ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG Câu 1 Trình bày phương pháp quan sát trong nghiên cứu xã hội học Ưu điểm và hạn chế của phương pháp quan sát Lấy ví dụ cụ thể để làm rõ việc vận dụng phương pháp q[.]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP: XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
Câu 1: Trình bày phương pháp quan sát trong nghiên cứu xã hội học Ưu điểm và hạn chế của phương pháp quan sát Lấy ví dụ cụ thể để làm rõ việc vận dụng phương pháp quan sát trong nghiên cứu khoa học.
Khái niệm chung về nghiên cứu xã hội học:
Nghiên cứu xã hội: phương tiện và công cụ để thu nhập các thông tin thựcnghiệm về sự vật, hiện tượng mà có thể quan sát được
Nghiên cứu xã hội học: quá trình thu nhập, xử lý, tổng hợp, khái quát các thông tin và tài liệu trong thực tại với việc phải đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy trên cơ sở phù hợp mục tiêu nghiên cứu.
Dựa trên các thông tin thực này, người nghiên cứu có thể khái quát và nângmức độ nhận thức cao hơn
- Phân loại:
Quan sát chuẩn mực và quan sát không có chuẩn mực:
+ Quan sát chuẩn mực: người quan sát đã sớm xác định được những yếu tốnào của khách thể nghiên cứu có ý nghĩa nhất cho cuộc nghiên cứu để tập trung
sự chú ý của mình vào đó
+ Quan sát không chuẩn mực: người quan sát chưa xác định được các yếu tốcủa khách thể quan sát liên quan đến việc nghiên cứu cần được quan sát
Quan sát có tham dự và quan sát không tham sự:
+ Quan sát có tham dự: người quan sát có tham gia vào hoạt động của ngườiđược quan sát và mức độ nào đó có sự tiếp xúc với người được quan sát
+ Quan sát không tham dự: không có sự tham gia của người quan sát vào cáchoạt động của người được quan sát
Ưu điểm và hạn chế:
Ưu điểm:
- Biết được sự biến đổi khác nhau của đối tượng nghiên cứu
- Là phương pháp có hiệu quả khi cần phát hiện bản chất nội tại của hiệntượng khi cần nghiên cứu về cơ cấu, các mối quan hệ hàng ngày của một nhómngười
- Thường đạt được ngay ấn tượng trực tiếp về sự thể hiện hành vi của conngười vì thế người điều tra viên tiến hành thuận lợi khi ghi chép hay hình thànhcác câu trả lời của một bàn hỏi có trước
Hạn chế:
Trang 2- Quan sát chỉ có thể sử dụng cho nghiên cứu những sự kiện hiện tại màkhông cho những sự kiện quá khứ hoặc tương lai.
Bảng hỏi: công cụ thu thập thông tin định lượng trong các nghiên cứu xã hội
học Bảng hỏi là tổ hợp các câu hỏi chứa đựng nội dung về hành vi, thái độ/niềm tin/quan điểm, đặc điểm xã hội của cá nhân, các kỳ vọng, sự tự đánh giá và tri thức cá nhân.
Phương pháp nghiên cứu bảng hỏi là một phương pháp phỏng vấn viết,
không thực hiện câu hỏi bằng lời, được thực hiện cùng một lúc với nhiều ngườitheo một bảng hỏi in sẵn Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cáchđánh dấu vào các ô tương ứng theo một quy ước nào đó
Các loại câu hỏi cơ bản:
Câu hỏi đóng: câu đã có sẵn phương án trả lời khác nhau, người phỏng vấn
chỉ cần đánh dấu vào phương án nào phù hợp với suy nghĩ của mình Câu hỏiđóng gồm:
+ Câu hỏi đóng lựa chọn: câu hỏi mà có các phương án trả lời loại trừ nhau.
Vì thế, người ta chỉ được lựa chọn một phương án
VD: Bạn sống ở khu vực nào dưới đây?
Đồng bằng sông Hồng/Trung du và miền núi Bắc Bộ/Tây Nguyên/Đồng bằngsông Cửu long/…
+ Câu hỏi đóng “Có - Không”: câu hỏi có hai phương án trả lời Có và
Không
VD: Bạn từng mắc Covid 19 không?
có/Không
+ Câu hỏi đóng tùy chọn: Người trả lời có thể chọn một hay nhiều phương án
trả lời được đưa ra
VD: Theo bạn, nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng biến đổi khí hậu ngày nay
Trang 3Do chính sách của Chính phủ/Do ý thức của con người/Do quy luật của tựnhiên/Do sinh vật, động vật hoang dã
Câu hỏi mở: câu hỏi chưa có phương án trả lời, người được hỏi tự đưa ra
cách trả lời của riêng mình
VD: Bạn có ý kiến gì về việc có rất nhiều phương thức để xét tuyển đại học
như hiện nay?
Câu hỏi hỗn hợp (vừa đóng vừa mở): câu hỏi có một số phương án trả lời có
sẵn và một phương án để trống để cho người trả lời tự do đưa ra phương án củamình
VD: Anh chị biết đến Trung tâm này thông qua phương thức nào?
Facebook/Instagram/Tiktok/Được bạn bè giới thiệu/Tờ rơi, quảng cáo
Khác… (Ghi rõ phương thức)
Câu hỏi lọc: câu hỏi theo chức năng, nhằm phân chia ra các nhóm đối tượng
riêng biệt, từ đó người nghiên cứu sẽ có các câu hỏi cụ thể dành cho từng nhómđối tượng này
VD: Bạn hiện có phải sinh viên năm cuối hay không? Có/Không
Bạn đang đi học hay đã đi làm? Đi học/đi làm
Câu hỏi kiểm tra: câu hỏi chức năng nhằm kiểm tra tính xác thực và sự
khách quan của thông tin mà người trả lời cung cấp trước đó Câu hỏi kiểm tracần sắp xếp cách xa câu hỏi mà người nghiên cứu đặt ra cho người trả lời trướcđó
Câu 3: Trình bày định nghĩa hành động xã hội và phân tích quan điểm của Weber về cách phân loại hành động xã hội
Max Weber:
Max Weber tên đầy đủ là Maximilian Carl Emil Weber (1864 - 1920), nhà xãhội học người Đức, được coi là người sáng lập ngành xã hội học tại Đức Weberkhông chỉ là một nhà xã hội học, ông còn được biết đến như là một nhà triếthọc, nhà luật học, nhà kinh tế học, nhà sử học và nhà tôn giáo học Một trongbốn người sáng lập ngành xã hội học và quản trị công đại dương
hệ xã hội phức tạp luôn đan xen vào nhau, chế ước lẫn nhau, là cơ sở tạo ra cơcấu xã hội
Định nghĩa hành động xã hội:
Trong Triết học: Hành động xã hội là một hình thức hoặc cách thức giải quyếtcác mâu thuẫn, các vấn đề xã hội, nó được tạo ra bởi các phong trào xã hội, các
tổ chức, các đảng phái chính trị…
Trang 4Trong ngành xã hội học, hành động xã hội là sự trao đổi trực tiếp giữa các cánhân với nhau cũng như các khuôn mẫu quan hệ đã được cấu trúc hóa bên trêncác nhóm, tổ chức, thiết chế và xã hội Một thực tế có thể quan sát được trongmọi tình huống cá nhân và công cộng hàng ngày là hành động xã hội của conngười diễn ra theo những quy tắc nhất định và trong những hình thái nhất định,những quy tắc và hình thái này có một sự bất biến tương đối Hành động xã hội
là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người với xã hội, đồng thời là cơ sở của đờisống xã hội của con người Hành động xã hội mang một ý nghĩa bao trùm tổngthể các mối quan hệ xã hội
Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức Max Weber về hành động xã hộiđược cho là hoàn chỉnh nhất; ông cho rằng, “hành động xã hội là hành vi mà chủthể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định, một hành động xã hội là một hành độngcủa một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tínhđến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hànhđộng đó.” Weber đã nhấn mạnh đến động cơ bên trong chủ thể như nguyên nhâncủa hành động - Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể
là một hành động xã hội Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và nhữngphản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động xã hội.Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì khôngphải là hành động xã hội
Không phải mọi hành động của con người đều là hành động xã hội Chỉ cónhững hành động mà khi thực hiện nó, con người có sự định hướng vào ngườikhác, không được đối chiếu với hệ thống chuẩn mực xã hội (đúng - sai, xấu -đẹp) và con người thực hiện nó một cách máy móc, cơ học, bản năng (ăn, uống,ngủ, ngáp…)
Hành động xã hội là một bộ phận cấu thành trong hoạt động sống của cánhân Các cá nhân hành động chính là để thực hiện hoạt động sống của mìnhnhư sinh viên đi học, nghe giảng, ghi chép, đọc tài liệu…là những hành động xãhội hướng về mục đích hoạt động của họ
Tóm lại, hành động xã hội là một bộ phận cấu thành của hoạt động sống cánhân Những hành động nào của con người bao gồm ý thức chủ quan về việc đạttới mục đích đặt ra có sự định hướng tới người xung quanh, nhằm cân nhắc,điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực xã hội gọi là hànhđộng xã hội
Phân tích quan điểm của Weber về cách phân loại hành động xã hội
Dựa vào động cơ của hành động xã hội , M.Weber đã phân loại hành động xãhội ra làm 4 loại :
Trang 5kiện hoàn cảnh để xác định sự hợp lý về mục đích hành động của mình Loạihành động này được xác định bởi mức rõ ràng , tính giá trị duy nhất của mụcđích, tương ứng với nó là những phương tiện đã được ý thức một cách hợp lý,nhằm đảm bảo việc chiếm lĩnh hành động có nghĩa việc đạt được kết quả củahành động xã hội, tính hợp lý của mục đích thỏa mãn 2 bình diện sau:
- Hợp lý về mặt nội dung của chính mục đích
- Hợp lý về mặt phương diện đã được chủ thể lựa chọn
Hành động hợp lý về mặt mục đích đòi hỏi ở chủ thể hành động ( cá thể hoặcnhững cá thể) cần có cân nhắc, tính toán hợp lý để có những phản ứng phù hợpđồng thời “ tận dụng” hành vi của những người xung quanh để đạt mục đíchmình đã đặt ra Theo M.Weber hành động hợp lý về mục đích có ưu điểm lớn vềmặt phương pháp luận, nó đóng vai trò mô hình mà theo đó các loại hành vingười được hình thành và xây dựng trên cơ sở của những hành động cụ thể
Hành động hợp lý về mặt giá trị
Được thực hiện bởi mục đích tự thân của hành động Thực chất loại hànhđộng này có thể nhằm vào những mục tiêu phi lý nhưng lại được thực hiện bằngnhững công cụ, phương tiện duy lý, (một số hành vi tín ngưỡng…)
Hành động giá trị nổi trội vai trò của yếu tố khách quan, buộc chủ thể phảicân nhắc và cẩn trọng để lựa chọn những gì mà nó cho là ý nghĩa, có giá trị.Hành động hợp lý về mặt giá trị là loại hành động tuân thủ theo quy tắc của cáinghĩa , của hành vi đúng mực hay còn gọi là hành vi chuẩn
Hành động hợp lý về giá trị được thực hiện bởi niềm tin chủ thể vào cái giá trị
đã được hình thành trong đời sống xã hội thông qua các hoạt động của các thiếtchế chủ yếu như gia đình , kinh tế , chính trị, văn hóa , tôn giáo, Hành độngloại này luôn luôn phụ thuộc vào những đòi hỏi nào đó đối với chủ thể ; Khihành động chủ thể nhận thức được nghĩa vụ của mình, lúc đó nó thực hiện nghĩa
vụ phù hợp với những đòi hỏi được đo bằng giá trị mà cá nhân đã lĩnh hội được,chỉ khi đó ta thấy hành động cá thể hợp với giá trị
Hành động hợp lý về giá trị sẽ kèm theo một đặc tính phụ là tính có hoạchđịnh , dựa vào đó ta có thể phán xét được xu hướng của hành vi người Nếu nhưhành động hợp lý về mặt mục đích tạo ra xu hướng hành vi, dựa vào sự tuyệtđối hóa về những giá trị mà chủ thể hướng vào
Hiểu rõ cơ cấu và chức năng của hai loại hành động trên rất hữu ích trongviệc nghiên cứu định hướng giá trị của nhóm, tập đoàn người và xã hội trongnền văn hóa nói chung
Hành động truyền thống
Là loại hành động được hình thành trên cơ sở việc bắt chước những mô hìnhhành vi nào đó được củng cố, khẳng định trong truyền thống văn hóa và đượcchấp nhận
Hành động truyền thống có một đặc tính hầu như là quá trình tự động, nó đãđược phân biệt bởi khuynh hướng của chủ thể trong bất kỳ tình huống nào đểđịnh hướng vào những hành vi quen thuộc, lặp đi lặp lại chứ không phải đểkhám phá ra những khả năng mới mẻ cho hành động
Trang 6Hành động truyền thống chỉ là phản ứng tự động đối với kích thích quenthuộc đang tồn tại trong một khuôn khổ tâm thế đã từng được thiết lập
Ý nghĩa của mọi loại hành động truyền thống là rất lớn, vì phần lớn nhữnghành vi thường ngày của con người đều thấy có vai trò của thói quen Trong khi
đó độ tin cậy đối với thói quen Trong khi đó độ tin cậy đối với thói quen tự nó
có thể được ý thức bởi những phương thức khác nhau Weber công nhận cái ýnghĩa thực chứng của hành động truyền thống
Hành động tình cảm
Là hành động do các trạng thái tình cảm bột phát gây ra, mà không có sự cânnhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đíchhành động (hành động do quá khích, do tức giận…)
Là loại hành động mà đặc tính xác định của nó là trạng thái cảm xúc nhất địnhcủa chủ thể : Nó bao gồm đam mê tình yêu hay sự ghen tỵ, cơn thịnh nộ hay sựvui vẻ hào hứng sự sợ hãi hay lòng quả cảm
Khác với hành hợp đích và hợp lý về mặt giá trị, hành động xúc động khôngcần đạt mục đích bên ngoài nào đó mà nó có một ý nghĩa ngay ở trong tính xácđịnh của chính hành vi, đặc điểm của hành vi, cũng như việc khơi dậy cái đam
mê của hành động (xúc động)
Cái chính là loại hành động này là làm thế nào để thoải mái cái đam mê nhanhnhất đó là những khát vọng, xu hướng phục thù, mong muốn tháo gỡ căngthẳng
Loại hành vi này nằm trên ranh giới của hành động nhận thức và định hướngmột cách có ý thức Cũng chính do đặc tính này mà hành động cảm xúc biểuhiện trường hợp đặc biệt của hành vi con người hiện thực Weber xác nhận mức
độ nhận thức một cách tối thiểu của hành động xúc cảm, vượt qua ngưỡng nàythì mới không còn là xã hội, không còn là hành động của con người nữa
Câu 4: Thế nào là tương tác xã hội? Lý thuyết tương tác biểu trưng, lý thuyết trao đổi xã hội, lý thuyết kịch, phương pháp luận dân tộc học.
Khái niệm:
Tương tác xã hội là một khái niệm được quy từ hai khái niệm quan hệ xã hội
và hoạt động xã hội, nó nói lên rằng mỗi hoạt động có mục đích của con ngườichỉ trở thành hoạt động xã hội khi nó nằm trong và thông qua một số mối quan
hệ giữa các chủ thể hoạt động, mặt khác khái niệm tương tác xã hội nói lên rằngmỗi quan hệ xã hội đều gắn với một hoạt động xã hội nhất định
Khi nói tới hệ thống tương tác xã hội thì không thể không nói tới con ngườicủa quan hệ xã hội và con người của hoạt động xã hội hay đó là chủ thể xã hội
Cả chủ thể, quan hệ xã hội và hoạt động xã hội có mối quan hệ với nhau nhưngmỗi yếu tố lại có tính chất đặc thù riêng Đó là một tập hợp tối thiểu để xem xéthiện tượng và quá trình xã hội
“Tương tác xã hội là một quá trình trong đó chúng ta tác động và chịu sựtác động của những người xung quanh chúng ta Việc nghiên cứu tương tác xãhội trong đời sống hàng ngày là một lĩnh vực cơ bản của xã hội học, làm sáng tỏ
Trang 7các thể chế và hệ thống xã hội lớn hơn, cũng như các khía cạnh khác của đờisống xã hội”.
Lý thuyết tương tác biểu trưng:
Khái niệm: “Tương tác biểu trưng là một phần của tương tác xã hội cho rằng
các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối vớicác hành động trực tiếp của người khác mà đọc và lý giải chúng”
Theo khái niệm thì chúng ta luôn tìm được những ý nghĩa gán cho mỗi hànhđộng cử chỉ đó tức là các biểu tượng Chỉ khi chúng ta đặt mình vào vị trí củađối tượng tương tác, ta mới có thể hiểu hết ý nghĩa của những phát ngôn, những
cử chỉ, hành động của họ Tất cả những vật thể, hình ảnh, hành động, cử chỉxung quanh chúng ta có thể được con người gán cho những ý nghĩa và trở thành
biểu tượng trong giao tiếp Ví dụ khi cha mẹ không đồng ý với hành động của
trẻ thì cha mẹ sẽ lắc đầu hoặc đồng ý thì sẽ gật đầu…
Lý thuyết tương tác biểu trưng cũng không bỏ qua hệ thống biểu tượng quantrọng bậc nhất trong quá trình tương tác giữa các cá nhân đó là ngôn ngữ nói vàviết Bởi quá trình tương tác rất phong phú và đa dạng các biểu tượng bằng gáncho không thể diễn đạt được hết những suy nghĩ, hành động của các đối tượngtrong quá trình giao tiếp nên rất các biểu tượng quy ước như ngôn ngữ nói vàviết ví dụ như là nếu không có biểu tượng thì chúng ta sẽ không có khái niệm vềngười tuyển dụng, giáo viên, cô chú
Quan điểm 2, theo Herbert Blumer, thì tương tác luận biểu trưng dựa trên ba luận đề sau:
Thứ nhất, Con người hành động dựa trên cơ sở các ý nghĩa mà họ gán cho các
đối tượng và sự kiện hơn là hành động nhằm phản ứng lại với những kích thíchbên ngoài như các động lực xã hội hay với những kích thích bên trong như cácbản năng
Thứ hai, các ý nghĩa nảy sinh từ quá trình tương tác hơn là có ngay từ khi bắt
đầu và định hình hành động tương lai Các ý nghĩa được sáng tạo, cải biến, pháttriển và thay đổi trong các tình huống tương tác hơn là được cố định và xác địnhtrước
Thứ ba, các ý nghĩa là kết quả của những thủ tục lý giải mà các chủ thể thực
hiện trong bối cảnh tương tác Bằng việc đóng vai trò của người khác, chủ thể lýgiải các ý nghĩa và ý định của người khác Bằng cơ chế "tự tương tác", các cánhân biến cải hoặc thay đổi các xác định của họ về tình huống xảy ra Như vậy,các ý nghĩa chỉ đạo hành động nảy sinh trong quá trình tương tác thông qua mộtchuỗi những thủ tục lý giải
Trang 8Ví dụ: Minh thực hiện hành động cầm tay Phương thì để có thể phản ứng lại
thì Phương phải hiểu ý nghĩa hành động của Minh Khi đã giải mã hoạt độngcầm tay của Minh thì Phương mới có những phản ứng lại với hoạt động củaMinh
Tóm lại, Blumer nhấn mạnh rằng con người là những chủ thể tích cực, hànhđộng trên cơ sở những ý nghĩa mà họ gán cho vào tương tác xã hội của họ Đây
là quá trình xã hội trong đó đời sống nhóm, nó tạo ra và xác nhận các quy tắc,chứ không phải các quy tắc tạo ra và xác nhận đời sống nhóm
Tương tác biểu trưng phân tích cách chúng ta ứng xử dựa vào cách chúng tađịnh nghĩa vào bản thân mình vào người khác Tương tác biểu trưng không chỉ
là một luận điểm cho rằng bản thân chúng ta là một biểu tượng – nó được hiểu
là chúng ta biết được những gì về bản thân Bản thân chúng ta là một biểu tượngthay đổi : khi chúng ta tương tác với người khác chúng ta điều chỉnh quan điểm
về việc chúng ta là ai dựa trên việc chúng ta giải mã phản ứng người khác
Lý thuyết trao đổi xã hội
Nhìn tương tác xã hội như là một sự trao đổi xã hội là quan điểm của lý thuyếttrao đổi xã hội với hai đại diện tiêu biểu là George C Homans (1910 – 1989) vàPeter Blau (1918 – 2002)
Theo Homans, các cá nhân hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi các giá trịvật chất và tinh thần Như vậy sẽ xuất hiện hai trạng thái hành động trong tươngtác, hành động cho và hành động nhận Cá nhân thực hiện hành động cho nhiềulần với người khác, thì sẽ có xu hướng tâm lý muốn được nhận lại nhiều lần.Ngược lại, cá nhân được nhận nhiều từ người khác sẽ cảm thấy bị tác động bởimột áp lực vô hình của sự nhận và cho Từ đó xuất hiện xu hướng cân bằng giữatrao và nhận của các cá nhân trong quá trình tương tác Homans gọi đó là sự cânbằng chi phí, tâm lý chung của các cá nhân là mong muốn nhận được nhữngphần thưởng lớn nhất so với những chi phí đã bỏ ra Trong thực tế cuộc sống xãhội, quá trình tương tác theo hình trao đổi xã hội rất phổ biến, bởi toàn bộ cáctương tác xã hội là một tập hợp phức tạp của các trao đổi
Các mệnh đề trao đổi của Homans:
Mệnh đề thành công: với mọi hành động của con người, hành động cụ thể nào
càng thường xuyên được thưởng thì nhiều khả năng con người sẽ lặp lại hànhđộng đó
Ví dụ: một người sẽ thường đưa ra lời khuyên hơn nếu người đó nhận được
sự khen thưởng, hưởng ứng, hài lòng của mọi người trong quá khứ
Mệnh đề tác nhân: nếu trong quá khứ một tác nhân cụ thể hay một tập hợp
các tác nhân diễn ra trong một dịp nào đó là cơ hội mà hành động con ngườiđược thưởng thì sau đó, tác nhân hiện tại càng tương đồng với tác nhân quá khứ,nhiều khả năng con người sẽ thực hiện lại hành động đó hoặc thực hiện mộthành động tương tự
Ví dụ: một người đi làm gặp đường tắc, người đó tìm được con đường mới
thông thoáng hơn thì lần sau họ sẽ có xu hướng đi con đường mới tìm được đó
Trang 9Mệnh đề giá trị: kết quả của hành động càng có giá trị đối với con người thì
nhiều khả năng con người sẽ thực hiện hành động đó
Ví dụ: thành quả của việc giảm cân là có một thân hình đẹp cân đối vì vậy
con người sẽ có khả năng thực hiện chế độ ăn uống hợp lý kết hợp với tập thểdục để đạt được mục tiêu của mình
Mệnh đề sự tước đoạt/sự thỏa mãn: một phần thưởng cụ thể trong quá khứ
càng thường xuyên lặp lại ở hiện tại thì phần thưởng đó càng trở nên ít có giá trịhơn đối với con người
Ví dụ: Một học sinh được thưởng 5 quyển vở vì đạt kết quả cao trong học tập
nhưng lần nào đạt kết quả cao cũng được thưởng 5 quyển vở lâu dần học sinh đó
sẽ chán và không còn hứng thú nữa
Mệnh đề về sự công kích/tán thành: Khi hành động của một con người không
nhận được phần thưởng mà người đó mong đợi hoặc nhận được sự trừng phạt
mà người đó không mong đợi, người đó sẽ giận dữ và nhiều khả năng sẽ thựchiện hành động công kích và kết quả của hành vi như vậy trở nên có giá trị vớingười đó hơn
Khi hành động của một người nhận được phần thưởng mong đợi, đặc biệtphần thưởng lớn hơn so với mong đợi hoặc không nhận được sự trừng phạt màanh ta trông chờ, anh ta sẽ hài lòng và nhiều khả năng sẽ thực hiện hành vi đượctán thành và kết quả hành vi như vậy sẽ trở nên có giá trị với anh ta hơn
Mệnh đề duy lý: khi lựa chọn hành động, con người sẽ chọn một hành động
mà theo nhận thức của họ vào thời điểm ấy, giá trị của kết quả, xác suất nhậnđược kết quả của hành động đó lớn hơn
Ví dụ: giữa việc đi làm và việc đi học, nhiều sinh viên sẽ chọn đi học vì theo
họ nếu cố gắng học tập, họ sẽ có được kết quả cao từ đó ra trường sẽ có cơ hộiviệc làm tốt hơn, làm đúng chuyên ngành của mình hơn thay vì đi làm công việckhông liên quan đến ngành mình học
Từ các mệnh đề trên, Homans chỉ ra rằng hành vi lựa chọn nghề nghiệp củacon người đều có tính quy luật, tức là chịu sự chi phối có tính tất yếu bên trongcủa mỗi thành phần và mỗi kiểu loại nghề nghiệp khác nhau Vì các hoạt độngnghề nghiệp của con người được thúc đẩy bởi khát vọng để đạt được nhữngphần thưởng và tránh các chi phí vô ích, đồng thời kích thích nghề nghiệp pháttriển theo hướng vi mô và nâng cao giá trị nghề nghiệp trong xã hội Nếu trongquá trình hoạt động nghề nghiệp, con người thực hiện một cách có khoa học,mang tính chuyên môn hóa cao và nhiệt tình với nghề nghiệp thì kết quả hoạtđộng nghề nghiệp của con người sẽ được nâng cao hơn, từ đó giúp con ngườihòa nhập vào các quan hệ xã hội thuận lợi hơn, đây là sự mong đợi của conngười trong thực hiện nghề nghiệp mà họ đã chọn và không muốn phải biến đổi.Tuy nhiên, với sự tương tác của con người trong các quan hệ xã hội, nếu hoạtđộng nghề nghiệp bị suy giảm giá trị, gây thiệt thòi cho người lao động vàkhông đem lại lợi ích tối ưu cho họ thì chủ thể có xu hướng thay đổi nghềnghiệp Đây là một hành vi lựa chọn hiện thực trên thực tế chứ không phải trên
Trang 10ý niệm, vì bản chất của con người luôn có xu hướng nhân bội giá trị kết quảhành động của mình thông qua hoạt động nghề nghiệp.
Nguyên lý trao đổi ngầm của Blau:
Nguyên lý duy lý: lợi ích con người mong chờ từ người khác trong việc tạo ra
một hoạt động cụ thể càng nhiều, càng có nhiều khả năng họ tạo ra hoạt độngđó
Nguyên lý trao đổi qua lại: Con người trao đổi càng nhiều phần thưởng với
người khác, nghĩa vụ đối xứng xuất hiện và chỉ dẫn trao đổi tiếp theo của họ.Nghĩa vụ đối ứng của mối quan hệ trao đổi càng bị vi phạm, càng có khuynhhướng một bên bị tước đoạt thừa nhận những vi phạm chuẩn mực của sự traođổi qua lại
Nguyên lý công bằng: Những mối quan hệ trao đổi được thiết lập càng nhiều,
càng có nhiều khả năng chúng bị chi phối bởi chuẩn mực trao đổi công bằng.Các chuẩn mực cân bằng càng ít được nhận ra trong một cuộc trao đổi, cókhuynh hướng một bên bị tước đoạt thừa nhận những vi phạm tiêu cực cácchuẩn mực
Nguyên lý vị lợi ích cận biên: các phần thưởng càng được mong đợi nhiều sắp
xuất hiện trong một hoạt động cụ thể, hoạt động đó càng có ít giá trị và ít khảnăng nó xuất hiện
Nguyên lý mất cân bằng: một số quan hệ trao đổi càng ổn định và cân bằng
giữa các đơn vị xã hội, các mối quan hệ trao đổi khác có nhiều khả năng trở nênmất cân bằng và không ổn định
ta thường xuyên dùng mặt nạ – trừ khi người đó ở một mình, khi mang mặt nạ,
cá nhân phải chú ý hành động sao cho phù hợp với mặt nạ đó Vì vậy, Goffmancho rằng, quá trình tương tác xã hội là một chuỗi vô tận gồm các bước (hay chukỳ): Mang mặt nạ – Tháo bỏ mặt nạ – Sự chân thành giả tạo – Tháo bỏ mặt nạ
Và tất nhiên quá trình tương tác xã hội chỉ diễn ra theo chu kỳ này khi có sựgiám sát của những người xung quanh Lý thuyết kịch là một quan điểm tiêucực về tương tác giữa con người với con người
Các cá nhân khi xuất hiện trước mặt nhau luôn không thành thật với nhau, họ
có thể vui cười, có thể khóc với nhau, nhưng tất cả những biểu cảm đó đều được
Trang 11tạo ra có chủ ý làm hài lòng người khác Nhưng cũng có những khi họ hànhđộng trái ngược với sự mong đợi của người khác.
Phương pháp dân tộc học về tương tác xã hội
Phương pháp luận dân tộc học là quan điểm do Harold Garfinkel đề xuất vàonhững năm 1960 Phương pháp luận dân tộc học được xây dựng để tìm hiểu làmthế nào mà mọi người (thành viên) xây dựng thế giới của họ Phương pháp luậndân tộc học nghiên cứu những cách thức mà con người sử dụng trong quá trìnhtương tác hàng ngày, đặc biệt là những điều mà con người nói ra Do đó,phương pháp này nghiên cứu những quy tắc hiển nhiên điều khiển sự tương tácgiữa con người với con người trong cuộc sống hàng ngày Thực chất, những quytắc hiển nhiên trong giao tiếp là những quy ước ngầm về việc nhận thức tìnhhuống tương tác Những quy ước ngầm này chứa đựng rất nhiều thông tin,nhưng trong quá trình tương tác, các cá nhân vẫn hiểu mà không cần giải thíchdài dòng Điều này lý giải hiện tượng vì sao những người quen biết nhau lâungày, khi giao tiếp thường nói rất ngắn hoặc nói tắt vẫn hiểu nhau Như vậynhững quy tắc ngầm, hiển nhiên có ý nghĩa giúp chúng ta tiết kiệm được thờigian, sức lực trong cuộc sống Mỗi một cộng đồng có một hệ thống các quy ướcriêng mà những cá nhân ở các cộng đồng khác không thể hiểu được Do đó đểthực hiện tương tác xã hội thuận lợi ở cộng đồng mới, cá nhân phải thâm nhập
và học hỏi
Câu 5: Phân tích định nghĩa vị thế xã hội? Đặc điểm của vị thế xã hội? Các kiểu vị thế xã hội nào? Lấy ví dụ phân tích cụ thể?
Phân tích định nghĩa vị thế xã hội:
Có khá nhiều luồng quan điểm khác nhau bàn về định nghĩa của “vị thế xãhội” Tuy nhiên, về cơ bản định nghĩa về vị thế xã hội được chia làm hai cáchhiểu sau:
- Ở cách hiểu thứ nhất, vị thế xã hội là vị trí ở trong một nhóm hay một xãhội Với cách hiểu này, “vị trí” và “vị thế” xã hội đồng nghĩa với nhau bởichúng cùng cho biết vị trí đứng của một người trong cấu trúc xã hội Mỗi cánhân đều cùng lúc có nhiều vị trí/vị thế xã hội
VD: Vị thế của bản thân em có thể là con khi đặt trong mối quan hệ với cha
mẹ, nhưng đồng thời cũng là cháu (đối với ông bà), là bạn, là sinh viên, hoặccũng có thể là thực tập sinh khi đặt trong các mối quan hệ với những ngườikhác
- Ở cách hiểu thứ hai, vị thế xã hội nhấn mạnh khía cạnh xếp loại của địa vị
và các nhóm địa vị Vị thế xã hội ở cách hiểu này nhấn mạnh khía cạnh xếp loại
của địa vị và các nhóm địa vị “Địa vị xã hội liên quan đến một sự sắp xếp của
cá nhân với sự kính trọng về một vài đặc điểm xã hội quan trọng”.
Như vậy, có thể hiểu rằng: “Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm, lợi ích và giá trị xã hội kèm theo Nó thể hiện thứ bậc dành cho mỗi cá nhân trong cơ cấu tổ chức, nhóm xã hội, cộng đồng và trong toàn bộ hệ thống xã hội” Mỗi vị thế xã hội luôn có các nhiệm vụ, quyền lực, lợi ích, uy tín
Trang 12và sự kỳ vọng của xã hội Mỗi cá nhân thường có nhiều vị thế xã hội khác nhau,nhưng sẽ luôn có một vị thế chủ đạo xác định rõ chân dung xã hội của họ”.
VD (Mỗi vị thế xã hội luôn có các nhiệm vụ, quyền lực, lợi ích, uy tín và sự
Đặc điểm của vị thế xã hội:
- Vị thế là kết quả của các nhu cầu, mối quan tâm và sự đánh giá của xã hộiđối với vị trí xã hội Mà sự đánh giá của xã hội đối với mỗi một vị thế xã hội lạitùy thuộc vào từng nền văn hóa, từng giai đoạn lịch sử cụ thể, do vậy, với cùng
một vị thế xã hội, sự đánh giá của chính một xã hội qua các thời điểm lịch sử khác nhau cũng khác nhau Ngoài ra, sự đánh giá về cùng một vị thế xã hội ở các xã hội khác nhau cũng không giống nhau.
VD1:
Nghề ca sĩ bị xã hội phong kiến miệt thị “Xướng ca vô loài”
Trong xã hội hiện đại, điều này không còn xảy ra nữa Có rất nhiều người ca
sĩ được cho là “thần tượng” của mọi người, được nhiều người hâm mộ
VD2:
Mỹ: nhà xã hội học, nhà sử học có vị thế xã hội cao, trong khi đó về y tế (bác
sĩ, y tá) có vị thế thấp hơn (2012)
Việt Nam: Bác sĩ là nghề có vị thế rất cao trong xã hội, còn các nhà khoa học
xã hội thường có vị thế thấp hơn
- Vị thế xã hội không bao giờ độc lập.
Vị thế xã hội không bao giờ tồn tại độc lập mà nó luôn nằm trong mối quan
hệ với các địa vị khác trong xã hội Một ví dụ dễ thấy nhất ở đây chính là ngườiphụ nữ chỉ được gọi là mẹ khi họ có con
- Vị thế có sự kết nối Vị thế xã hội được liên kết thông qua các tương tác
khác nhau của con người trong xã hội Đó là lý do tại sao tất cả con người có thể
có nhiều trạng thái cùng một lúc
VD: bạn có quan hệ họ hàng với mẹ như con gái hay con trai, với anh chị em
ruột thịt, hoặc với bạn bè như bạn bè
- Vị thế phản ánh quyền lực nhất định: Ông chủ có quyền tuyển dụng, khen
thưởng, kỷ luật, sa thải nhân viên của mình Giảng viên có quyền hủy bỏ kết quảthi của sinh viên nếu phát hiện họ gian lận
- Vị thế xã hội của mỗi cá nhân chỉ mang tính chất tương đối, con người có
thể thay đổi một số vị thế xã hội của mình trong diễn tiếp cuộc sống và tập hợpcác vị thế của mỗi người tại các thời điểm khác nhau cũng khác nhau
VD:
Vị thế thay đổi: Sinh viên => Nhân viên => Giám đốc
Tập hợp thay đổi: (Con, bạn, thực tập sinh, sinh viên, …)
(Con, mẹ, vợ, bạn, giám đốc, …)