1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn bản pháp luật, thẩm quyền ban hành

19 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn bản pháp luật, thẩm quyền ban hành
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Pháp luật
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 63,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 3 PHẦN II NỘI DUNG 4 Chương I LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 4 1 1 Về bộ máy nhà nước 4 1 1 1 Khái niệm 4 1 1 2 Đặc điểm của cơ quan quản lý nhà nướ. MỤC LỤCMỤC LỤCiPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA21.1 Khái niệm về nhà nước xã hội chủ nghĩa21.2. Tính tất yếu khách quan và sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa21.3. Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa41.4. Đặc trưng và nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa91.5. Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa12CHƯƠNG II: NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM152.1. Thực trạng nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam152.1.1. Một số thành tựu đạt được152.1.2. Một số hạn chế162.2. Đường lối của Đảng về việc xây dựng nhà nước Xã hội Chủ nghĩa17PHẦN III: KẾT LUẬN20TÀI LIỆU THAM KHẢO22  PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUTrong những năm gần đây, trước những đổi thay lớn lao của đời sống quốc tế và sự sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đòi hỏi chúng ta phải có sự nhận thức lại đúng đắn các quan điểm của học thuyết Mác Lênin, trong đó có việc nhận thức lại một số vấn đề lý luận về Nhà nước và pháp luật. Trong thời đại ngày nay, khi mà những tiến bộ, những thành tựu của khoa học kỹ thuật đã làm cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân trở thành một tất yếu như Mác đã từng tiên đoán thì xu hướng chung của các Nhà nước trên thế giới là xác định lại vai trò của mình trong xã hội, từ đó Nhà nước hướng các hoạt động vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, vì sự phát triển toàn diện của con người. Do đó, vấn đề chức năng xã hội của Nhà nước đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học (chính trị, pháp lý...), trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong các chế độ Nhà nước khác nhau.Từ thực trạng đó, đặt ra yêu cầu là vấn đề về Nhà nước Xã hội chủ nghĩa cần được tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, góp phần bổ sung lý luận khoa học cho công cuộc củng cố và hoàn thiện Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Vì vậy, việc tác giả chọn đề tài Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước xã hội chủ nghĩa. Liên hệ thực tiễn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA1.1 Khái niệm về nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức mà thông qua đó, đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội; là một tổ chức chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội; đó là một nhà nước kiểu mới, thay thế nhà nước tư sản nhờ kết quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; là hình thức chuyên chính vô sản được thực hiện trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Với tư cách là một trong những tổ chức cơ bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân. Đó là một công cụ quản lý do chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân tổ chức ra nhằm thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân, đồng thời cũng thông qua nó, giai cấp công nhân và chính đảng của mình thực hiện sự lãnh đạo đối với toàn xã hội trong quá trình bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân, được thể hiện tập trung qua hai chức năng chủ yếu của nó, đó là chức năng thống trị giai cấp và chức năng xã hội.1.2. Tính tất yếu khách quan và sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa C.Mác và Ph. Ăngghen cho rằng, giai cấp công nhân khi thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, xóa bỏ tình trạng người bóc lột người và mọi sự tha hóa của con người do chế độ tư hữu sản sinh ra, thì trước hết họ phải cùng với nhân dân lao động phá hủy nhà nước tư sản chiếm lấy chính quyền thiết lập chuyên chính vô sản. Bởi vì, giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nên chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản .Sau khi trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân phải nắm vững công cụ chuyên chính, phải xây dựng nhà nuớc xã hội chủ nghĩa vững mạnh, trở thành một công cụ trấn áp các thế lực đi ngược lại lợi ích của nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Sự cần thiết tất yếu phải xác lập chuyên chính vô sản, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa vững mạnh còn xuất phát từ thực tiễn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ còn tồn tại các giai cấp bóc lột, chúng hoạt động chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động thông qua nhà nước phải trấn áp bằng bạo lực khi cần thiết. V.I.Lênin xem dấu hiệu tất yếu, điều kiện bất buộc của chuyên chính là trấn áp bằng bạo lực những kẻ bóc lột, phản động với tính cách là một giai cấp. Đồng thời, trong thời kỳ quá độ cũng còn có các giai cấp, tầng lớn trung gian khác và do địa vị kinh tế xã hội vốn có, các giai cấp này thường dao động, không thể tự mình đi lên chủ nghĩa xã hội. Trước thực tế đỏ, giai cấp công nhân phải tuyên truyền, thuyết phục, lôi cuốn họ đi theo mình trong công cuộc xây dựng xã hội mới. Do đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa đóng vai trò là thiết chế cần thiết bảo đảm sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với toàn xã hội. Để mở rộng dân chủ tới mức tối đa đối với mọi tầng lớp nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi đi ngược lại những chuẩn mực dân chủ, vi phạm những giá trị dân chủ chuyên chính của nhân dân, đòi hòi phải có một thiết chế nhà nước phù hợp. Chính vì vậy trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải được củng cố, xây dựng để trở thành công cụ bảo vệ và phát triển thành quả của dân chủ. Dân chủ cần phải có chuyên chính để giữ lấy dân chủ, để những hành vi gây tác hại tới quyền dân chủ của nhân dân được xử lý kịp thời... Các quyền đó phải được thể chế hóa trong hiến pháp, pháp luật và được thực hiện bằng những thiết chế tương ứng của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Do đó, quá trình xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa tất yếu gắn liền với quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Quá trình này cho thấy, dân chủ và pháp luật, dân chủ và kỷ cương không bài trừ và phủ định nhau, trái lại, đó chính là sự thống nhất biện chứng, là điều kiện, tiền đề tồn tại và phát triển của nhau. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng. Với ý nghĩa đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa là phương thức, phương tiện, là một công cụ chủ yếu của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy, để bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công thì việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa một trong những công cụ chủ yếu của quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, là một yêu cầu tất yếu khách quan trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.1.3. Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa Về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn đã cho thấy rõ, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới có bản chất khác với bản chất của các kiểu nhà nước bóc lột. Bản chất đó do cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa và đặc điểm của quyền lực chính trị trong chủ nghĩa xã hội quy định. Trong chủ nghĩa xã hội, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được thiết lập và củng cố dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đó là kiểu quan hệ sản xuất thể hiện sự hợp tác, tương trợ không có áp bức bóc lột. Giai cấp vô sản là người giữ địa vị thống trị về chính trị. Nhưng sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản đã thể hiện bản chất và mục đích khác hẳn với sự thống trị về chính trị của các giai cấp bóc lột. Sự thống trị của giai cấp bóc lột là sự thống trị của thiểu số đối với tất cả các giai cấp bị áp bức, bóc lột, để bảo vệ lợi ích của chúng. Còn sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản là sự thống trị của đa số đối với giai cấp bóc lột, chỉ là thiểu số trong dân cư, nhằm mục đích giải phóng giai cấp mình và tất cả người lao động. Mặt cơ bản nhất trong sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản là sự lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với toàn xã hội trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa, là công cụ để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp vô sản. Bản chất và mục đích của nhà nước xã hội chủ nghĩa thể hiện ở những đặc điểm cơ bản sau đây: Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là một bộ máy chính trị hành chính, một cơ quan cưỡng chế, vừa là một tổ chức quản lý kinh tế xã hội của nhân dân lao động, nó không còn là nhà nước theo đúng nghĩa mà chỉ là nửa nhà nước. Tất cả các nhà nước bóc lột đều là nhà nước theo đúng nghĩa của nó, nghĩa là bộ máy của thiểu số những kẻ bóc lột để trấn áp đa số nhân dân lao động bị áp bức bóc lột … Phù hợp với bản chất đó, các nhà nước bóc lột đều là bộ máy hành chính quân sự quan liêu, một bộ máy bạo lực để thực hiện sự đàn áp nhân dân lao động, bảo vệ sự thống trị của giai cấp bóc lột. Khác với các nhà nước bóc lột, nhà nước xã hội chủ nghĩa không đơn thuần chỉ là bộ máy hành chính – cưỡng chế mà nó còn là một tổ chức quản lý kinh tế xã hội. Hơn thế, bộmáy hành chính cưỡng chế của nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng đã có bản chất và đặc điểm khác: Đó là bộ máy do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tổ chức ra để trấn áp giai cấp bóc lột đã bị lật đổ và những phần tử phản động để bảo vệ thành quả cách mạng, giữvững an ninh chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế xã hội. Cho nên, mặc dù trong thời kỳ quá độ sự trấn áp vẫn còn là tất yếu, nhưng nó đã là sự trấn áp của đa số nhân dân lao động đối với thiểu số bóc lột. Cơ quan đặc biệt, bộ máy trấn áp đặc biệt là nhà nước vẫn còn cần thiết, nhưng nó đã là nhà nước quá độ, mà không còn là nhà nước theo đúng nghĩa nữa. Sự trấn áp ấy có thể dung hợp với việc mở rộng chế độ dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân, khiến cho sự cần thiết phải có một bộ máy trấn áp đặc biệt cũng bắt đầu mất dần.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 3

PHẦN II: NỘI DUNG 4

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 4

1.1 Về bộ máy nhà nước 4

1.1.1 Khái niệm: 4

1.1.2 Đặc điểm của cơ quan quản lý nhà nước 5

1.2 Lý luận về văn bản quy phạm pháp luật 9

1.2.1 Khái niệm 9

1.2.2 Đặc điểm 9

CHƯƠNG 2: HIỆU LỰC CÁC LOẠI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ THẨM QUYỀN BAN HÀNH LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 11

2.1 Thẩm quyền ban hành pháp luật của cơ quan nhà nước 11

2.1.1 Văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và uỷ ban thường vụ quốc hội 11

2.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước 12

2.1.3 Văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao 13

2.1.5 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân 13

2.2 Hiệu lực các loại văn bản quy phạm pháp luật 13

2.2.1 Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội 14

2.2.2 Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14

Trang 2

2.2.3 Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước 14

2.2.4 Nghị định của Chính phủ 14

2.2.5 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ 15

2.2.6 Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ 15

2.2.7 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 16 2.2.8 Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao 16

2.2.9 Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước 16

PHẦN III: KẾT LUẬN 18

Trang 3

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời kỳ quá độ lên Xã Hội Chủ Nghĩa, thể chế hành chính của các cơ quan Nhà nước đã được thay đổi khá nhiều phù hợp với việc quản lý

xã hội, đáp ứng được công cuộc xây dựng đất nước XHCN Cơ cấu quản lý hành chính đã được điều chỉnh, giảm bớt sự cồng kềnh giảm thiểu sự quan liêu để tiến tới sự một xã hội công bằng văn minh và phát triển Việc xây dựng cơ cấu của các cơ quan hành chính mới không làm thay đổi hoặc suy giảm quyền lực và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước Mặt khác địa

vị pháp lý của cơ quan được đề cao và tăng cường kiểm tra giám sát đối với từng bộ phận, hiểu được đường lối chỉ đạo hợp lý của Nhà nước và vai trò tích cực của các cơ quan quản lý Nhà nước Chính vì vậy, quyền và nghĩa vụ đây chính là địa vị pháp lý của cơ quan quản lý Nhà nước Mặt khác, địa vị pháp lý của các cơ quan được đề cao và tăng cường kiểm tra giám sát đối với từng bộ phận, từng lĩnh vực xã hội phát triển không thể thiếu được đường lối chỉ đạo hợp lý của Nhà nước và vai trò tích cực của các cơ quan trong Bộ máy hành chính Nhà nước và điạ vị đó được thể hiện trong việc ban hành văn bản vi phạm pháp luật

“Thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở TW” là một đề tài không mới mẻ nhưng khá khó so với kiến thức còn hạn hẹp của chúng em, do đó bài tiểu luận không thể tránh khỏi những hạn chế, sai sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của giáo viên và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.1 Về bộ máy nhà nước

1.1.1 Khái niệm:

Bộ máy quản lý Nhà nước theo hiến pháp 1980 cũng như hiến pháp

1992 là một trong bốn hệ thống cơ quan Nhà nước Như vậy, đứng về mặt hệ thống, các cơ quan trong bộ máy nhà nước ta gồm:

- Cơ quan quyền lực

- Cơ quan quản lý

- Cơ quan kiểm sát

- Cơ quan xét xử

Trong đó, các cơ quan quản lý Nhà nước là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực, được tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương và cơ sở để trực tiếp quản lý, điều hành các mặt hoạt động của đời sống xã hội Như vậy, trong mối quan hệ và mối phân định với hoạt động của

cơ quan quyền lực, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử thì khái niệm quản lý Nhà nước (hoạt động chấp hành và điều hành, hoạt động hành pháp) Vì vậy, chúng là chủ thể cơ bản của luật hành chính Trực quan ta có sơ đồ cơ cấu bộ máy Nhà nước như sau:

Trang 5

1.1.2 Đặc điểm của cơ quan quản lý nhà nước.

Các cơ quan hành chính Nhà nước là các cơ quan chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật hành chính Là một bộ phận hợp thành của bộ máy Nhà nước, cơ quan quản lý Nhà nước có những đặc điểm chung của cơ Nhà nước

đó là:

a Là một tổ chức (tập hợp những con người)

b Có tính độc lập tương đối về tổ chức - cơ cấu:

Có cơ cấu bộ máy và quan hệ công tác bên trong của cơ quan được quy định trước hết bằng nhiệm vụ, chức năng thể hiện vai trò độc lập của nó, nhưng đồng thời nó có những quan hệ đa dạng về tổ chức và hoạt động với cơ quan khác trong hệ thống bộ máy quản lý và bộ máy Nhà nước nói chung mà quan hệ đó được quy định chính bởi vị trí của từng cơ quan trong hệ thống chung đó

Trang 6

c Có thẩm quyền do pháp luật quy định, đó là tổng thể những quyền,

nhiệm vụ chung và những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực pháp lý mà Nhà nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ chức năng Nhà nước Các quyền hạn đó - yếu tố quan trọng nhất của thẩm quyền, có hiệu lực "ra bên ngoài" nghĩa là có hiệu lực bắt buộc đối với các đối tượng ngoài phạm vi cơ quan Sở

dĩ như vậy vì cơ quan nhà nước nhân dân Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân vì lợi ích của Nhà nước Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt cơ quan Nhà nước với các cơ quan, tổ chức không phải của Nhà nước, vì những cơ quan tổ chức đó không có thẩm quyền (ví dụ: cơ quan tổ chức xã hội, tổ chức

tư nhân…)

Thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước có những giới hạn về không gian (lãnh thổ) về thời gian có hiệu lực, về đối tượng chịu sự tác động của nó

Đó là những giới hạn phap lý vì được quy định trong luật pháp

Trong các yếu tố của thẩm quyền cơ quan Nhà nước thì quyền quan trọng nhất là quyền ban hành quyết định pháp luật Mỗi cơ quan có hình thức

và phương pháp hoạt động riêng do pháp luật quy định, kể cả việc áp dụng các biện pháp hoạt động riêng do pháp luật quy định, kể cả việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước Quyền thực hiện các hình thức và phương pháp hoạt động đó cũng là yếu tố quan trọng của thẩm quyền cơ quan Nhà nươc

Các cơ quan Nhà nước chỉ hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình và trong phạm vi đó nó hoạt động độc lập, chủ động và sáng tạo, thẩm quyền của cơ quan Nhà nước là nghĩa vụ không phụ thuộc vào ý muốn, sự xét đoán riêng của bản thân cơ quan cũng như của bất cứ người lãnh đạo nào

Ngoài các đặc điểm chung của cơ quan Nhà nước, cơ quan quản lý Nhà nước có đặc điểm riêng, quyết định bởi chính bản chất của hoạt động chấp hành và điều hành Thông qua các đặc điểm riêng này mà chúng ta phân biệt

Trang 7

rõ cơ quan quản lý Nhà nước với các cơ quan Nhà nước khác (cơ quan quyền lực, viện kiểm sát, toà án)

Các đặc điểm riêng cơ bản của địa vị pháp lý của cơ quan quản lý Nhà nước là:

1 Nhìn tổng thể, bộ máy hành chính Nhà nước là bộ máy chấp hành của các cơ quan quyền lực Nhà nước Các cơ quan đầu não của bộ máy hành chính do các cơ quan quyền lực Nhà nước thành lập (Chính phủ, Bộ và các cơ quan, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan khác thuộc Chính phủ, UBND các cấp) Do đó, chúng trực thuộc, chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực Nhà nước tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan đó Có những cơ quan quản lý Nhà nước không do các cơ quan quyền lực Nhà nước trực tiếp lập ra mà do các cơ quan quản lý cấp trên thành lập, nhưng về nguyên tắc cũng chịu sự giám sát, lãnh đạo của các cơ quan quyền lực tương ứng

2 Các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành tức là hoạt động mang tính dưới luật - hoạt động tiến hành trên cơ sở và để thi hành luật Đó là hình thức chủ yếu để đưa các đạo luật và các văn bản pháp luật khác … của các cơ quan quyền lực Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống

3 Thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành, chủ yếu được quy định trong các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước hoặc các điều lệ, quy chế…

Những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự mà cơ quan quản

lý Nhà nước có thể tham gia tương tự như tất cả các chủ thể khác của pháp luật dân sự không phải là yếu tố của thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước Trong phạm vi thẩm quyền của mình, của các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm hoạt động thường xuyên hàng ngày một cách chủ động và sáng

Trang 8

tạo để đáp ứng nhu cầu diễn biến nhanh chóng, phức tạp và đa dạng của hoạt động quản lý

4 Tất cả các cơ quan quản lý Nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau (quan hệ trực thuộc trên - dưới, trực thuộc ngang, quan hệ chéo) tạo thành một hệ thống thống nhất có trung tâm chỉ đạo là Chính phủ đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chấp hành và điều hành một cách mau lẹ, nhất quán và hiệu quả

Nhưng hệ thống quản lý bộ máy rất phức tạp, nhiều về số lượng cơ quan ở tất cả các cấp từ trung ương đến cơ sở cũng như sô nhiều về số biên chế Số lượng cơ quan và biên chế này bằng gấp nhiều lần số lượng cơ quan

và biên chế của tất cả các cơ quan Nhà nước khác cộng lại Hạt nhân của các

cơ quan quản lý Nhà nước là công chức

5 Hoạt động chấp hành và điều hành của bộ máy quản lý hoàn toàn khác với hoạt động kiểm sát và hoạt động xét xử của toà án Tuy nhiên, chúng

có quan hệ chặt chẽ với nhau

Bộ máy quản lý, toà án viện kiểm sát là những hệ thống độc lập với nhau, không có quan hệ trực thuộc Nhưng hoạt động của các cơ quan quản lý chịu sự giám sát của viện kiểm sát (trừ hoạt động của Chính phủ) và toà án Các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm xem xét và trả lời các yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của viện kiểm sát và toà án trong thời hạn do luật định

Ngược lại, các văn bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước là một trong những căn cứ để toà án và viện kiểm sát thực hiện hoạt động kiểm sát

và xét xử Một số vấn đề tổ chức nội bộ của Toá án và Viện kiểm sát so văieọt nam bản pháp luật của các cơ quan quản lý điều chỉnh (ví dụ: về chính sách cán bộ, về quản lý cán bộ của toà án)

Bộ máy quản lý được giao nhiệm vụ quản lý các ngành và lĩnh vực quản lý hành chính - chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội chủ yếu bao gồm rất

Trang 9

nhiều các cơ quan, các tổ chức, xí nghiệp trực thuộc và chịu sự lãnh đạo của

nó Toá án và viện kiểm sát nhân dân không có các đối tượng quản lý này

1.2 Lý luận về văn bản quy phạm pháp luật

1.2.1 Khái niệm

Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện của các quyết định pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự và dưới hình thức nhất định, có chứa đựng các quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định, đước áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đời sống và việc thực hiện văn bản đó không làm chấm dứt hiệu lực của nó

Văn bản quy phạm pháp luật là loại nguồn trực tiếp của pháp luật, do đó nó có

ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội tạo lập một trật tự pháp luật vì sự phát triển lành mạnh của cả xã hội và của từng cá nhân Yêu cầu đặt ra là phải xây dựng được những văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng, phù hợp với các đòi hỏi của cuộc sống

1.2.2 Đặc điểm

Các cơ quan nhà nước ở trung ương là những cơ quan đầu não của cả nước, thể hiện tập trung nhất quyền lực của một chế độ xã hội Vì vậy, văn bản quy phạm pháp luật do những chủ thể này ban hành có một vai trò rất đặc biệt Nó không chỉ là những văn bản có phạm vi áp dụng rộng rãi nhất mà còn

là cơ sở pháp lý để nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác ra đời Giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành mang những đặc điểm sau: Văn bản quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban hành

theo quy định của pháp luật Với vai trò quan trọng là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội , là cơ sở cho việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính, văn bản quy phạm pháp luật do đó chỉ được ban hành bởi các chủ thể nhất định theo quy định của pháp luật

Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 quy định những cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng thẩm phán

Trang 10

tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan nhà nước với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội Ngoài ra, các cá nhân cũng có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đó là: Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

bộ, Tổng Kiểm toán Nhà nước

Vì vậy, dấu hiệu đầu tiên để khẳng định văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành là văn bản được ban hành bởi những chủ thể: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chính phủ; Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và có sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước với nhau hoặc với các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội Trong phạm vi bài tiểu luận này, cho phép em chỉ đề cập đến các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành

Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi các cơ quan Nhà nước

ở trung ương có hình thức do pháp luật quy định, cụ thể như sau:

Về tên gọi của văn bản quy phạm pháp luật (do cơ quan Nhà nước ở

TW ban hành), điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 có quy định tên gọi của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành, bao gồm: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết liên tịch, Thông tư liên tịch Việc quy định tên gọi của văn bản như trên đã thể hiện thẩm quyền về hình thức của các cơ quan ban hành văn bản: trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan được quyền ban hành những loại văn bản nào và khi điều chỉnh một vấn đề pháp lý cụ thể, cơ quan ban hành phải ban hành đúng hình thức văn bản đó Việc tuân thủ quy định về tên gọi nói riêng và hình thức của văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành nói chung là điều kiện cần để khẳng định nội dung của văn bản (là có chứa quy phạm pháp luật) Đồng thời, nó còn giúp phân biệt với các loại văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước khác cũng như với văn bản do các cá nhân ban hành; xác định thứ bậc, hiệu lực của từng loại văn bản

Trang 11

Bên cạnh tên gọi, pháp luật còn quy định về thể thức của văn bản quy phạm pháp luật, nhưng trong phạm vi của bài tiểu luận nên em xin phép không đề cập đến

CHƯƠNG 2: HIỆU LỰC CÁC LOẠI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ THẨM QUYỀN BAN HÀNH LUẬT CỦA CÁC

CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

2.1 Thẩm quyền ban hành pháp luật của cơ quan nhà nước

Thẩm quyền cơ quan Nhà nước quan trọng nhất là quyền ban hành quyết định pháp luật Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước thì việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành Những văn bản này đều có những đặc điểm của văn bản Nhà nước nói chung, đặc biệt là tính chất pháp lý của nó tuy nhiên là những văn bản hành chính Nhà nước bao giờ cũng là những văn bản dưới luật được ban hành trên

cơ sở để chấp hành Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các Nghị quyết của các cơ quan quyền lực

Thực tiễn việc ra các văn bản quy định pháp luật đã được quy định đầy

đủ trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi bổ sung 2002) của Quốc hội Tuỳ vào vị trí, tính chất pháp lý và hoạt động của từng cơ quan quản lý trong bộ máy hành chính Nhà nước để ra các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau

2.1.1 Văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và uỷ ban thường vụ quốc hội

* Nghị quyết của Quốc hội: thường được ban hành để giải quyết các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Quốc hội nhưng thường mang tính chất nhất thời hoặc tính cụ thể

Ví dụ:Nghị quyết về việc tăng cường chống buôn lậu

* Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Ngày đăng: 13/02/2023, 04:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w