MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 2 1 1 Khái niệm văn bản quy phạp pháp luật và quy phạm pháp luật 2 1 1 1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật. MỤC LỤCMỞ ĐẦU1NỘI DUNG2I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT21.1. Khái niệm văn bản quy phạp pháp luật và quy phạm pháp luật21.1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật21.1.2. Khái niệm quy phạm pháp luật21.2. Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật:3II. Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT42.1. Văn bản quy phạm pháp luật đối với xác lập quan hệ pháp luật42.2. Văn bản quy phạm pháp luật đối với Thực hiện pháp luật52.3. Văn bản quy phạm pháp luật đối với truy cứu trách nhiệm pháp lý62.4. Văn bản quy phạm pháp luật đối với giáo dục pháp luật6III. MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ Ý NGHĨA CỦA VĂN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VIỆT NAM73.1. Một số tồn tại trong văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam73.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, ý nghĩa vận dụng vặn bản quy phạm pháp luật Việt Nam8KẾT LUẬN10TÀI LIỆU THAM KHẢO11 MỞ ĐẦUCác nguyên tắc của hệ thống pháp luật nước ta được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 tạo ra một không gian rộng lớn cho hoạt động xây dựng pháp luật. Đồng thời, các nguyên tắc đó cũng đòi hỏi phải xây dựng chính sách pháp luật có cơ sở khoa học với tư cách là phương tiện làm tối ưu hóa hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.Hiện nay, ở nước ta các văn bản quy phạm pháp luật mới có chất lượng từng bước đã và đang được hình thành đồng thời với việc sửa đổi, bổ sung thường xuyên các văn bản quy phạm pháp luật; hình thành nên các ngành và các chế định pháp luật mới, sửa đổi, bổ sung các chế định pháp luật hiện hành, tiến hành hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật.Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật là công cụ quan trọng và hiệu quả được Nhà nước sử dụng để quản lý xã hội. Tính kịp thời, tính đầy đủ, tính chính xác và tính hiện thực (khả thi) của các quyết định xây dựng pháp luật, đặc biệt của các quyết định lập pháp là một trong những yếu tố quyết định của quá trình tăng cường và phát huy dân chủ ở Việt Nam, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hình thành thị trường văn minh và tạo ra các bảo đảm cho quyền con người và quyền công dân. Do đó, qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “ Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật” để có cái nhìn sâu và rộng hơn. NỘI DUNGI. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT1.1. Khái niệm văn bản quy phạp pháp luật và quy phạm pháp luật 1.1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luậtVăn bản quy phạm pháp luật là văn bản do các cơ quan nhà nước cố thẩm quyền ban hành theo trình tự thủ tục luật định, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, làm khuôn mẫu cho xử sự của các chủ thể pháp luật, được áp dụng nhiều lần cho nhiều chủ thể pháp luật trong một khoảng thời gian và không gian nhất định nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự nhất định mà nhà nước muốn xác lập.Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 định nghĩa:“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này.1.1.2. Khái niệm quy phạm pháp luậtQuy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh hành vi của chủ thể và điều chỉnh các quan hệ xã hội và được nhà nước bảo đảm thực hiện. Quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc: Quy tắc xử sự là những khuôn mẫu, chuẩn mực về xử sự của con người. Căn cứ vào các khuôn mẫu, chuẩn mực này để xác định giới hạn, đánh giá hành vi của con người. Nhìn vào các quy tắc này mà có thể xác định được các chủ thể đã thực hiện đúng hay không đúng pháp luật. Quy phạm pháp luật là các quy tắc xử sự được hình thành để áp dụng chung cho các quan hệ xã hội cùng loại, nhằm áp dụng cho tất cả các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội này. Quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của con người, điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đối tượng mà quy phạm pháp luật hướng tới là hành vi của con người, là các quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội là các quan hệ hình thành, phát triển trong xã hội, là các quan hệ giữa con người với con người với nhau. Không phải quan hệ xã hội nào phát sinh trong xã hội đều có quy phạm pháp luật điều chỉnh. Quy phạm pháp luật xác định xử sự của các chủ thể, theo đó chủ thể có thể hoặc phải thực hiện trong những quan hệ xã hội mà nhà nước thấy có ích lợi để điều chỉnh, hoặc có thể điều chỉnh. 1.2. Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật: Từ khái niệm của quy phạm pháp luật suy ra đặc điểm của pháp luật. Đây là những điểm phân biệt quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác. Quy phạm pháp luật có các đặc điểm sau: Quy phạm pháp luật có tính áp dụng chung. Quy phạm pháp luật có tính bắt buộc. Quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 2
1.1 Khái niệm văn bản quy phạp pháp luật và quy phạm pháp luật 2 1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 2
1.1.2 Khái niệm quy phạm pháp luật 2
1.2 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật: 3
II Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 4
2.1 Văn bản quy phạm pháp luật đối với xác lập quan hệ pháp luật 4 2.2 Văn bản quy phạm pháp luật đối với Thực hiện pháp luật 5
2.3 Văn bản quy phạm pháp luật đối với truy cứu trách nhiệm pháp lý 6
2.4 Văn bản quy phạm pháp luật đối với giáo dục pháp luật 6
III MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ Ý NGHĨA CỦA VĂN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VIỆT NAM 7
3.1 Một số tồn tại trong văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam 7
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, ý nghĩa vận dụng vặn bản quy phạm pháp luật Việt Nam 8
KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 2MỞ ĐẦU
Các nguyên tắc của hệ thống pháp luật nước ta được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 tạo ra một không gian rộng lớn cho hoạt động xây dựng pháp luật Đồng thời, các nguyên tắc đó cũng đòi hỏi phải xây dựng chính sách pháp luật có cơ sở khoa học với tư cách là phương tiện làm tối ưu hóa hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay, ở nước ta các văn bản quy phạm pháp luật mới có chất lượng từng bước đã và đang được hình thành đồng thời với việc sửa đổi, bổ sung thường xuyên các văn bản quy phạm pháp luật; hình thành nên các ngành và các chế định pháp luật mới, sửa đổi, bổ sung các chế định pháp luật hiện hành, tiến hành hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật là công cụ quan trọng và hiệu quả được Nhà nước sử dụng để quản lý xã hội Tính kịp thời, tính đầy đủ, tính chính xác và tính hiện thực (khả thi) của các quyết định xây dựng pháp luật, đặc biệt của các quyết định lập pháp là một trong những yếu tố quyết định của quá trình tăng cường và phát huy dân chủ ở Việt Nam, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hình thành thị trường văn minh và tạo ra các bảo đảm cho quyền con người và quyền công dân Do đó, qua quá
trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “ Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật” để có cái nhìn sâu và rộng hơn.
Trang 3NỘI DUNG
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN QUY
PHẠM PHÁP LUẬT 1.1 Khái niệm văn bản quy phạp pháp luật và quy phạm pháp luật
1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do các cơ quan nhà nước cố thẩm quyền ban hành theo trình tự thủ tục luật định, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, làm khuôn mẫu cho xử sự của các chủ thể pháp luật, được áp dụng nhiều lần cho nhiều chủ thể pháp luật trong một khoảng thời gian và không gian nhất định nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự nhất định mà nhà nước muốn xác lập
Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 định nghĩa:
“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này
1.1.2 Khái niệm quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh hành vi của chủ thể và điều chỉnh các quan hệ xã hội và được nhà nước bảo đảm thực hiện
Quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc:
Quy tắc xử sự là những khuôn mẫu, chuẩn mực về xử sự của con người Căn cứ vào các khuôn mẫu, chuẩn mực này để xác định giới hạn, đánh giá hành vi của con người Nhìn vào các quy tắc này mà có thể xác định được các chủ thể đã thực hiện đúng hay không đúng pháp luật
Quy phạm pháp luật là các quy tắc xử sự được hình thành để áp dụng chung cho các quan hệ xã hội cùng loại, nhằm áp dụng cho tất cả các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội này
Quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của con người, điều chỉnh các quan
hệ xã hội
Trang 4 Đối tượng mà quy phạm pháp luật hướng tới là hành vi của con người, là các quan hệ xã hội Quan hệ xã hội là các quan hệ hình thành, phát triển trong xã hội, là các quan hệ giữa con người với con người với nhau
Không phải quan hệ xã hội nào phát sinh trong xã hội đều có quy phạm pháp luật điều chỉnh Quy phạm pháp luật xác định xử sự của các chủ thể, theo đó chủ thể có thể hoặc phải thực hiện trong những quan hệ xã hội mà nhà nước thấy có ích lợi để điều chỉnh, hoặc có thể điều chỉnh
1.2 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật:
Từ khái niệm của quy phạm pháp luật suy ra đặc điểm của pháp luật Đây
là những điểm phân biệt quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác
Quy phạm pháp luật có các đặc điểm sau:
Quy phạm pháp luật có tính áp dụng chung
Quy phạm pháp luật có tính bắt buộc
Quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước
o Tính áp dụng chung thể hiện ở điểm pháp luật áp dụng đến tất cả các chủ thể không phụ thuộc vào thời gian, không gian, chủ thể thực hiện, nếu thuộc các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống mà quy phạm pháp luật dự liệu
Quy phạm pháp luật không chỉ áp dụng cho một tổ chức, cá nhân cụ thể, cho một quan hệ xã hội cụ thể mà nhằm điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có những đặc điểm, tình huống, điều kiện đã được dự liệu sẵn trong quy phạm pháp luật đó Quy phạm pháp luật thống nhất các điểm chung của các quan hệ thuộc cùng một nhóm để thiết lập ra các quy tắc xử sự có tính chất chung cho tất cả các chủ thể tham gia Ví dụ quan hệ mua bán hàng hóa, quan hệ cung ứng dịch vụ,…
Tính áp dụng chung là điểm phân biệt quy phạm pháp luật với một số các quy phạm xã hội khác Quy tắc tôn giáo chỉ áp dụng đối với những chủ thể theo tôn giáo đó Quy tắc nghề nghiệp chỉ áp dụng đối với một số chủ thể nhất định
o Tính bắt buộc thể hiện thể hiện ở việc các chủ thể tham gia quan hệ
xã hội mà quy phạm pháp luật điều chỉnh phải thực hiện theo khuôn mẫu hành
vi, xử sự mà quy phạm pháp luật quy định Quy phạm pháp luật dự kiến các
Trang 5khuôn mẫu xử sự cho các chủ thể trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định Khi vào hoàn cảnh, điều kiện dự liệu, chủ thể phải thực hiện theo khuôn mẫu đó Nếu chủ thể không thực hiện đúng theo những gì pháp luật buộc phải làm hoặc làm những việc pháp luật không cho phép làm thì sẽ có khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý
Tính bắt buộc tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của quy phạm pháp luật
và đáp ứng các điều kiện khác về mặt hiệu lực Ví dụ, quy tắc đó sẽ chỉ có hiệu lực khi không trái với các quy tắc có giá trị pháp lý cao hơn Tính bắt buộc của quy phạm pháp luật đối với chủ thể sẽ xuất hiện khi những điều kiện áp dụng của pháp luật trở thành hiện thực Ví dụ: các chủ thể tham gia vào giao thông thì phải dừng lại khi gặp đèn đỏ
o Tính cưỡng chế thể hiện ở việc quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước
Trong hoàn cảnh, điều kiện, tình huống mà quy phạm pháp luật dự liệu trước, nếu tổ chức, cá nhân không thực hiện theo khuôn mẫu mà quy phạm pháp luật chỉ dẫn thì nhà nước sẽ sử dụng biện pháp cưỡng chế để buộc họ thực hiện theo đúng Các biện pháp cưỡng chế được dự kiến trước trong các quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật được cưỡng chế thực hiện bởi nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các tổ chức xã hội được nhà nước công nhận, bao gồm hệ thống các cơ quan hành pháp nhà nước, các cơ quan tư pháp và các tổ chức xã hội được nhà nước công nhận trao quyền thực hiện cưỡng chế
II Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 2.1 Văn bản quy phạm pháp luật đối với xác lập quan hệ pháp luật
Trong đời sống xã hội phát sinh rất nhiều mối quan hệ khác nhau trong đó
có quan hệ pháp luật Quan hệ pháp luật trong từng lĩnh vực sẽ có quy định điều chỉnh riêng như quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hình sự,…
Quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật khác nhau, những quan hệ xã hội này xác lập, phát triển, tồn tại hay chấm dứt dựa trên quy định của pháp luật, các bên tham gia vào quan hệ đó
Trang 6là những chủ thể có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý phát sinh được pháp luật quy định và Nhà nước sẽ bảo đảm thực hiện
Như đã phân tích ở trên quan hệ pháp luật được điều chỉnh bới các quy phạm pháp luật với những đặc điểm, yếu tố cấu thành riêng Và quan hệ pháp luật là sự thể hình thức pháp lý của quan hệ xã hội, do khoa học pháp lý nghiên cứu
Nếu không có quy phạm pháp luật thì không có quan hệ pháp luật Quy phạm pháp luật dự liệu những tình huống phát sinh quan hệ pháp luật; xác định thành phần chủ thể tham gia quan hệ pháp luật; nội dung những quyền chủ thể
và nghĩa vụ pháp lý
Căn cứ vào cách thức tác động đến chủ thể tham gia: Quan hệ pháp luật được chia thành quan hệ pháp luật điều chỉnh (hình thành trên cơ sở quy phạm pháp luật điều chỉnh) và quan hệ pháp luật bảo vệ (hình thành trên cơ sở quy phạm pháp luật bảo vệ)
Như vậy, quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong đó các bên tham gia có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định và được Nhà nước bảo đảm thực hiện
2.2 Văn bản quy phạm pháp luật đối với Thực hiện pháp luật
Trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tự mình thực hiện những hành vi nhất định nhằm đạt một mục đích nào đó Hành vi của chủ thể có thể là làm những việc pháp luật buộc phải làm, không làm những việc mà pháp luật cấm, làm những việc mà pháp luật cho phép Hành vi thực tế của các chủ thể trong những trường hợp này đã làm cho các quy định của pháp luật được thực hiện trong thực tế, nói cách khác, các chủ thể đã thực hiện pháp luật
Dưới góc độ khoa học pháp lí, chỉ những xử sự phù hợp với những quy định của pháp luật, được tiến hành bởi những chủ thể có đủ khả năng nhận thức được yêu cầu của pháp luật, có khả năng tự mình xác lập, thực hiện hành vi do pháp luật quy định thì mới được coi là biểu hiện thực tế của việc thực hiện pháp luật
Trang 7Hệ thống pháp luật rất đa dạng, bao gồm các loại quy phạm pháp luật cho phép, bắt buộc, ngăn cấm, bởi vậy, cách thức thực hiện chúng cũng khác nhau Chủ thể thực hiện pháp luật cũng rất đa dạng, bao gồm các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền cũng như mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội Từ
đó, khoa học pháp lí xác định có bốn hình thức thực hiện pháp luật đó là: Tuân theo pháp luật; Thi hành pháp luật (chấp hành pháp luật) và Sử dụng pháp luật
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có điều khoản quy định về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên cần phải hiểu, điều luật này chính là sự quy định về việc thực hiện các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật
2.3 Văn bản quy phạm pháp luật đối với truy cứu trách nhiệm pháp lý
Truy cứu trách nhiệm pháp lí là hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước
do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thấm quyền tiến hành nhằm cá biệt hoá bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật
Truy cứu trách nhiệm pháp lí là việc cá biệt hoá bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Khi có vi phạm pháp luật, nhà nước thông qua các chủ thể có thẩm quyền tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật nhằm cá biệt hoá bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật thành trách nhiệm pháp lí cụ thể đối với chủ thể
đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Nói cách khác, đó chính là việc cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Như vậy có thể nói, về nội dung, truy cứu trách nhiệm pháp lí là sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, còn về hình thức thì đó là việc tổ chức cho chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật
Truy cứu trách nhiệm pháp lí là hoạt động đòi hỏi phải sáng tạo Các vụ việc pháp luật xảy ra trong thực tế rất đa dạng và phức tạp, trong khi đó pháp luật thường chỉ dự liệu những tình tiết có tính chất phổ biến, điển hình mà không mô tả tỉ mỉ từng tình tiết của sự việc Do vậy, khi truy cứu trách nhiệm pháp lí, các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền phải thu thập và
xử lí thông tin một cách đầy đủ, chính xác, xem xét một cách toàn diện và kĩ lưỡng nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc, so sánh, đối chiếu với các
Trang 8quy định của pháp luật, lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp để áp dụng sao cho đúng người, đúng tính chất, mức độ vi phạm
2.4 Văn bản quy phạm pháp luật đối với giáo dục pháp luật
Để hoạt động giáo dục pháp luật được tiến hành thuận lợi, có hiệu quả cần xác định nội dung cơ bản, phù hợp với đối tượng giáo dục, loại hình và cấp
độ giáo dục Theo nguyên lí chung thì nội dung và mục đích của giáo dục có quan hệ hữu cơ với nhau, vì vậy giáo dục pháp luật phải nhằm định hướng cả về tri thức, tình cảm và hành vi cho đối tượng giáo dục Nhìn chung, nội dung của giáo dục pháp luật tương đối rộng, mang tính đặc thù riêng cho từng chương trình đào tạo Chẳng hạn, kiến thức lí luận về pháp luật, các quy định pháp luật hiện hành, các thông tin về thực hiện, bảo vệ pháp luật, các số liệu về xã hội học pháp luật, giáo dục mô thức hành vi pháp luật Các nội dung cơ bản này lại được thể hiện phù hợp với kết cấu của mỗi chương trình giảng dạy khác nhau, theo yêu cầu cụ thể khác nhau Hiện nay, nội dung của phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta được xác định gồm:
- Quy định của Hiến pháp và vãn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục,
y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức ; các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành
- Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thoả thuận quốc tế
- Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật
III MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
VÀ Ý NGHĨA CỦA VĂN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VIỆT NAM 3.1 Một số tồn tại trong văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam
Thứ hai, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng "quá tầm" Nhiều vấn đề xã hội chỉ cần các văn bản điều chỉnh của Chính phủ hoặc các văn bản quy định của các bộ là đủ Nhưng nhiều khi những vấn đề đó lại được nâng
Trang 9lên điều chỉnh trong các văn bản pháp luật ở cấp độ cao hơn, khiến cho việc xây dựng bị kéo dài, không đáp ứng kịp thời việc xử lý những vấn đề xã hội đặt ra
Do vậy, nội dung quy định của các văn bản này nhiều khi không sát hợp, thiếu tính thuyết phục Nhiều văn bản tính dự báo và tiên liệu thấp, không đáp ứng yêu cầu phát triển của tình hình
Thứ ba, ngoài việc có nhiều văn bản "quá tầm" còn có hiện tượng nhiều quy định pháp luật còn thiếu hệ thống, thiếu sự tập trung, thống nhất và cụ thể Một quan hệ pháp lý nhưng lại được quy định rải rác trong nhiều văn bản ở nhiều cấp khác nhau (quy định ở cả trong luật, nghị định, thông tư), nên rất khó cho việc nắm vững và áp dụng một cách thống nhất Có thể thấy điều này trong
hệ thống các văn bản điều chỉnh về cán bộ, công chức, về chính quyền đô thị hay về hội; do vậy không thuận lợi cho việc thực thi pháp luật ở cả phía người quản lý lẫn phía người bị quản lý
Thứ tư, trong các văn bản quy phạm pháp luật, những nội dung khó thường bị gác lại hoặc giao cho các văn bản có vị trí pháp lý thấp hơn quy định
Có những văn bản luật được ban hành trong đó có nhiều điều giao cho Chính phủ quy định (Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Pháp lệnh Cựu chiến binh, Luật Thanh niên ) Tình hình này dẫn đến các quy định pháp luật trong các văn bản luật hoặc nghị định rất ngắn, nhưng các văn bản triển khai hướng dẫn lại rất nhiều và vì thế các văn bản pháp luật được xây dựng mất nhiều công sức, thời gian, theo nhiều quy trình, thủ tục mà vẫn khó đi vào đời sống
Thứ năm, tình trạng thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất về nội dung giữa các văn bản pháp luật còn khá nhiều Tình trạng này thể hiện trên hai phương diện Một là, nhiều văn bản công bố sau mâu thuẫn với những quy định của văn bản được ban hành trước đó(1) Hai là, luật ban hành nhưng do chưa có văn bản hướng dẫn thi hành một cách kịp thời nên đã rơi vào tình trạng "nằm chờ"(2) Thực tế đó cộng với việc có nhiều nội dung cần các văn bản dưới luật quy định
đã tạo cho các văn bản triển khai, hướng dẫn có giá trị pháp lý "cao" hơn luật, pháp lệnh Pháp lệnh đã ban hành, nhưng phải chờ nghị định; nghị định ban hành phải chờ thông tư hướng dẫn mới thực hiện được
Trang 103.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, ý nghĩa vận dụng vặn bản quy phạm pháp luật Việt Nam
Bám sát thực tiễn nảy sinh các quan hệ pháp lý hiện thực trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật Để làm được việc này cần phải có những nghiên cứu đánh giá thực tiễn Hiện nay, nhiều bộ, ngành có những đề xuất, sáng kiến luật nhưng nhiều đề xuất, sáng kiến đó còn thiếu căn cứ khoa học, nên dẫn đến tình hình xây dựng các văn bản pháp luật thiếu hiệu quả như đã nêu ở trên Chính vì thế những chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật cần phải được nghiên cứu, được xây dựng từ những căn cứ đánh giá đúng yêu cầu thực
sự của thực tiễn trên các phương diện: sự cần thiết, mức độ điều chỉnh để quyết định
Có quy trình báo cáo đánh giá toàn bộ các quy định có liên quan trước khi xây dựng các văn bản mới Hoạt động này thường không được chú ý đầy đủ
và rất yếu trong thời gian vừa qua Xác định hình thức văn bản phù hợp Tầm quan trọng, tính chất phức tạp của các quan hệ pháp lý đến đâu thì xác định hình thức văn bản pháp lý đến đó, tránh sử dụng các hình thức văn bản "quá tầm"
Kết hợp hài hòa giữa chi tiết và khái quát trong mỗi văn bản Cụ thể để văn bản dễ dàng và nhanh chóng đi vào cuộc sống, nhưng lại tránh quá chi tiết, thiếu sự bao quát dẫn đến những khó khăn khi gặp phải những vấn đề mới nảy sinh, không có trong quy định Hơn nữa, cần nhận thấy một điều là pháp luật cũng có và cần có điểm dừng vì pháp luật không thể phản ánh được hết cuộc sống sinh động Để các quy định của pháp luật có thể đi vào cuộc sống mà không vấp phải những điều nêu trên, trước hết cần nâng cao ý thức trách nhiệm pháp luật của công chức, tinh thần pháp luật của người dân, phải đẩy mạnh hoạt động giải thích luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng thời cần sớm xây dựng cơ quan tài phán hành chính và Tòa án Hiến pháp để phán quyết những tranh chấp kiện tụng trong quá trình thực thi pháp luật
Rà soát lại các văn bản hiện có; hủy bỏ những quy định đã không còn hiệu lực, hoặc không còn phù hợp với thực tiễn; sửa chữa, bổ sung các quy định cho rõ; hạn chế tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản, tạo sự phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội Hạn chế ở mức tối thiểu việc giao các vấn đề khó quy định trong luật cho nghị định hoặc trong nghị định cho các