chăm và Bắc Chăm J Boisselier (1963) tỏ ra nghi ngờ khi ông phản đối ý kiến của G Maspero gắn các vị vua của vương triều Panduranga (thế kỷ 8) vào thị tộc Cau Ông nhấn mạnh đến vấn đề tên tiếng Phạn của hai thị tộc chỉ xuất hiện trong bi kí muộn, vào thế kỷ XI

Truyền thuyết về thị tộc Cau và Dừa xuất hiện trong bia Mĩ Sơn XII của Harivaman

IV và theo J.Boisselỉer là khá muộn và ngẫu nhiên "Chẳng có gì cho phép nhận định rằng những điểm ghi chép này có vào thế kỷ VIII và càng không thể ghép các vị vua mới vào thị tộc Cau" [3, 62]

Thực ra truyền thuyết được phản ánh muộn không có nghĩa là xuất hiện muộn Và đây không phải là trường hợp cá biệt Trong hệ thông bi ký Chàm, ta được biết bia Mĩ Sơn 3 của Vikrantavarman I nổi tiếng thế kỷ VIII, kể về truyền thuyết Kaudynia và Soma phỏng theo truyền thuyết Hỗn Điền - Liễu Diệp cách thời gian tạo dựng bia cả mấy thế kỷ Có thể hình dung rằng vào thời điểm đó chưa thể có một ranh giới địa lý rõ ràng, nên địa bàn sinh sống của hai thị tộc cũng chính là giới hạn địa bàn của hai tiểu quốc Tên tộc Cau và Dừa sẽ mất đi khi tên tộc chung thông nhất ra đời và gọi theo tên nước: tộc Chăm

Tài liệu chính sử Trung Quốc cho thấy, người Chăm lập quốc sớm nhất vào thế kỷ thứ

II, sau cuộc khởi nghĩa giành quyền tự chủ của Khu Liên vào năm 190 và họ gọi đó là nước Lâm Ấp Lâm Ấp ban đầu chỉ bao gồm vùng Bắc Chăm (địa bàn chủ yếu của văn hóa Sa Huỳnh, nay là các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng Ngãi)

Trước khi Lâm Ấp lập nước và sau đó phát triển song song cùng với

Trang 26

Lâm Ấp, vùng duyên hải phía Nam Miền Trung Việt Nam ngày nay tồn tại một tiểu quốc độc lập mà sau này nó sẽ là vùng Panduranga của Champa Tiểu quốc phía Nam Lâm Áp này đứng ngoài hệ thống thuộc quốc của Phù Nam, mặc dù nằm sát Phù Nam Điều đáng nói là trên địa bàn Nam Chăm người ta tìm thấy bia Võ Cạnh Các nhà khoa học vẫn cho rằng đó là tấm bia cổ nhất Đông Nam Á và chứng tỏ được sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên [106] [8] [48]

Hẳn rằng trước khi vùng Nam Chăm mang tên gọi chính thức Panduranga và trở thành một bộ phận của vương quốc cổ Champa, cư dân ở đây phải có những mối quan hệ, trên tư cách là mối quan hệ đồng tộc với dân Lâm Ấp và cả bộ phận Nam Đảo của cư dân cổ Phù Nam Họ đóng vai trò trung gian - tiêp nhận văn hóa Ấn Độ từ phía Nam và chuyển tải văn hóa Ấn lên phía Bắc Trước khi giành được độc lập, Lâm Ấp chịu sự cai trị của nhà Hán Tuy nhiên, do điều kiện địa lý nên sự chi phối, cương tỏa của nhà Hán cũng ít nhiều bị hạn chế Hơn nữa, Lâm Ấp lại sớm giành được quyên tự chủ Nhưng có lẽ yếu tố quan trọng để

nó có thể dễ dàng tiếp nhận văn hóa Ấn Độ và thông nhất với Nam Chăm chính là do có quan

hệ đồng tộc của những bộ phận cư dân nói tiếng Nam Đảo sống trên cùng một địa bàn

Những tiểu quốc ban đầu này, có thể vào một thời điểm nào đó sẽ là cơ sở hành chính cho tình trạng biệt lập, tản quyền của các địa phương trong vương quôc cổ Champa Nhưng đồng thời, nó cũng chính là những thành tố, hạt nhân tạo nên sự thống nhất dân cư và lãnh thổ khi có điều kiện và nhu cầu

Ta biết rằng cho đến thế kỷ VIII, thư tịch cổ Trung Hoa vẫn gọi Champa là Lâm Ấp Mối quan hệ giữa Champa với Trung Hoa có từ rất sớm và không chỉ là quan hệ chiến tranh (để giành độc lập) Được biết những phái viên đầu

Trang 27

tiên của Lâm Ấp gửi đến Trung Hoa là vào năm 220 và 230 CN, thì có lẽ những phái viên này chỉ đại diện cho Bắc Chăm Nhưng cũng theo thư tịch cổ Trung Hoa, vào thế kỷ IV, sứ của Phù Nam sang Trung Hoa than phiền về việc "Lâm Ấp hay gây hấn", thì Lâm Ấp ở đây hẳn không phải là chỉ để chỉ vùng Bắc Chăm mà thôi Trong thư của Jayavarman, vua Phù Nam trị vì vào khoảng nửa sau thế kỷ V, gửi cho Hoàng Đế Trung Hoa xin trừng phạt kẻ có tội (Lâm Ấp) lại nhấn mạnh:"Nước Lâm Ấp và nước Phù Nam là những nước có biên giới chung"[43, 129 và 151]

Thư tịch cổ Trung Hoa, Lương Thư, chép lại một cách khá rõ ràng về các đời vua ở Lâm Ấp: Phạm Văn ở ngôi từ năm 337 đến năm 349 và Phạm Phật, con Phạm Văn ở ngôi từ

349 đến sau 361 Phạm Văn đã đem quân đánh chiếm Nhật Nam, lấy đèo Hoành Sơn làm cương giới phía bắc, xây thành Khu Túc để phòng giữ

Sách Thủy kinh chú chép: Thành Khu lật (Khu túc) là thành cũ của huyện Tây Quyền Phía Nam thành ấy, tức là phía Đông dãy núi dài là huyện Thọ Lanh có sông chảy qua Nấm Chính Thủy Thứ IX, đời Ngụy, nước Lâm Ấp tiến đánh huyện Thọ Lanh, lấy làm địa giới Sử học bị khảo giải thích: Thành Khu lật này thuộc phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, sông Thọ Lanh tức là sông Ranh ngày nay Đại nam nhất thông chí (QIII, tỉnh Quảng Bình, phần cổ tích) lại nhắc đến một thành được gọi là Lũy cổ Lâm ấp ở trên đèo Ngang về phía Bắc huyện Bình Chánh, chạy dọc theo núi đến biển, tương truyền do vua Lâm ấp là Phạm Văn đắp làm chỗ chia địa giới "là lũy cũ của Hoàn Vương (Lâm ấp) nay vẫn còn dấu vết

Tương ứng với thời gian mà thư tịch cổ Trung Hoa ghi chép, bi ký cũng cho biết về một nhân vật có tên là Bhadravarman (L Finot ký hiệu là Bhadravarman I) Ông này có bia ở

cả Nam và Bắc Chăm, 3 bia tìm thấy ở Quảng Nam, trong đó đáng chú ý là bia Mĩ Sơn I ( kí hiệu của L.Finot)

Trang 28

Mĩ Sơn I nói tới việc dựng một ngôi đền và giới hạn ruộng đất cúng tặng ngôi đền Ngoài ra cần phải kể đến những chữ khắc trên một phiến đá tìm thấy ở Chợ Dinh, thuộc thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, một địa điểm giáp với vùng Nam Chăm Điều này cũng cho phép ta nghĩ tới sự thông nhất giữa Nam Chăm và Bắc Chăm đã xảy ra từ thế kỷ IV Tuy nhiên, sau đó hai thế kỷ lại không thấy bia Chàm được tạo dựng Vào cuối thế kỷ VI, thời vua Sambhuvarman (khoảng 594 -692) xuất hiện khá nhiều bia Đáng chú ý là bia Mĩ Sơn III tìm thấy ở gần đền

Mĩ Sơn E6 cùng với một vài mảnh bi ký khác sưu tầm được ở Mĩ Sơn B1 (L.Finot đã công

bố trong Các bi ký ở Mĩ Sơn - B.E.F.E.O IV và VI, Tr 981 và 982 Ngoài ra còn có E.Huber viết trong Ba bi kí mới phát hiện của vua Prakasadharma của nước Champa - B.E.F.E.O, XI,

tr 262) Mĩ Sơn III nói về việc xây lại đền thờ của Bhadravarman I - một bằng chứng mỏng manh thừa nhận sự khởi đầu của Champa thống nhất bắt đầu từ thế kỷ IV Bia cũng cho biết tên gọi chính thức của vương quốc là Champa Tên gọi này không thấy xuất hiện trong các tài liệu chính sử của Trung Quốc hay Việt Nam Lương Ninh giải thích đây là tên người Chăm

tự gọi mình và tên tộc Chăm cũng có thể được gọi từ đó [48, 193]

Đến đây, nếu như ta còn phân vân về niên đại Champa thống nhất vào cuối thế kỷ IV gắn với Bhadravarman I, thì cuối thế kỷ VI là niên đại chắc chắn muộn nhất đánh dấu sự kiện này

Một vương quôc cổ của cư dân ven biển Miền Trung Việt Nam xưa đã hình thành Từ những nhóm Nam Đảo lênh đênh trên biển rồi định cư nơi đây, năm tháng đi qua họ đã xây dựng vương quốc cổ Champa - trở thành tộc Chăm Người Chăm đã biến bờ biên tự nhiên thành khu vực có dân cư sinh sống, có lịch sử phát triển riêng của mình Hơn 15 thế kỷ tồn tại, vương quôc cổ Champa không đứng ngoài các mối quan hệ và quá trình phát triển chung

Trang 29

1.2 Một vị trí thuận lợi cho việc buôn bán và giao lưu văn hóa

Năm ở vị trí trung độ trên con đường giao lưu quốc tế Đông - Tây, Trung Quốc với

Ấn Độ và xa hơn, tới Địa Trung Hải, Đông Nam Á sớm trở thành một đầu mối mậu dịch hàng hải quốc tế Từ đầu công nguyên, những con thuyền của cư dân trong vùng, thuyền của người Ấn, người Hoa cùng với nền văn hóa của họ đã thường xuyên qua lại vùng biển Đông Nam Á

Trên con đường giao lưu đó, Champa chiếm lĩnh một trong những vị trí thuận lợi nhất Các cảng của Champa đóng vai trò như những cảng cuối cùng trước khi những con thuyền vượt qua vịnh Bắc Bộ vào vùng biển Trung Hoa, và là nơi dừng chân đầu tiên khi từ Trung Quốc đi đến Malacca, vịnh Thái Lan hay gần hơn, tới vùng hạ lưu châu thổ sông Mekong mà 7 thế kỷ đầu công nguyên thuộc vương quốc Phù Nam Hành trình của người Trung Hoa qua vùng biển Champa quen thuộc đến nỗi được Tân Đường thư (quyển 222 hạ, liệt truyện 147 hạ - Nam man) ghi chép lại như sau:" Từ Quảng Châu đi biển về Đông Nam

200 dặm, rồi giương buồm đi về phía Tây, chếch về phía Nam hai ngày lại đi về phía Tây Nam ba ngày thì đến núi Chiêm Bất Lao, lại đi nửa ngày đến Châu Bôn Đà Lãng (tức Panduranga)" Nói chung mọi tuyến đường biển đến Trung Hoa hay từ Trung Hoa đi qua Ấn

Độ đều phải rẽ qua các cảng biển Champa Từ một đầu mối giao thông quan trọng, bờ biển Champa đã sớm trở thành một đầu mối giao thương, nơi trao đổi sản vật và sản phẩm với những thuyền bè qua lại

Sự cho phép của điều kiện tự nhiên và thói quen văn hóa tộc người đã sớm hình thành

ở người Chàm một truyền thống đánh cá, đóng thuyền để đi biển dạn dày kinh nghiệm Đến cuối thế kỷ IV, những người Nam Đảo, trong đó có người Chàm đã đóng vai trò như những

"con thoi" trên vùng biển Đông và Nam Á, gắn bó những hòn đảo Đông Nam Á trong hệ thống thương mại thế giới Trong những tuyến giao thương mà người Nam

Trang 30

Đảo có liên quan trực tiếp, thì Champa giữ một vị trí quan trọng nhất trên tuyên đường biển Nam Trung Hoa Ngay từ đầu công nguyên bờ biển Champa đã sớm là nơi thu hút những tàu

bè gần xa cập bến vì nhiều lý do khác nhau Họ ghé vào cửa Đại Chiêm, cảng Panduranga, Thi Nại (Vijaya) để lấy nước, thực phẩm, để nghỉ ngơi hay tránh những cơn bão với mật độ khá dày ở vùng biển này Biển là điều kiện đầu tiên để Champa mở ra con đường giao lưu với các nước trong và ngoài khu vực Và vì thế những nước có quan hệ với Champa ngay từ những buổi đầu của lịch sử cũng là những nước có thuyền bè đi qua lại vùng biển Đông Nam

Á và vùng biển Champa Tuy nhiên, tính chất, mức độ, sự phát triển của những mối quan hệ

đó còn phụ thuộc rất nhiều vào tiềm năng nội tại của Champa

1.3 Những điều kiện kinh tế và xã hội

Địa thế của Champa khá đặc biệt, một dải đất hẹp chạy dài giữa đại dương và núi Dân cư chủ yếu sông rải rác ven biển và trong nội địa thì cư trú bên những dòng sông Vùng sông Thu Bồn chẳng hạn, là một địa điểm quân cư của nhiều thời kỳ nối tiếp nhau cho đến thế kỷ XII, XII với những trung tâm Trà Kiệu, Đồng Dương Sông Trà gắn với di tích quần

cư Chánh Lộ và thành Châu Sa, Sông Côn gắn với Chà Bàn G Maspero dựa vào tên gọi trong bi kí đoán Champa chia làm 4 khu - Amaravati (ứng với Quảng Nam), Vijaya (Qui Nhơn), Kauthara (Khánh Hòa), Paduranga (Phan Rang) [43, 22 - 23] Hoàn toàn không có gì chắc chắn đây là các khu vực hành chính, cũng như không chắc chỉ có 4 khu Trong khi đó

Tống sử nói Champa chia làm 38 châu Bi kí còn kể tên các đơn vị hành chính khác, như Pramana mà G Maspero đoán là tỉnh và Vijaya đoán là huyện

Điều đáng nói ở đây là địa hình Champa bị chia cắt bởi các đèo chạy cắt ngang đổ từ núi ra biển tạo nên các vùng đồng bằng nhỏ và liên lạc với nhau bằng đường bộ rất khó khăn

Trang 31

biển Nhưng điều đó không phải là điều kiện đủ để mỗi vùng tạo thành một tiểu vương quốc

tự trị Nhiều di tích văn hóa Chăm còn lại đến ngày nay cho thấy các vùng ở Champa tương đối độc lập về không gian nhưng vẫn tiếp nối nhau về mặt thời gian Xét vị trí, vai trò của các kinh đô, ta sẽ thấy rõ hơn điều này

Simhapura là kinh đô duy nhất của Champa cho đến cuối thế kỷ VII, đầu thế kỷ VIII

Từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX Virapura là nơi tập trung về quyền lực chính trị và kinh tế trên toàn vương quốc Không phải ngẫu nhiên mà vào thế kỷ VIII, Java để chứng tỏ sức mạnh thủy quân của mình đối với toàn khu vực đã liên tiếp tấn công các nước Đông Nam

Á lục địa Hai lần đánh Champa là đánh kinh đô miền Nam Virapura và phá hủy Kauthara Người Java không tấn công vào Trà Kiệu hay thánh địa Mĩ Sơn giàu có trong khi họ đã đánh cướp đến tận vùng đồng bằng Bắc bộ Trường hợp cá biệt vào nửa sau thế kỷ XII Champa mới có hai kinh đô song song tồn tại nhưng là dưới sự tác động của những yếu tố bên ngoài

Simhapura, Virapura rồi lại Đông Dương, Vijaya, trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau kinh đô lại dịch chuyển Mỗi kinh đô đại diện cho quyền lực, sự thông nhất, tập trung của vương quốc vào mỗi thời kỳ lịch sử Nhưng mặt khác, sự dịch chuyển kinh đô cũng có nghĩa là sự dịch chuyển quyền lực, thay thế quyền lực giữa hai bộ phận quý tộc Bắc - Nam

Và như sẽ được chứng minh phân nào trong luận án, xu hướng thông nhất và phân liệt luôn

có mặt trong lịch sử Champa, thể hiện cả trong các mối quan hệ với bên ngoài

Dấu vết của những kinh thành cũ như Trà Kiệu, Đồng Dương, Chà Bàn đều gắn với những dòng sông và có mối liên hệ mật thiết với biển khơi Nhiều tháp Chăm được xây dựng âần biển, thậm chí sát biển như Bình Lâm gần với cảng Thi Nại (Bình Định), Nhạn Tháp (Phú Yên), Po Nagar

Trang 32

(Nha Trang), Po Shanư (Phan Rí) Tháp ở gần biển không chỉ phục vụ cho nhu cầu tinh thần của dân địa phương mà còn cho cả thuyền nhân nhiều nước Do vậy, chỗ nào có dân cư ở thì chỗ đó có thể có cảng với nghĩa là nơi cư trú cho tầu bè và trao đỗi lương thực, thực phẩm, sản vật Khảo cổ học Việt Nam những năm qua đã phát hiện ra hàng loạt các giếng Chàm dọc bờ biển từ Cửa Ròn, cửa ranh (Quảng Bình) qua Hội An, cửa Đại, Tam Kỳ (Quảng Nam) tới Cam Ranh một nguồn nước ngọt không thể thiếu được cho những con thuyền đi biển dài ngày [82]

Champa còn nổi tiếng là nơi có nhiều sản vật quý hiếm Vàng, các loại gỗ thơm, ngà voi, sừng tê luôn được nhắc tối trong các nguồn tư liệu nước ngoài Người ta còn gọi Champa

là xứ sở của trầm hương, trong đó tập trung nhiều nhất ở vùng Kauthara (Nha Trang, Khánh Hòa ) Trầm hương là một mặt hàng quý dùng để công phẩm và trao đổi buôn bán

Có một điều dễ nhận thấy là hâu hết các mặt hàng của Champa được nhắc đến trong thư tịch cổ Trung Hoa đều là lâm sản Liệu có sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp dùng để trao đổi buôn bán không?

Nhà nghiên cứu Sakurai trong một bài nghiên cứu gần đây cho rằng Champa là một trong những thể chế có khuynh hướng buôn bán nhỏ, hướng nền kinh tế ra bên ngoài, một đặc điểm của những quốc gia Đông Nam Á có lãnh thổ hẹp, dân cư ít, giàu lâm sản nhưng không có nền nông nghiệp phát triển [89] Và nếu theo quan điểm này thì Champa "chỉ là một thể chế biển?" Cách đặt vấn đề của K.Hall còn rõ ràng hơn khi chỉ ra rằng hệ thống chính trị, kinh tế Champa " giống các quốc gia sông nước Malay hơn là những quốc gia láng giềng làm nông nghiệp trông lúa nước ớ lục địa về phía Tây và phía Bắc của nó " [111, 253] [125]

Và vì thế theo ông, kinh tế Champa chủ yếu là dựa trên hoạt động cướp đoạt bằng đường biển

Trang 33

Nhiều nhà nghiên cứu cổ điển đã nói đến sự tồn tại và phát triển của kinh tế nông nghiệp ở Champa Dựa trên nguồn tư liệu trong thư tịch cổ Trung Hoa, về sản phẩm nông nghiệp của Champa, G.Maspero đã viết" Có ít đồng bằng đất trồng trọt thì hiếm, ít lúa nhưng nhiều rau đậu trồng nhiều cây ăn quá trông dâu để nuôi tằm và trông bông Đến mùa bông

nở, bông trăng như lông ngỗng Người ta lây bông ra rồi kéo sợi để dệt vải thô nhuộm đi dệt thành vải ngụ sắc và vải lốm đốm " [43, 6] Trong những sản phẩm kể trên thì vải bông

đã đạt được một trình độ phát triển cao, một thứ hàng quý dùng để công phẩm và trao đổi Điều này đã được Lương Ninh đề cập đến trong phần viết về kinh tế Champa mười thế kỷ sơ

kỳ [48]

Có thể nông nghiệp vân giữ một vị trí đáng kê trong nền kinh tế Chăm Bi kí Chăm nói nhiều đến việc dâng cúng ruộng đất cho những ngôi đền Bia Nham Biền cho biết về loại ruộng trũng (humaannatan), ruộng bậc thang hay ruộng cao (humadamid), ruộng chua mặn (humanasin) Bia Mĩ Sơn XX, mặt C còn kể tên các loại ruộng đất khác nhau như Sinjol, Satam, Malik, Madlau (chưa rõ là ruộng gì) Hẳn với mỗi loại ruộng đều có những giống lúa thích hợp Ở phía Bắc Việt Nam bây giờ trong dân gian vẫn còn nhắc đến 35 giống lúa

cấy về mùa nắng được gọi là lúa Chiêm, trong đó có hai thứ rất quen thuộc với nông dân là chiêm hẩm và chiêm dự

Bia Lomngơ còn cho biết việc làm đập nước (Vanoek), đào kênh (kvac -rabơn) Đồng bằng Panduranga là nơi có khí hậu khô hạn, các sông lại ngắn, ít chi lưu, phụ lưu, độ dốc cao nên luôn xảy ra sự thiếu hụt về nguồn nước trong sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp Có lẽ vì vậy mà nơi đây đã sớm biết đến kỹ thuật thủy lợi độc đáo với các đập "Chà bổi" ngăn các suối, sông ngăn trữ nước và đưa nước về đồng Kết quả điền dã cho thấy hiện nay vẫn còn nhiều dấu tích của "Đập bổi", kênh dẫn nước trên những cánh đồng Phan Rí Ở đây cũng rất phổ biến một loại giếng Chăm hình vuông làm nguồn nước

Trang 34

công cộng cho dân cư như giếng ở vùng Ninh Phước, Phan Rang ngày nay Dấu tích của nó

có ở khắp nơi mà người Chăm sinh sống, cả vùng ven biển với chức năng "xuất khẩu nước ngọt" như đã trình bày ở trên

Ở khu vực làng Phú phong, huyện Tây Sơn, Tỉnh Bình Định vẫn còn dấu vết của một

hệ thống thủy lợi mà qua khảo sát cho thấy nó có nguồn gốc từ người Chăm [66] Đó cũng là một hệ thống đập bổi có kè đá Theo tài liệu địa phương thì địa điểm chọn xây đập phải đảm bảo độ dốc của dòng chảy tại nơi nó bị chặn lại để đủ một lượng nước đưa vào hệ thống mương dẫn tới từng cánh đồng Mặt khác lòng sông suối nơi xây đập phải có loại đá tảng để làm cửa mương tránh bị xói mòn Ở đập Đồng Cam trên sông Ba, thuộc địa phận Tuy Hòa, Phú Yên, người Việt đã xây đập trên cơ sở đập bổi của người Chàm Ở đó cũng có những điều kiện tự nhiên như ở đập Phú Phong

Cùng một kiểu xây giếng, cùng một truyền thống làm thủy lợi,trên những cánh đông của vùng châu thổ chật hẹp, cộng đồng dân cư Chăm làm nông nghiệp Vấn đề không phải là

ở chỗ họ dùng sản phẩm nông nghiệp làm mặt hàng trao đôi bởi vì Champa luôn thiếu gạo, " Gạo không [xuất] ra ngoài" (Thủy kinh chú) Nhưng trong dòng giao lưu văn hóa khu vực, họ

đã mang dấu ấn, phong cách của một cộng đồng dân cư không chỉ giỏi nghề đi biển mà còn biết làm nông nghiệp

Tôn giáo cũng đóng một vai trò quan trọng chi phối kinh tế - xã hội Chăm Vua được thần thánh hóa cùng với thần linh hay nói một cách khác, tôn giáo là một yếu tô quan trọng tạo nên quyền lực cho các vua Chăm "các vua luôn đồng nhất mình với thần thánh nhằm mục đích tôn địa vị và uy quyền của mình Chẳng hạn Bhadravarman tôn thờ thần chủ Shiva, đã lập đền và gọi tên đền một cách kết hợp là Bhadra + Shiva (hay I'svara) = Bhadresvara Hơn

Trang 35

nhằm đề cao hơn nữa uy tín thần thánh của vua, như Sri (chữ Phạn) hay Yang po hu (Chăm

cổ) có nghĩa là đấng thiêng liêng, bậc thánh thần " [48] Một khi vương quyền sụp đổ cũng

sẽ dẫn theo sự rạn nứt niềm tin tôn giáo Và điều đó sẽ lý giải phần nào sự thay thế của đạo Hồi ở Champa sau mười mấy thế kỷ thống trị của tôn giáo truyền thống Ấn

Văn hóa Chăm đầy sức sống và bản sắc Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, múa nhạc phát triển có vẻ như vượt lên trên những điều kiện về tiềm năng cho phép Hẳn tôn giáo là một nhân tố quan trọng tạo nên điều đặc biệt đó Đầu thế kỷ XVII, khi lịch sử vương quốc đã vào buổi chiều tà, Hindu giáo không còn mang lại niềm tin và sức mạnh cho cả vương quốc, người ta vẫn cố xây tháp PoRome theo truyền thống Tháp Hindu như một sự nuối tiếc

Mặt khác, chính tôn giáo cũng là một thành tố văn hóa được du nhập vào Champa Trong quan hệ giữa Champa với Ấn Độ, Campuchia, Đông Nam Á Hải đảo ở từng giai đoạn nhất định, sự đồng điệu về tôn giáo là một chất xúc tác quan trọng Cảm giác không quá

xa lạ trong đời sống tâm linh là một con đường để những cộng đồng dân cư đến với nhau dễ dàng hơn

2 Những vương triều đầu tiên - quan hệ liên vùng và liên quốc gia

2.1 Vương triều Simhapura và những mối quan hệ ban đầu

Vương triều đầu tiên trong lịch sử Champa - vương triều Simhapura (gọi theo tên kinh đô), được chính thức đánh dấu bởi bia Mĩ Sơn 3 của Vua Sambhuvarman (khoảng 594 - 692) Bia Mĩ Sơn 3 cho biết khá chính xác gia hệ 10 đời vua của vương triều, trong đó có kể đến 4 đời vua trước Sambhuvarman (xin xem phụ lục 2) Các triều vua nối tiếp nhau trị vì trong 4,

5 thế kỷ Tên kinh đô được biết qua bi kí là Simhapura (Mĩ Sơn XII, XV)

Trang 36

Khảo cổ học xác định địa điểm kinh đô ở vùng Trà Kiệu, nay thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng

Khảo cổ học trong gần một thế kỷ qua đã phát hiện ra nhiều dấu vết của một kinh thành cổ dọc theo bờ phía Nam của dòng Ba Rền và xung quanh đồi Bửu Châu (năm chắn giữa nhánh Ba Rên và dòng Thu Bồn) Vào những năm 1918 - 1930, H.Parmentier, G.Coedes

và Claeys J.Y đã giám định và khai quật một số di tích ở chân đôi phía Đông và đã phát hiện

ra nhiều tượng đá, chân bệ thờ, Linga và Yoni bằng đá, các trang trí kiến trúc đả, gồm và một số di vật nhỏ khác Trong bộ sưu tập gốm của Cha sứ Antôn ở Trà Kiệu có tới 70 hiện vật là vật liệu kiến trúc, chủ yếu là ngói đủ loại rất phong phú - dấu vết của mái nhà, cung điện đã suy đô của một kinh đô cũ gần đây, năm 1993 khảo cổ học còn tìm thấy một số lượng

lớn đồ gốm, gạch ngói, đá trang trí kiến trúc và những tảng đá cuội lớn được sắp xếp một hàng dài từ Tây sang Đông năm ở độ sâu 2,5 m so với lớp măt I.Glover và Mariko Yamagata

dè dặt đưa ra phỏng đoán, có khả năng đó là dấu vết di chỉ cư trú của dân cư, họ sử dụng làm bậc ngăn độ dốc để trồng trọt hay xây dựng [25,33 - 46]

Simhapura đóng ở Trà Kiệu, hẳn quyền lực chính trị thuộc về bộ phận quý tộc Bắc Chăm Nhưng Simhapura liệu nó có phải là kinh đô thống nhất trên toàn quốc không? Trong các mối quan hệ với bên ngoài, giới hạn lãnh thổ và quyền lực của vương triều Simhapura đến đâu?

Vùng đất phía Bắc của Champa từ đèo Hải Vân đến đèo Hoành Sơn mà Phạm Văn đem quân chiếm được từ thế kỷ III, cho đến cuối nhà Tùy (đầu thế kỷ VII) vẫn là vùng đất thường xuyên xảy ra chiến sự giữa Champa với Trung Quốc Năm 446, thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi, đã đem quân đánh Lâm Ấp cướp đoạt nhiều của cải và đốt phá cả kinh đô

Trang 37

tấn công Champa lần nữa Nhưng sau đó, trong nửa đầu thế kỷ VII thì trên vùng đất tranh chấp này (ở địa điểm gần Huế) đã thấy có bia của Kandarpadhama, vua thứ 6 của triều Simhapura

Miền Nam Chăm vốn là một tiểu quốc biệt lập nhưng nằm trong một xu hướng thống nhất của những bộ phận cư dân đồng tộc ở gần nhau, có chung một nhu câu bảo vệ đất nước

và phát triển kinh tế Ngay từ thế kỷ IV, Bhadravarman I đã cố găng vươn đến thống nhất vùng này bằng việc tạo dựng bia ở Phú Yên Đến cuối thế kỷ VII, vào triều vua Vikrantavarman I, Ông vua có rất nhiều mối quan hệ thân thiết với Campuchia, vương quốc nằm sát nách phía tây của Champa, đã cho dựng bia của mình ở Lệ Can, Nha Trang Một hòn

đá có chữ mới phát hiện thấy ở Ninh Phú huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa với hàng chữ

"kính lễ đức Shiva, vua Prakasadharma (tức Vikratavarman), quà tặng của chiến thắng" [4]

Ta biết Vikrantavarman còn có bia ở cả Trà Kiệu, Mĩ Sơn

Mặc dù sự thống nhất còn lỏng lẻo do điều kiện giao lưu đi lại giữa các vùng trong vương quốc còn rất khó khăn và trong một tình trạng phân tán quyền lực khó tránh khỏi giữa Bắc và Nam Chăm, nhưng vương triều Simhapura thực sự là một vương triều thống nhất Điều này được thể hiện cả trong quan hệ với bên ngoài

2.1.1 Những mối quan hệ đến từ biển

Trung Hoa là một nước có quan hệ với Champa ngay trong thời kỳ đầu của vương triều Simhapura Điều đó cũng dễ hiểu, bởi vì ngoài việc người Chăm giành được độc lập từ trong tay người Hán, Trung Hoa còn rất gần với Champa về mặt đường biển, chỉ cách vịnh Bắc bộ của Việt Nam ngày nay, nhưng trước thế kỷ X, vùng bờ biển này cũng bị Trung Hoa chiếm đóng Mối quan hệ giữa Champa và Trung Hoa trong giai đoạn này khá đa dạng, cả

Trang 38

về kinh tế, ngoại giao và chiến tranh

Kinh đô Simhapura ít nhất có hai lần bị tàn phá nặng nề vào các năm 446 và 605 Nhưng mặc dù vậy vẫn có những sứ bộ Champa được cử sang Trung Hoa "triều cống" Tất cả những sự kiện đều được thư tịch cổ Trung Hoa ghi chép lại Đặc biệt, Trung Quốc là một nước có mối quan hệ trao đổi hàng hóa thông qua biển với Champa ngay từ khi người Chăm bắt đầu lịch sử của họ

Tuy nhiên có lẽ sự trao đổi này còn rất thưa thớt và không mang tính thương mại Những thuyền buôn của Trung Hoa rẽ qua bờ biển Champa để tiếp thêm lương thực, nước ngọt cho những chuyến đi dài ngày, hoặc cao hơn là đổi lấy trầm hương mà thôi Dấu vết của mối quan hệ giữa Champa và Trung Hoa hết sức mờ nhạt và chỉ còn có thể tìm thấy trong gốm Gốm Hán với đặc trưng văn in ô vuông, thường có màu đỏ gạch non và màu xám trắng, xương gốm khá mịn đã được tìm thấy ở một số nơi như đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) [51], Trà Kiệu với một vài mảnh gốm văn in có độ nung cao và một loại ngói có một đầu được tạo hình bằng khuôn trang trí kiểu mặt người Ian Glover (1995) nhận thấy những hiện vật này "tương

tự như ngói tìm thấy ở lò gốm Tam Thọ gần thị xã Thanh Hóa và đều thuộc vào loại hình ngói Hán (Trung Quốc)" Và cũng theo ông thì "giai đoạn sớm của Bửu Châu (Trà Kiệu) thuộc vài thế kỷ đầu công lịch và có những ảnh hưỏng mạnh mẽ của nhà Hán" [25, 33 - 36]

Có lẽ việc trao đổi sản phẩm qua lại vẫn được tiếp tục trong giai đoạn vương triều Simhapura Tài liệu vẫn chưa đủ để chứng minh nhưng sự hiện diện của gốm Trung Quốc thế

kỷ VII- VIII ở Đồng Dương, một khu vực cư trú của dân cư cách kinh đô Trà Kiệu 40 km, lại

là một bằng chứng cho thấy sự tiếp nối này [74], [88, 674]

Trang 39

Dù sao sự trao đổi kinh tế cũng như văn hóa giữa Champa và Trung Hoa vào giai đoạn vương triều Simhapura chính thống cũng rất mờ nhạt Đáng kể là những xung đột về chính trị lãnh thổ Trung Hoa muốn thiết lập ảnh hưởng của mình ở Champa theo kiểu đô hộ trực tiếp nhưng đã không thành Và ở nơi nào trong khu vực Đông Nam Á mà người Hán không xâm chiếm và đặt ách đô hộ được thì ở nơi đó văn hóa Trung Hoa khó được chấp nhận

và lựa chọn Champa là một trường hợp Họ đã tiếp nhận văn hóa Ấn trên cơ sở hội nhập với văn hóa Nam Chăm Và ngay trong giai đoạn đầu lập quốc, văn hóa Ấn Độ đã lan tỏa và ảnh hưởng một cách sâu sắc

G Coedes (1944) cho rằng những thuyền buôn của Ấn Độ xuất phát từ bờ biển Coromandel Nếu vậy, muốn vào được vùng vịnh Thái Lan và bờ biển Nam Việt Nam, những con thuyền đó phải đi qua hai tuyến đường chính: hoặc đi qua eo biển Malacca hay Sunda, Lombok; hoặc băng qua bán đảo Malaya từ Melaka, Kedah hay từ Tennasserim Và như vậy hẳn rằng vùng bán đảo Malaya và các đảo Indonesia là những nơi có sự hiện diện sớm nhất của văn hóa Ấn Độ, nhưng ở đây trước thế kỷ IV lại thấy rất mờ nhạt Trong khi đó lại thấy rất sớm và rất phổ biến ở Phù Nam, Champa, những quốc gia cỗ đại đầu tiên ở phía Nam Việt Nam, và cũng là những quốc gia cổ đại sớm nhất ở Đông Nam Á

Vương triều Simhapura mang nhiều yếu tố Hindu trong quá trình phát triển của mình Ngay tên nước - Champa và tên những miền, vùng, thành phố của Champa đều phóng theo tên địa danh Ấn (xem bản đồ vương quốc cổ Champa) Chữ Phạn vẫn là ngôn ngữ chính của triều đình Simhapura, rồi trên cơ sở chữ Phạn mà chữ Chàm cổ ra đời và được sử dụng song song với chữ Phạn Văn bia cũng đồng thời ghi nhận sự ảnh hưởng của văn chương Phạn Bia Trà Kiệu của Prakasahharma (Vikrantavarman I trị vì từ 653 - 679), vị vua thứ 8 của vương triêu Simhapura cho biét về việc dựng đền thờ nhà thơ Ấn Độ Valmiki, tác giả bộ sử thi nổi tiếng Ramayana Có lẽ từ đó mà

Trang 40

Lương Ninh (1991) giải thích về nguồn gốc tên nước "Hồ Tôn Tinh" để chỉ Champa trong sử sách Đại Việt Những khái niệm về vương quyền, hệ thống vũ trụ mà người Chăm sử dụng, Lafont (1987) đặt trong dòng ảnh hưởng của Phù Nam [108], thì bản thân nó đã mang sẵn tinh thần Hindu

Theo bi kí thánh địa Hindu giáo Mĩ Sơn có từ thế kỷ IV Có thể bắt đầu từ Bhadravarman I với bia Mĩ Sơn I Bia Sambhuvarman (Mĩ Sơn III) là vào đầu thế kỷ VII Nhưng có lẽ, thời kỳ này, đền xây bằng vật liệu nhẹ, F Stem nêu nhận xét "thời kỳ nảy sinh nghệ thuật Ấn Độ hóa ở Đông Dương diễn ra hơi muộn: thế kỷ VII- VIII Trước thời kỳ này, kiến trúc bằng gỗ mà nay không còn dấu tích gì, chỉ còn mấy pho tượng đồng thuộc phong cách Amaravati và Srilanca; nếu loại bỏ một vài mảnh kiến trúc bị hư hại nặng thì nghệ thuật Champa còn lại không thể lùi xa hơn Mĩ Sơn E1, tức theo chúng tôi là thế kỷ VIII" [68,7 - 8] Cùng với "mấy pho tượng đồng" đó, J Bosselier (1963) thống kê thêm một số pho tượng bằng đá rải rác từ Nam đến Bắc Chăm và xếp vào hai nhóm tượng có trước Mĩ Sơn E1 là

"nhóm tượng Ấn Độ giáo" và "nhóm tượng Phật Giáo"[3,47 - 58]

Nhóm "tượng Phật giáo" gợi ra nhiều vấn đề khá thú vị Trước hết phải kể đến pho tượng Phật đứng (Buddhapad) tìm thấy ở Đồng Dương, cao 1,08 m, áo cà sa hở vai phải, xếp nếp "nếu không phải là tác phẩm nhập khẩu thì ít nhất cũng là những tác phẩm quan hệ sâu sắc biết bao với truyền thống Ấn Độ, đến nỗi không thể nào phát hiện được vết tích của một truyền thống bản địa" [3,24] Nhóm tượng Phật ở Quảng Khê có cả Buddhapad trong trang phục xếp nếp, Pierre Dupont nhận xét "đặc biệt giống một pho tượng đồng thau nhỏ ở Pong Tuk" Sau đó J Boisselier quan sát và rút ra kết luận về quan hệ mật thiết giữa những pho tượng Phật sớm ở Champa với nghệ thuật Môn - Dvaravati, đặc biệt là về kiểu y phục xếp

Ngày đăng: 17/01/2020, 01:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Văn An, Ô châu cận lục, NXB Văn Hóa Á châu, Sài Gòn 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô châu cận lục
Nhà XB: NXB Văn Hóa Á châu
2. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Hà nội 1964 (xuất bản lại năm 1994. NXB Thuận Hóa) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Nhà XB: NXB Thuận Hóa)
3. Jean. Bosselier, Nghệ thuật tạc tượng Champa - nghiên cứu và sưu tầm về các Đạo giáo và tiếu tượng học, 1963, bản dịch của viện BTLS Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tạc tượng Champa - nghiên cứu và sưu tầm về các Đạo giáo và tiếu tượng học
4. Nguyễn Công Bằng, Trở lại hòn đá chữ ở Ninh Hòa, NPHMVKCH 1997, tr 683 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại hòn đá chữ ở Ninh Hòa
5. Phan Xuân Biên - Phan Văn Dốp - Phan An, Văn hóa Chăm, Viện khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Chăm
6. Peter Burn và Roxana M. Brown, Quan hệ ngoại giao Chàm- Philippin thế kỷ XI, trong Đô thị cổ Hội An (kỷ yếu hội thảo ), NXB Khoa học xã hội, Hà nội 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ ngoại giao Chàm- Philippin thế kỷ XI
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
7. Thiên Sanh Cảnh, Biên niên sử các đời vua Chăm từ 1000 đến 1010), Nội san Phan Rang, số 8, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên sử các đời vua Chăm từ 1000 đến 1010
8.G. Coedes 1964, Lịch sử cổ đại ở các nước viễn đông chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ. Bản dịch của Viện Đông Nam Á, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cổ đại ở các nước viễn đông chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ
9. Ngô Văn Doanh, Văn hóa Champa, NXB Văn Hóa, Hà nội 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Champa
Nhà XB: NXB Văn Hóa
12. Dohamide và Doroheim, Dân tộc Chàm lược sử, Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam xuất bản, Sài Gòn 1965 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Chàm lược sử
13. Dohamide, người Chàm ở Việt Nam ngày nay, Tạp chí "Bách khoa" số 135 - 147. Sài Gòn 1962 - 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa
14. Pierre Dupon. Nước Chân Lạp và tỉnh Panduranga, BSEI, XXIV, I, Quý I 1949 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước Chân Lạp và tỉnh Panduranga
16. Tân Việt Điểu, Ảnh hưởng và di tích Chiêm Thành trong nền văn hóa Việt Nam, Văn hóa nguyệt san, số 29 - 1958, trang 139 - 146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nh hưởng và di tích Chiêm Thành trong nền văn hóa Việt Nam
17. Nguyễn Văn Đoàn, Bước đầu tìm hiểu lịch sử nghệ thuật Champa, Luận văn cao học. Đại học Sƣ phạm I, Hà Nội 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu lịch sử nghệ thuật Champa
18. Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, NXB thành phố Hồ Chí Minh 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam ca trù biên khảo
Nhà XB: NXB thành phố Hồ Chí Minh 1994
22. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, T1, Ql, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
23. Nguyễn Tấn Đắc - Vũ Tuyết Loan, Văn học dân gian Campuchia, NXB Văn học, Hà Nội 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Campuchia
Nhà XB: NXB Văn học
24. Wang Gungwa, Nghiên cứu vê lịch sử cổ của con đường thương mại Trung Hoa ở biển Nam Trung quốc, 1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vê lịch sử cổ của con đường thương mại Trung Hoa ở biển Nam Trung quốc
26. D. Hall, Lịch sử Đông Nam Á, bản dịch, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
15. Điêu khắc. Chàm. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1988 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w