MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 3 PHẦN II NỘI DUNG 4 Chương I LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 4 1 1 Về bộ máy nhà nước 4 1 1 1 Khái niệm 4 1 1 2 Đặc điểm của cơ quan quản lý nhà nướ. MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU3PHẦN II: NỘI DUNG4CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT41.1. Về bộ máy nhà nước41.1.1 Khái niệm:41.1.2. Đặc điểm của cơ quan quản lý nhà nước.51.2. Lý luận về văn bản quy phạm pháp luật.91.2.1. Khái niệm91.2.2. Đặc điểm9CHƯƠNG 2: HIỆU LỰC CÁC LOẠI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ THẨM QUYỀN BAN HÀNH LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC112.1. Thẩm quyền ban hành pháp luật của cơ quan nhà nước112.1.1. Văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và uỷ ban thường vụ quốc hội112.1.2. Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước122.1.3. Văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao132.1.5. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân132.2. Hiệu lực các loại văn bản quy phạm pháp luật132.2.1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội142.2.2. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội142.2.3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước142.2.4. Nghị định của Chính phủ142.2.5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ152.2.6. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ152.2.7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao162.2.8. Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao162.2.9. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước16PHẦN III: KẾT LUẬN18 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUPháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội và đời sống cộng đồng, là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan. Chính vì vậy, pháp luật có một ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng. Trong bối cảnh xã hội Việt nam hiện nay, pháp luật là vũ khí chính trị sắc bén để nhân dân đấu tranh chống lại các lực lượng thù địch, giữ vững an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; là cơ sở pháp lý để bộ máy Nhà nước Việt Nam tổ chức và hoạt động; là công cụ để Nhà nước quản lý hữu hiệu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; là phương tiện thiết lập và bảo đảm công bằng, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; là cơ sở bảo vệ hữu hiệu quyền công dân; đồng thời, pháp luật tạo điều kiện cho những công cụ quản lý xã hội khác phát triển vì một xã hội công bằng, văn minh, tốt đẹp hơn. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nhà nước ta luôn coi xây dựng pháp luật là một hoạt động cơ bản và quan trọng hàng đầu. Những năm qua, đặc biệt là khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 ra đời, hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước đã gặt hái được những kết quả đáng kích lệ. Góp phần to lớn vào sự thành công chung đó, phải kể tới hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương.Do đó, nay e viết bài tiểu luận này mong bản thân sẽ có thêm nhiều hiểu biết về bộ máy nhà nước, hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật và thầm quyền ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ THẨM QUYỀN BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT1.1. Bộ máy nhà nước1.1.1 Khái niệm:Bộ máy nhà nước là tổng thể các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương hợp thành hệ thống được tổ chức, hoạt động theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước.Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo chiều ngang, bao gồm 4 hệ thống: 1) Các cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đây là các cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín; 2) Các cơ quan hành chính nhà nước, còn gọi là các cơ quan quản lí nhà nước bao gồm Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp và các cơ quan quản lí chuyên môn của Uỷ ban nhân dân như sở, phòng, ban và tương đương; 3) Các cơ quan xét xử bao gồm Toà án nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân địa phương và các toà án quân sự; 4) Các cơ quan kiểm sát bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các viện kiểm sát nhân dân địa phương và các viện kiểm sát quân sự. Ngoài bốn hệ thống nói trên còn có một thiết chế đặc biệt là Chủ tịch nước nguyên thủ quốc gia, người thay mặt nhà nước về mặt đối nội cũng như đối ngoại, có chức năng chủ yếu nghiêng về hành pháp nhưng không nằm trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. Trực quan ta có sơ đồ cơ cấu bộ máy Nhà nước như sau: 1.1.2. Đặc điểm của cơ quan quản lý nhà nước
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN II: NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 4
1.1 Về bộ máy nhà nước 4
1.1.1 Khái niệm: 4
1.1.2 Đặc điểm của cơ quan quản lý nhà nước 5
1.2 Lý luận về văn bản quy phạm pháp luật 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Đặc điểm 9
CHƯƠNG 2: HIỆU LỰC CÁC LOẠI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ THẨM QUYỀN BAN HÀNH LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 11
2.1 Thẩm quyền ban hành pháp luật của cơ quan nhà nước 11
2.1.1 Văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và uỷ ban thường vụ quốc hội 11
2.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước 12
2.1.3 Văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao 13
2.1.5 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân 13
2.2 Hiệu lực các loại văn bản quy phạm pháp luật 13
2.2.1 Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội 14
2.2.2 Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14
Trang 22.2.3 Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước 14
2.2.4 Nghị định của Chính phủ 14
2.2.5 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ 15
2.2.6 Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ 15
2.2.7 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 16 2.2.8 Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao 16
2.2.9 Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước 16
PHẦN III: KẾT LUẬN 18
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội và đời sống cộng đồng, là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan Chính vì vậy, pháp luật có một ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng Trong bối cảnh xã hội Việt nam hiện nay, pháp luật là vũ khí chính trị sắc bén để nhân dân đấu tranh chống lại các lực lượng thù địch, giữ vững an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; là cơ sở pháp lý để bộ máy Nhà nước Việt Nam tổ chức và hoạt động; là công cụ để Nhà nước quản lý hữu hiệu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; là phương tiện thiết lập
và bảo đảm công bằng, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; là cơ sở bảo vệ hữu hiệu quyền công dân; đồng thời, pháp luật tạo điều kiện cho những công
cụ quản lý xã hội khác phát triển vì một xã hội công bằng, văn minh, tốt đẹp hơn Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nhà nước ta luôn coi xây dựng pháp luật là một hoạt động cơ bản và quan trọng hàng đầu Những năm qua, đặc biệt là khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 ra đời, hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước
đã gặt hái được những kết quả đáng kích lệ Góp phần to lớn vào sự thành công chung đó, phải kể tới hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương
Do đó, nay e viết bài tiểu luận này mong bản thân sẽ có thêm nhiều hiểu biết về bộ máy nhà nước, hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật
và thầm quyền ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ THẨM QUYỀN BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1.1 Bộ máy nhà nước
1.1.1 Khái niệm:
Bộ máy nhà nước là tổng thể các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương hợp thành hệ thống được tổ chức, hoạt động theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước
Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo chiều ngang, bao gồm 4 hệ thống:
1) Các cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Đây là các cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín;
2) Các cơ quan hành chính nhà nước, còn gọi là các cơ quan quản lí nhà nước bao gồm Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp và các cơ quan quản lí chuyên môn của Uỷ ban nhân dân như sở, phòng, ban và tương đương;
3) Các cơ quan xét xử bao gồm Toà án nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân địa phương và các toà án quân sự;
4) Các cơ quan kiểm sát bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các viện kiểm sát nhân dân địa phương và các viện kiểm sát quân sự Ngoài bốn
hệ thống nói trên còn có một thiết chế đặc biệt là Chủ tịch nước - nguyên thủ quốc gia, người thay mặt nhà nước về mặt đối nội cũng như đối ngoại, có chức năng chủ yếu nghiêng về hành pháp nhưng không nằm trong hệ thống
Trang 5cơ quan hành chính nhà nước Trực quan ta có sơ đồ cơ cấu bộ máy Nhà nước như sau:
1.1.2 Đặc điểm của cơ quan quản lý nhà nước.
Các cơ quan hành chính Nhà nước là các cơ quan chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật hành chính Là một bộ phận hợp thành của bộ máy Nhà nước, cơ quan quản lý Nhà nước có những đặc điểm chung của cơ Nhà nước
đó là:
+ Mang tính quyền lực Nhà nước;
+ Nhân danh Nhà nước để thực thi quyền lực Nhà nước;
+ Trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan Nhà nước có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản áp dụng pháp luật;
+ Giám sát thực hiện các văn bản mà mình ban hành
+ Có quyền thực hiện biện pháp cưỡng chế khi cần thiết
Trang 6+ Thẩm quyền của các cơ quan nhà nước có những giới hạn về không gian (lãnh thổ), về thời gian có hiệu lực, về đối tượng chịu sự tác động Thẩm quyền của cơ quan phụ thuộc vào địa vị pháp lý của nó trong bộ máy nhà nước Giới hạn thẩm quyền của cơ quan nhà nước là giới hạn pháp lý vì được pháp luật quy định
+ Mỗi cơ quan nhà nước có hình thức và phương pháp hoạt động riêng
do pháp luật quy định
1.1.3 Phân loại cơ quan nhà nước
Căn cứ vào hình thức thực hiện quyền lực:
+ Cơ quan quyền lực nhà nước: Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất; HĐND là cơ quan quyền lực ở địa phương;
+ Cơ quan hành chính Nhà nước: Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, các UBND cấp tỉnh, huyện và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
+ Cơ quan tư pháp: Tòa án, Viện kiểm sát;
Căn cứ vào trình tự thành lập:
+ Cơ quan Nhà nước do dân bầu ra;
+ Cơ quan Nhà nước không do dân bầu ra
Căn cứ vào tính chất thẩm quyền:
+ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chung;
+ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chuyên môn
Căn cứ vào cấp độ thẩm quyền:
+ Cơ quan Nhà nước ở Trung ương;
+ Cơ quan Nhà nước ở địa phương
Trang 71.2 Thẩm quyền ban hành pháp luật của cơ quan nhà nước
Thẩm quyền cơ quan Nhà nước quan trọng nhất là quyền ban hành quyết định pháp luật Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước thì việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành Những văn bản này đều có những đặc điểm của văn bản Nhà nước nói chung, đặc biệt là tính chất pháp lý của nó tuy nhiên là những văn bản hành chính Nhà nước bao giờ cũng là những văn bản dưới luật được ban hành trên
cơ sở để chấp hành Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các Nghị quyết của các cơ quan quyền lực
1.2.1 Quốc hội và uỷ ban thường vụ quốc hội
Quốc hội và uỷ ban thường vụ quốc hội có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như sau:
* Nghị quyết của Quốc hội: Nghị quyết là Hình thức văn bản quyết định về những vấn đề cơ bản sau khi được hội nghị bàn bạc, thông qua bằng biểu quyết theo đa số, biểu thị ý kiến hay ý định của một cơ quan, tổ chức về một vấn đề nhất định
Ví dụ: Nghị quyết về việc tăng cường chống buôn lậu
* Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội
+ Pháp lệnh được ban hành nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng nhưng chưa ổn định, lĩnh vực điều chỉnh hẹp hơn so với các
bộ luật
Ví dụ: Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính
+ Nghị quyết dùng để giải thích luật, pháp lệnh hoặc đề ra các quy định giám sát việc thi hành pháp luật đó
Trang 81.2.2 Chủ tịch nước
Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước: dùng để công bố tình trạng khẩn cấp như chiến tranh, giới nghiêm hoặc công bố các văn bản pháp luật được Quốc hội thông qua
1.2.3 Chính phủ, Thủ tương Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ
Nghị quyết, nghị định của Chính phủ
+ Nghị quyết: Là hình thức văn bản quyết định về những vấn đề cơ bản sau khi được hội nghị bàn bạc, thông qua bằng biểu quyết theo đa số, biểu thị
ý kiến hay ý định của một cơ quan, tổ chức về một vấn đề nhất định
+ Nghị định: là Hình thức văn bản do chính phủ ban hành và dùng để hướng dẫn luật hoặc quy định những việc phát sinh mà chưa có luật hoặc pháp lệnh nào điều chỉnh Mặt khác, nghị định do Chính phủ ban hành để quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của người dân theo Hiến pháp và Luật do Quốc hội ban hành
Quyết định chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ là phương tiện pháp luật
mà Thủ tướng sử dụng trong hoạt động điều hành Chính phủ, chỉ đạo, đôn đốc giám sát hoạt động của mọi cơ quan Nhà nước thuộc Chính phủ ở Trung ương và địa phương
Quyết định, chỉ thị, thông tư của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các
cơ quan khác thuộc Chính phủ Dùng để ban hành các văn bản dưới dạng nội quy, quy định cơ chế hoạt động, đôn đốc giám sát hoạt động của cấp dưới hoặc dùng để giải thích, hướng dẫn việc thực hiện văn bản luật
1.2.4 Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao
- Quyết định chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao
Trang 91.2.5 Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch
Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc giữa các cơ quan Nhà nước với các tổ chức xã hội
1.2.6 Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp: để điều chỉnh các quan hệ xã hội trên các lĩnh vực mang tính chất địa phương
- Quyết định, chỉ thị của UBND các cấp: để thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp và để điều hành hoạt động quản lý Nhà nước địa phương
Trang 10CHƯƠNG 2: VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LỰC VÀ HIỆU LỰC CÁC LOẠI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ THẨM QUYỀN BAN HÀNH LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 2.1 Lý luận về văn bản quy phạm pháp luật
2.1.1 Khái niệm
Theo giáo trình của trường đại học Luật Hà Nội định nghĩa: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng
xã hội chủ nghĩa và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống
Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật do PGS.TS Nguyễn Minh Đoan soạn thảo có đề cập: một văn bản được coi là VBQPPL khi có 4 tiêu chí:
+ Do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;
+ Theo trình tự, thủ tục, hình thức, tên gọi được luật định;
+ Chứa đựng quy tắc xử sự chung;
+ Được áp dụng nhiều lần trong đời sống khi xảy ra tình huống mà pháp luật đã dự liệu
Theo các văn bản pháp quy chính thống do nhà nước ban hành quy định về vấn đề này thì khái niệm VBQPPL được đề cập lần đầu tiên trong Luật ban hành VBQPPL năm 1996 được định nghĩa như sau: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 112.1.2 Đặc điểm
Các cơ quan nhà nước ở trung ương là những cơ quan đầu não của cả nước, thể hiện tập trung nhất quyền lực của một chế độ xã hội Vì vậy, văn bản quy phạm pháp luật do những chủ thể này ban hành có một vai trò rất đặc biệt Nó không chỉ là những văn bản có phạm vi áp dụng rộng rãi nhất mà còn
là cơ sở pháp lý để nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác ra đời Giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành mang những đặc điểm sau: Văn bản quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban hành
theo quy định của pháp luật Với vai trò quan trọng là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội , là cơ sở cho việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính, văn bản quy phạm pháp luật do đó chỉ được ban hành bởi các chủ thể nhất định theo quy định của pháp luật
Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 quy định những cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan nhà nước với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội Ngoài ra, các cá nhân cũng có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đó là: Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ, Tổng Kiểm toán Nhà nước
Vì vậy, dấu hiệu đầu tiên để khẳng định văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành là văn bản được ban hành bởi những chủ thể: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chính phủ; Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và có sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước với nhau hoặc với các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội Trong phạm vi bài tiểu luận này, cho phép em chỉ đề cập đến các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành
Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi các cơ quan Nhà nước
ở trung ương có hình thức do pháp luật quy định, cụ thể như sau:
Trang 12Về tên gọi của văn bản quy phạm pháp luật (do cơ quan Nhà nước ở
TW ban hành), điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 có quy định tên gọi của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành, bao gồm: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết liên tịch, Thông tư liên tịch Việc quy định tên gọi của văn bản như trên đã thể hiện thẩm quyền về hình thức của các cơ quan ban hành văn bản: trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan được quyền ban hành những loại văn bản nào và khi điều chỉnh một vấn đề pháp lý cụ thể, cơ quan ban hành phải ban hành đúng hình thức văn bản đó Việc tuân thủ quy định về tên gọi nói riêng và hình thức của văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành nói chung là điều kiện cần để khẳng định nội dung của văn bản (là có chứa quy phạm pháp luật) Đồng thời, nó còn giúp phân biệt với các loại văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước khác cũng như với văn bản do các cá nhân ban hành; xác định thứ bậc, hiệu lực của từng loại văn bản
Bên cạnh tên gọi, pháp luật còn quy định về thể thức của văn bản quy phạm pháp luật, nhưng trong phạm vi của bài tiểu luận nên em xin phép không đề cập đến
2.2 Hiệu lực các loại văn bản quy phạm pháp luật
Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đúng nguyên tắc, phù hợp sẽ dẫn đến kết quả xử lý công việc được chính xác và ngược lại, nếu áp dụng văn bản quy phạm pháp luật sai nguyên tắc thì sẽ dẫn đến sai sót, làm ảnh hưởng đến đối tượng bị áp dụng văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống pháp luật hiện hành ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều văn bản nội dung chồng chéo, mâu thuẫn nhau Về cơ bản, văn bản quy phạm pháp luật chia làm 2 loại:
- Văn bản luật: gồm Hiến pháp, các đạo luật, bộ luật, đó là những văn bản do Quốc hội ban hành theo hình thức và thủ tục được quy định trong Hiến pháp Đó là những văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất
- Văn bản dưới luật: là những văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy định Những văn bản này có hiệu lực pháp lí thấp hơn các văn bản luật