Ngoài ra, phí bảo hiểm tài sản còn là nguồn vốn chủ yếu của DNBH lợi ích của DNBH trong kinh doanh dịch vụ này gắn liền với nghĩa vụ với bên mua bảo hiểm, nhưng không phải lúc nào các bê
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TRỌNG ĐẠT
THỰC TRẠNG TRANH CHẤP VỀ PHÍ BẢO HIỂM TRONG BẢO HIỂM TÀI SẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
THỰC TRẠNG TRANH CHẤP VỀ PHÍ BẢO HIỂM TRONG BẢO HIỂM TÀI SẢN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Nguyễn Trọng Đạt, là học viên lớp Cao học Luật Khóa 30, chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số học viên: 18300710085
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào, được hoàn thiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Thủy
Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ
và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng …năm 2022
Học viên thực hiện
Nguyễn Trọng Đạt
Trang 4SST Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 BLDS Bộ luật dân sự
1 DNBH Doanh nghiệp bảo hiểm
2 HĐBH Hợp đồng bảo hiểm
3 KDBH Kinh doanh bảo hiểm
4 TAND Tòa án nhân dân
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO HIỂM TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN 15
1.1 Khái quát về phí bảo hiểm bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 15
1.1.1 Khái niệm về phí bảo hiểm và phí bảo hiểm tài sản 15
1.1.2 Đặc điểm của phí bảo hiểm tài sản 17
1.1.3 Cơ sở hình thành nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 21
1.1.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh của pháp luật đối với phí bảo hiểm tài sản 24
1.2 Quy định của pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng tài sản 27
1.2.1 Khái quát chung pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 27
1.2.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về phí bảo hiểm tài sản 31
Kết luận Chương 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ PHÍ BẢO HIỂM TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 38
2.1 Thực tiễn tranh chấp về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm hiểm tài sản 38
2.1.1 Khái niệm tranh chấp và thẩm quyền giải quyết tranh chấp về phí trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 38
2.1.2 Tranh chấp về tránh nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm nộp phí sau thời hạn nộp phí nhưng trước thời điểm sự kiện bảo hiểm xảy ra 41
2.1.3 Tranh chấp về trách nhiệm bảo hiêm của doanh nghiệp bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm nộp phí sau thời hạn thỏa thuận nộp phí và khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra 45
2.1.4 Tranh chấp về việc bên mua bảo hiểm có thỏa thuận nợ phí bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm chưa chấm dứt 49
2.1.5 Thanh toán phí bảo hiểm thông qua ủy nhiệm chi tại ngân hàng và lãi suất do quá thời hạn trả tiền bồi thường và nộp phí bảo hiểm 52
2.2 Thực trạng quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 về thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm và chấm dứt hợp đồng bảo hiểm 56
2.3 Một số giải pháp và kiến nghị về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 58
Trang 6hiểm trong bảo hiểm tài sản 58
2.3.2 Giải pháp định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 59
2.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản 63
Kết luận Chương 2 66
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH) đã hình thành và phát triển tại cách đây hàng trăm năm và đã trở thành một cơ chế quan trọng trong việc hạn chế tác hại của rủi ro Một điều có tính quy luật là kinh tế - xã hội càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân càng nâng cao thì nhu cầu về bảo hiểm càng lớn1 Ngày nay hoạt động bảo hiểm không ngừng phát triển, trở thành ngành dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với nhiều loại hình bảo hiểm đa dạng, phong phú ăn sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trở thành một nhu cầu không thể thiếu của hoạt động thương mại và đời sống thường nhật của con người Nếu phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện có tính chất quyết định mở
và phát triển bảo hiểm thì bảo hiểm cũng có tác dụng kích thích kinh tế - xã hội phát triển2 Lợi ích này của dịch vụ bảo hiểm do phương thức hoạt động kinh doanh của DNBH tạo ra Ngoài ra, dịch vụ bảo hiểm đóng vai trò là công cụ tập trung vốn cho nền kinh tế Điều này thể hiện ở chỗ, do sự chênh lệch giữa thời gian thu phí và chi trả tiền bảo hiểm của DNBH nên tạo ra sự tạm thời nhàn rỗi của vốn, nguồn vốn này có thể khai thác để đầu tư Như vậy, khi nhắc đến KDBH là nhắc đến rủi ro và lợi nhuận; KDBH cũng là kinh doanh rủi ro và mang tính rủi ro; Rủi ro không chỉ xảy ra với DNBH mà còn với người mua BH Bên cạnh đó BH giúp nâng cao khả năng ngăn ngừa rủi ro và hạn chế rủi ro đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
Pháp luật là công cụ thiết yếu để nhà nước thực hiện việc quản lý, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, các quan hệ xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng đòi hỏi pháp luật cũng luôn phải vận động phát triển và dự liệu đáp ứng nhu cầu thực
tế đặt ra Bảo hiểm ở Việt Nam là một trong những lĩnh vực mới so mới thế giới có thể nói là lĩnh vực còn ra đời khá muộn Năm 1964 Công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành lập theo Quyết định 179/CP của Chính phủ ngày 17/12/1964 chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965 từ năm 1965 đến năm 1992 chỉ có duy nhất công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt Bảo Việt) Đánh dấu cho sự hình thành khung pháp lý cho sự phát triển hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam bằng việc ngày 18/12/1993 Chính phủ ban hành Nghị 100/CP về KDBH, Các DNBH ra đời với hình thức tổ chức và sở hữu khác nhau Trải qua trình hình thành và phát triển, bảo hiểm tài sản đã và đang thể hiện những vai trò quan trọn của mình đối với nền kinh tế thể hiển qua số liệu thống kê hoạt
1 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2004), Giáo trình Bảo hiểm, Nxb Thống kê, tr.26
2 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2004), tlđd (1), Nxb Thống kê, tr.27
Trang 8động bảo hiểm trên thị trường3 Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ so sánh với bề dày phát triển của hệ thống pháp luật trên thế giới thì pháp luật về bảo hiểm tài sản ở Việt Nam vẫn còn khá mới Vì vậy, quan hệ xã hội trong lĩnh vực này còn phát sinh nhiều quan
hệ mới mà quy định của pháp luật về lĩnh vực này vẫn còn chưa kịp thời để điều chỉnh Mặt khác, khi mở cửa thị trường chúng ta thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam
là thành viên thì đòi hỏi các quy định của pháp luật cần phải phù hợp với cam kết đó
Bảo hiểm tài sản được hình thành dựa trên nhu cầu bảo vệ quyền lợi tài chính của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản khi có rủi ro xảy ra4 Các bên xác lập quan hệ pháp luật bảo hiểm thông qua hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) HĐBH được các bên thỏa thuận vừa là công cụ thực hiện pháp luật vừa là sản phẩm của thị trường bảo hiểm5 Trong mối quan hệ này, phí bảo hiểm tài sản là “sợi dây” kết nối giữa DNBH và bên mua bảo hiểm, “Phí bảo hiểm là giá cả của sản phẩm bảo hiểm”6 Ngoài
ra, phí bảo hiểm tài sản còn là nguồn vốn chủ yếu của DNBH lợi ích của DNBH trong kinh doanh dịch vụ này gắn liền với nghĩa vụ với bên mua bảo hiểm, nhưng không phải lúc nào các bên cũng đặt vai trò của mình và “đối phương” ngang bằng nhau và không phải lúc nào các bên cũng hiểu đúng tinh thần của pháp luật về phí trong bảo hiểm tài sản Trên thực tế tranh chấp về phí bảo hiểm tài sản ngày càng đa dạng không phải trong trường hợp nào pháp luật cũng quy định cụ thể từng tình huống phát sinh trên thực tế Có thể nói trong lĩnh vực “luật tư” ngoài quy định “định hướng” của pháp luật thì vai trò thiện chí của các chủ thể là vấn đề quan trọng để “giao dịch” có hiệu quả như mong đợi Nhưng lợi ích của các chủ thể hướng tới là khác nhau nên các tranh chấp vẫn diễn ra nhiều và kéo dài làm ảnh hướng tới các lợi ích Nhà nước, bên mua bảo hiểm, bên được bảo hiêm, nền kinh tế và các chủ thể khác Mặt khác, quy định của pháp luật về phí bảo hiểm tài sản vẫn còn tồn tại những hạn chế có những quy phạm có nhiều cách hiểu khác nhau như quy định về thời hạn phát sinh trách nhiệm bảo hiểm, thời hạn đóng phí, gia hạn phí, quy định của pháp luật về phí bảo hiểm nếu đóng phí theo kỳ, mức phí, các chế tài bảo đảm thực hiện, thỏa thuận gia hạn phí… do đó dẫn đến các tranh chấp kéo dài làm ảnh hưởng đến các lợi ích cần được bảo vệ Vì các lý
do trên, tác giả xin chọn đề tài “Thực trạng tranh chấp về phí bảo hiểm trong bảo
hiểm tài sản” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
3
quan-ly-giam-sat-bao-hiem?dDocName=MOFUCM205010; quan-ly-giam-sat-bao-hiem?dDocName=MOFUCM205009
https://mof.gov.vn/webcenter/portal/cqlgsbh/pages_r/l/chi-tiet-tin-cuc-4 Nguyễn Thị Thủy (2017), Pháp luật về bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, Nxb Hồng Đức, tr13
5 Trần vũ Hải (2006), “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ”, Tạp chí Luật học, Số 7,tr.8-13
6 Nguyễn Thị Thủy, Nguyễn Thị Thủy (2007), “Về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và thời điểm phát sinh trách
nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 5(42) tr.28-32
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong thực tiễn nghiên cứu khoa học pháp lý, phí bảo hiểm tài sản là vấn đề tương đối mới, nhất là việc nghiên cứu từ góc độ thực trạng tranh chấp Trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan ít nhiều đến đề tài này Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
- Sách chuyên khảo “Pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam” do Nhà xuất bản
Hồng Đức phát hành năm 2017 của TS Nguyễn Thị Thủy Đây là công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, toàn diện từng vấn đề pháp lý về về bảo hiểm tài tài sản Nghiên cứu đã đề cập đến những thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật bảo hiểm tài sản trong đó có một phần về phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản Dựa trên việc đánh giá các mặt tích cực và hạn chế của thực trạng thông qua việc phân tích các bản
án cũng như các số liệu thực tế, nghiên cứu đã đưa ra được các định hướng xây dựng
và hoàn thiện pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam
- Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm tài sản ở Việt Nam” của tác
giả Trần Phước Thu thực hiện năm 2014 tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận về HĐBH tài sản, như khái niệm, đặc điểm của HĐBH tài sản, phân biệt HĐBH tài sản với các loại HĐBH khác, khái quát lịch sử của HĐBH tài sản, vai trò, ý nghĩa của HĐBH tài sản Luận văn cũng làm rõ những vấn
đề pháp lý chủ yếu của HĐBH tài sản, như chủ thể, điều kiện của hiệu lực của HĐBH tài sản, hình thức của HĐBH tài sản, quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐBH tài sản, pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐBH tài sản Luận văn cũng làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về HĐBH tài sản với những chế định cơ bản như giao kết HĐBH tài sản, chuyển nhượng HĐBH tài sản, giải quyết bồi thường thiệt hại trong HĐBH tài sản,
HĐBH trùng và giải quyết tranh chấp từ HĐBH tài sản Từ những nghiên cứu này, luận văn đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về HĐBH tài sản Nội dung về phí trong bảo hiểm tài sản chỉ được lồng ghép trong một số nội dung mà chưa có một nội dung độc lập trong công trình nghiên cứu này
- Luận văn thạc sĩ, “Pháp luật bảo hiểm tài sản - Thực trạng áp dụng và hướng
hoàn thiện”, thực hiện năm 2006 tại trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh của
tác giả Lý Minh Triết Công trình này nghiên cứu chung về bảo hiểm tài sản trong một
số phần có đề cập đến vấn đề vể phí bảo hiểm tài sản tác giả đã chỉ ra một số hạn chế trong quy định về phí bảo hiểm tài sản nhưng chưa đề cập sâu đến các tranh chấp Luận văn này được thực hiện vào năm 2006 Tuy nhiên, trên thực tế giai đoạn 2006 đến
2015 rất nhiều tranh chấp về phí bảo hiểm diễn ra trên thực tế, đến năm 2010, 2019 khi
Trang 10sửa đổi bổ sung Luật KDBH 2000 và Luật KDBH năm 2022 thì một số hạn chế vẫn còn tồn tại
- Bài viết “Về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và thời điểm phát sinh trách nhiệm
bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm” của tác giả Nguyễn Thị Thủy, đăng tải trên Tạp
chí Khoa học pháp lý số 5(42) năm 2007 Bài viết nghiên cứu cở sở lý luận của quy định về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm Tác giả đánh giá sâu vai trò của hai phương diện kinh tế và pháp lý là cơ sở để hình thành nên quy định về trách nhiệm đóng phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm cùng với đó, nghiên cứu giữa đơn bảo hiểm, thời điểm giao kết HĐBH, giấy chứng nhận bảo hiểm trong mối quan hệ làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm trên cơ sở Luật KDBH năm 2000 và đề xuất kiến nghị hoàn thiện
Luận án tiến sĩ Kinh tế “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phí bảo hiểm
của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam” của tác giả Trần Hùng Dũng thực
hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2009
Sách tham khảo “Pháp luật kinh doanh bảo hiểm”, tác giả Bùi Thị Hằng Nga,
Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, năm 2015 Thông qua các nội dung được trình bày cụ thể, rõ ràng và hợp lý, sách đã khái quát được các nội dung của pháp luật hiện hành điều chỉnh đối với hoạt động KDBH; quy định về chủ thể KDBH, HĐBH, quản lý nhà nước đối với hoạt động KDBH
- Sách tham khảo “Pháp luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam” của các tác giả
Bùi Thị Hằng Nga và Bạch Thị Nhã Nam, Xuẩt bản Đại học Quốc gia TP HCM,
2020 Cuốn sách giới thiệu tổng quan về bảo hiểm và hoạt động KDBH, trình bày và phân tích các nguyên tắc pháp lý và quy định pháp luật điều chỉnh, quản lý hoạt động KDBH và chế độ pháp lý đối với HĐBH cũng như một số HĐBH thông dụng
- Bài viết “Chế định chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn trong pháp luật bảo hiểm tài
sản” của các tác giả Nguyễn Thị Thủy, Đỗ Lệnh Quân” Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
số 15 (439), tháng 8/2021, tr.14-20 Bài viết phân tích làm rõ cơ sở hình thành chế định chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản; phân tích làm rõ các yếu tố làm phát sinh việc chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản, như: có HĐBH, có sự kiện bảo hiểm xảy ra, nguyên nhân dẫn đến tổn thất là do hành
vi có lỗi của người thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm và phải nằm trong phạm vi bảo hiểm, có thiệt hại thực tế xảy ra và có lỗi, doanh nghiệp KDBH phải hoàn thành trách nhiệm bồi thường trước cho bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên thứ
ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm Bài viết cũng phân tích làm rõ các quy định
Trang 11của pháp luật về chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
- Bài viết “Mối quan hệ pháp lí giữa quyền lợi được bảo hiểm và hiệu lực của
hợp đồng bảo hiểm tài sản” của tác giả Nguyễn Thị Thủy đăng trên Tạp chí Luật học,
số 10/2016, tr 52 - 61 Bài viết làm rõ quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản, thời điểm cần có quyền lợi đối với tài sản bảo hiểm, hiệu lực pháp lí của HĐBH tài sản khi bên mua bảo hiểm không có hoặc không còn quyền lợi được bảo hiểm, từ
đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này, gồm kiến nghí Luật KDBH cần đưa ra khái niệm về “quyền lợi được bảo hiểm” đối với bảo hiểm tài sản, pháp luật cần quy định rõ quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản và bảo hiểm con người, Luật KDBH không nên quy định quyền tài sản là quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản, phần HĐBH tài sản của Luật KDBH nên có điều khoản quy định về việc bắt buộc bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi được bảo hiểm đối với tài sản khi tham gia quan hệ bảo hiểm tài sản, pháp luật KDBH cần có điều luật quy định cụ thể bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi được bảo hiểm từ thời điểm nào
- Khóa luận tốt nghiệp “Quy định pháp luật về phí bảo hiểm tài sản – Thực
trạng và giải pháp” thực hiện tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh năm 2013
của tác giả Trần Tôn Châu Giang Tác giả đã nghiên cứu khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam về phí bảo hiểm tài sản và đi sâu nghiên cứu vấn đề này về mặt thực trạng công trình này đề cập dưới góc độ cạnh tranh giữa các DNBH trên thị trường bảo hiểm Tuy nhiên, nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích luật để đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật nên kết luận mang tính khả thi chưa cao
Ngoài ra, còn một số công trình trong nghiên có đề cập đến phí bảo hiểm tài sản như:
- Khóa luận tốt nghiệp “Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh
nghiệp bảo hiểm”, tác giả Ngô Thị Hiền, thực hiện tại Trường Đại học Luật TP Hồ
Chí Minh năm 2010;
- Khoa luận tốt nghiệp “Sự kiện bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản”, tác giả Vũ
Thị Thu Huệ, thực hiện tại Trường Đại học Luật , Thành phố Hồ Chí Minh, 2015
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
- Sách chuyên khảo “Handbook of Insurance" (tạm dịch: Cẩm nang về bảo
hiểm), xuất bản lần thứ 2 do tác giả Georges Dionne biên tập, Nxb Springer 2013
Trang 12Cuốn sách hơn 1000 trang với 37 chuyên để của các tác giả có liên quan đến bảo hiểm, trong đó có những nội dung rất thiết thực như Học thuyết về nhu cầu bảo hiểm (The Theory of Insurance Demand) của Harris Schlesinger từ trang 167 đến trang 184; Học thuyết về rủi ro (The Theory of Risk Classification) của Keith J Crocker và Arthur Snow, từ trang 281 đến trang 313; Phân tích kinh tế về gian lận bảo hiểm (Economic Analysis of Insurance Fraud) của Pierre Picard, từ trang 349 đến trang 395; Thông tin bất cân xứng trong thị trường bảo hiểm (Asymmetric Information in Insurance Markets: Predictions and Tests) của Pierre-André Chiappori và Bernard Salanié, từ trang 397 đến trang 422; Yêu cầu đối với bảo hiểm doanh nghiệp: Sáng tạo giá trị (On the Demand for Corporate Insurance: Creating Value) của Richard MacMinn và James Garven, từ trang 487 đến trang 516 Cuốn sách trở thành cẩm nang, là nguồn tham khảo rất có giá trị cho các giáo sư, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, nhà quản lý, nhà
tư vấn và người thực hành liên quan đến các vấn đề về bảo hiểm Cuốn sách được thiết
kế bắt đầu với lịch sử và cơ sở của lý thuyết rủi ro và bảo hiểm, tiếp theo là tổng quan
về phòng ngừa, thông tin bất cân xứng, quản lý rủi ro, định giá bảo hiểm, đổi mới tài chính, tái bảo hiểm, quản trị doanh nghiệp, phân bổ vốn, chứng khoán hóa, rủi ro hệ thống, quy định bảo hiểm, tổ chức công nghiệp của thị trường bảo hiểm và các ứng dụng thị trường bảo hiểm khác và kết thúc là kiến thức về bảo hiểm sức khỏe, rủi ro tuổi thọ, bảo hiểm chăm sóc dài hạn, các sản phẩm tài chính bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm xã hội
- Bài viết “Price, information and product quality: Explaining index insurance
demand in Burkina Faso” (tạm dịch: Giải thích nhu cầu bảo hiểm theo các chỉ số : Giá
cả, thông tin và chất lượng sản phẩm ở Burkina Faso) của các tác giả Quentin Stoeffler
và Gülce Opuz, đăng trên Tạp chí Food Policy số 108 (2022) 102213, tr.1-21
Công trình nghiên cứu về nhu cầu bảo hiểm dựa trên các chỉ số để xác định yếu
tố quyết định đến nhu cầu mua bảo hiểm của những người nông dân ở khu vực Burkina Faso Các nhà nghiên cứu đã cung cấp HĐBH đến 40 nhóm nông dân trồng bông trong giai đoạn thí điểm năm 2014-2015, sau đó nhân rộng ra toàn quốc khoảng 7.000 nhóm vào năm 2018 Nhóm nghiên cứu đã khai thác các mô hình để đo lường và
so sánh ảnh hưởng của giá cả, thông tin và chất lượng sản phẩm đối với nhu cầu bảo hiểm của những người nông dân trồng bông ở Burkina Faso, một loại cây trồng có giá trị thương mại cao, nhưng lại có nhiều rủi ro hơn các loại cây lương thực truyền thống Kết quả nghiên cứu cho thấy, giá cả có ảnh hưởng quan trọng đến nhu cầu, trong khi thông tin cũng đóng một vai trò rất quan trọng Tuy nhiên, sự khác biệt về chất lượng sản phẩm giữa các nhóm nông dân không ảnh hưởng đến nhu cầu mua bảo hiểm Quá
Trang 13trình mở rộng quy mô nghiên cứu chỉ ra nhu cầu mua bảo hiểm thấp hơn nhiều so với giai đoạn thí điểm Điều này cho thấy nỗ lực thực hiện trong quá trình thí điểm cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy người nông dân tham gia bảo hiểm Những phát hiện này cho thấy rằng các sản phẩm bảo hiểm theo chỉ số chất lượng cao
có thể hấp dẫn đối với nông dân, nhưng giá cả cùng với các yếu tố khác, vẫn là những rào cản lớn đối với việc thúc đẩy họ tham gia các HĐBH Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng nông dân quy mô nhỏ không hiểu đầy đủ về các công cụ tài chính phức tạp được cung cấp cho họ về mặt thương mại, với những chính sách để thúc đẩy khả năng phục hồi sản xuất
- Bài viết “The evolution of cyber-insurance industry and market: An
institutional analysis The cyber-insurance (CI) market is at a nascent stage” của Nir
Kshetri (Tạm dịch: Sự phát triển của thị trường và ngành công nghiệp bảo hiểm điện tử: Phân tích thể chế thị trường bảo hiểm điện tử (CI) ở giai đoạn sơ khai) của Nir Kshetri, đăng trên Tạp chí Telecommunications Policy, số 44 (2020) 102007, trang 1-
14 Bài viết nghiên cứu làm rõ bản chất, nguồn gốc và tác động của các thể chế liên quan đến thị trường bảo hiểm điện tử; giải thích về mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các trụ cột thể chế có liên quan đến thị trường bảo hiểm điện tử; chỉ rõ các yếu tố có ảnh hưởng đến cung cầu thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường đầy tiềm năng này Tuy nhiên, một thực tế là hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của thị trường này Một nghiên cứu chỉ ra rằng trong năm 2017, chỉ có hơn 75% doanh nghiệp lớn có sản phẩm bảo hiểm điện tử ở một số danh mục bảo hiểm, ít hơn 5% so với doanh nghiệp nhỏ và vừa Một khảo sát các doanh nghiệp ở Vương quốc Anh đầu năm 2020 cho thấy chỉ có 32% số doanh nghiệp có sản phẩm bảo hiểm điện
tử Tương tự như vậy, ở Hoa Kỳ năm 2020 chỉ có khoảng gần 20% doanh nghiệp nhỏ
có sản phẩm bảo hiểm điện tử Mấu chốt của vấn đề này là sự thiếu quy định của pháp luật và rủi ro trong bảo hiểm điện tử là rất lớn Ví dụ, vào tháng 6 năm 2017, công ty thực phẩm quốc tế Mondelez International đã trở thành nạn nhân của cuộc tấn công mạng NotPetya, một loại ransomware mã hóa lần đầu tiên được tìm thấy vào năm
2016 Cuộc tấn công đã ảnh hưởng đến 1700 máy chủ và 24.000 máy tính xách tay của Mondelez, làm các máy tính này bị hỏng và không khôi phục được Mondelez cho rằng mất mát do tài sản bị thiệt hại, do gián đoạn trong việc cung cấp và phân phối thương mại và không có khả năng đáp ứng các đơn đặt hàng của khách hàng, từ đó giảm tỷ suất lợi nhuận và các tổn thất khác đã vượt quá 100 triệu đô la Mỹ Mondelez
đã đệ đơn khiếu nại với công ty bảo hiểm của mình là Zurich American Insurance yêu
Trang 14cầu bồi thường những thiệt hại này Kể từ tháng 3 năm 2020, vụ kiện vẫn đang tiếp tiếp tục được giải quyết
- Bài viết “Pricing and return strategy of online retailers based on return
insurance” (Tạm dịch: Chiến lược định giá và hoàn trả đối với các nhà bán lẻ trực
tuyến dựa trên bảo hiểm hoàn trả), đăng trên Tạp chí Journal of Retailing and Consumer Services số Volume 59, March 2021, 102350 của các tác giả Minglun Rena, Jiqiong Liuabc, Shuai Fengabc và Aifeng Yanga
Nội dung bài viết đề cập đến sự phát triển của thương mại điện tử, dẫn đến việc mua sắm trực tuyến ngày càng trở nên phổ biến và trong bối cảnh đó, người tiêu dùng không thể tránh khỏi vấn đề đổi, trả lại hàng hóa Theo các danh mục sản phẩm khác nhau, tỷ lệ hoàn trả trung bình khi mua hàng trực tuyến là khoảng 15–40%, cao gấp 3-
4 lần tỷ lệ hoàn trả 5–10% của các cửa hàng thực Tỷ lệ hoàn trả đối với quần áo và giày dép mua trực tuyến thường là 30–40% Chính sách hoàn trả ngày càng phổ biến với người tiêu dùng vì họ có thể trả lại các sản phẩm không đạt yêu cầu và được hoàn lại toàn bộ tiền Tuy nhiên, việc xử lý trả lại của khách hàng là rất tốn kém đối với các nhà bán lẻ trực tuyến Tổn thất từ doanh thu trực tuyến ở Hoa Kỳ vào năm 2019 ước tính chiếm 9,6% tổng doanh số bán lẻ trực tuyến, khiến các nhà bán lẻ trực tuyến mất
41 tỷ đô la doanh thu Tuy nhiên, chiến lược dịch vụ hoàn trả lại mang đến sự hài lòng của người tiêu dùng và thúc đẩy doanh số bán hàng, một số nhà bán lẻ trực tuyến không muốn áp dụng chiến lược này, do các vấn đề ngày càng tăng với việc trả hàng của khách hàng Tobin Moore, Giám đốc điều hành của Optoro chỉ ra rằng trong vài năm tới, với sự phát triển của thương mại điện tử toàn cầu, số tiền thu về sẽ hơn một nghìn tỷ đô la mỗi năm Chi phí trả lại sản phẩm cũng liên quan đến chi phí ẩn của quá trình trả hàng, không chỉ bao gồm chi phí đóng gói lại, xử lý tân trang và giải phóng hàng tồn kho mà còn cả chi phí hậu cần ngược lại
Để giải quyết mâu thuẫn này, vào ngày 9 tháng 11 năm 2010, Tập đoàn Bảo hiểm Huatai của Trung Quốc, kết hợp với nền tảng Taobao, đã tung ra sản phẩm bảo hiểm Internet thực sự đầu tiên ở Trung Quốc là “Bảo hiểm tổn thất hàng hóa hoàn trả trong mua sắm trực tuyến” (gọi tắt là “bảo hiểm hoàn trả”) Bảo hiểm hoàn trả là một loại bảo hiểm trực tuyến được kết hợp hoàn toàn với mua sắm trực tuyến, có thể giúp các nhà bán lẻ trực tuyến cung cấp các chính sách hoàn trả thoải mái hơn và giúp người tiêu dùng giảm tổn thất khi trả lại hàng Bảo hiểm hoàn trả do Tập đoàn Bảo hiểm Huatai và nền tảng Taobao đồng khởi chạy bao gồm phiên bản của người bán và phiên bản của người mua Theo bảo hiểm hoàn trả của người bán, nhà bán lẻ trực tuyến cung cấp dịch vụ trả hàng với bảo hiểm hoàn trả miễn phí cho người tiêu dùng
Trang 15và người tiêu dùng được bồi thường cho khoản phí vận chuyển ngược lại do công ty bảo hiểm thanh toán sau khi trả hàng, điều này có thể làm tăng khả năng mua hàng của người tiêu dùng Người tiêu dùng cũng có thể mua bảo hiểm hoàn trả của người mua khi nhà bán lẻ trực tuyến cung cấp dịch vụ hoàn trả nhưng không cung cấp bảo hiểm trả lại miễn phí Trong trường hợp này, chỉ có thể nhận được khoản bồi thường vận chuyển ngược lại do công ty bảo hiểm chi trả sau khi người tiêu dùng mua bảo hiểm hoàn trả của người mua
Bài viết tập trung làm rõ bốn nội dung sau:
+ Khi nào các nhà bán lẻ trực tuyến nên chọn cung cấp dịch vụ hoàn trả hàng và loại chiến lược hoàn trả hàng nào có thể làm tăng thị phần và lợi nhuận của các nhà bán lẻ trực tuyến?
+ Lợi nhuận của người tiêu dùng, phí bảo hiểm hoàn trả và bồi thường vận chuyển hàng hóa hoàn trả ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của các nhà bán lẻ trực tuyến và thặng dư của người tiêu dung?
+ Các nhà bán lẻ trực tuyến có nên cung cấp cho người tiêu dùng bảo hiểm hoàn trả hàng miễn phí không? Nếu không, người tiêu dùng có nên tự mua bảo hiểm hoàn trả không? Có sự khác biệt đối với người mua bảo hiểm hoàn trả với người không mua?
+ Hiệu quả hoạt động của nhà cung cấp bảo hiểm có liên quan đến chủ hợp đồng là ai không?
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khi giá trị còn lại của một sản phẩm bị trả lại là dương, nhà bán lẻ trực tuyến nên cung cấp chính sách hoàn trả và nhà bán lẻ trực tuyến nên cố gắng cải thiện giá trị còn lại của sản phẩm bị hoàn trả trong kênh trực tuyến bằng cách giảm lỗ từ việc xử lý hàng trả lại của người tiêu dùng, vì việc cải thiện giá trị còn lại của sản phẩm bị trả lại và làm cho giá trị đó trở nên tích cực có thể giúp các nhà bán lẻ trực tuyến hưởng lợi từ việc thực hiện chiến lược hoàn trả hàng hóa
- Bài viết “Connected automated vehicles and insurance: Analysing future
market-structure from a business ecosystem perspective” (Tạm dịch: Phương tiện giao
thông kết nối tự động với bảo hiểm), đăng trên Tạp chí Technology in Society, Volume 59, November 2019, 101182 của các tác giả Fabian Pützab, Finbarr Murphya, Martin Mullinsa và Lisa O'Malley
Trang 16Việc đẩy mạnh tự động hóa và kết nối phương tiện giao thông sẽ vừa tăng cường an toàn giao thông vừa tạo ra các lợi ích xã hội và cá nhân khác như cải thiện dịch vụ di chuyển cho người khuyết tật hoặc tăng sự thoải mái cho mọi người khi đi lại Sự kết nối tự động của các phương tiện giao thông giúp chúng có thể giao tiếp với nhau và với cơ sở hạ tầng để cung cấp thông tin về vị trí, tốc độ, v.v Điều này đã tác động sâu sắc đến các mô hình kinh doanh hiện tại và dòng doanh thu trong lĩnh vực ô
tô và vận tải Vì thứ nhất, điều này là do sự thay đổi xã hội về việc đi lại, chuyển từ mô hình di chuyển dựa trên sở hữu sang sử dụng dịch vụ dựa trên các ưu đãi di chuyển chung Thứ hai, cơ hội tạo ra các nền tảng hệ sinh thái kinh doanh kỹ thuật số xung quanh sản phẩm cốt lõi vật lý là phương tiện ô tô nảy sinh từ sự kết nối với nhau của các phương tiện hiện đại
Những thay đổi này có ý nghĩa sâu rộng đối với lĩnh vực ô tô và vận tải nhưng các thị trường mạnh mẽ Trên thực tế, lĩnh vực bảo hiểm là một trong những bên liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của việc kết nối tự động của các phương tiện giao thông Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến lý luận và thực tiễn về việc kết nối tự động của các phương tiện giao thông và bảo hiểm chủ yếu tập trung vào tác động tiềm tàng của công nghệ kết nối tự động của các phương tiện giao thông đối và trách nhiệm pháp lý do tai nạn cũng như tác động của rủi ro tai nạn vốn có của việc kết nối tự động của các phương tiện giao thông đối với doanh số phí bảo hiểm chung của thị trường bảo hiểm phương tiện giao thông Việc nghiên cứu các tác động đến mô hình KDBH hiện tại và tương lai chưa được chú trọng Các phân tích về các khía cạnh liên quan đến bảo hiểm của hệ sinh thái kết nối tự động của các phương tiện giao thông mới chỉ được giải quyết một phần liên quan đến thực tiễn Bài nghiên cứu tập trung làm rõ chiến lược quan trọng đối với các công ty bảo hiểm xe máy, liên quan đến các nền tảng hệ sinh thái kinh doanh cũng như phân tích làm rõ tác động của việc kết nối tự động của các phương tiện giao thông đến môi trường cạnh tranh trong tương lai của thị trường bảo hiểm xe máy
2.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy, phần lớn các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài mới chỉ đi sâu nghiên cứu về
lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hiểm tài sản nói chung và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tài sản và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo hiểm tài sản Những kết quả nghiên cứu này sẽ được tác giả luận văn kế thừa có chọn lọc trong công trình nghiên cứu của mình
Trang 17Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về tranh chấp
và giải quyết tranh chấp về phí bảo hiểm tài sản Vì vậy hướng nghiên cứu của luận văn về thực trạng tranh chấp về phí trong bảo hiểm tài sản là một vấn đề hoàn toàn mới và không trùng lắp với bất kỳ công trình nào trong nước và nước ngoài Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu các nội dung chính sau đây:
- Một là, làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến phí bảo hiểm tài sản;
- Hai là, phân tích làm rõ thực trạng quy định của pháp luật về phí bảo hiểm tài
sản và pháp luật giải quyết tranh chấp về phí bảo hiểm tài sản;
- Ba là, làm rõ thực trạng tranh chấp về phí bảo hiểm tài sản và thực tiễn giải
quyết tranh chấp về phí bảo hiểm tài sản tại tòa án trong giai đoạn 2005-2022, chỉ ra những hạn chế trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về phí bảo hiểm tài sản và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đưa ra giải pháp hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về phí trong bảo hiểm tài sản
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc làm rõ những vấn đề lý luận về phí BH trong BHTS, phân tích làm rõ các hạn chế trong các quy định pháp luật về phí BH trong BHTS và hạn chế trong giải quyết tranh chấp về phí BH trong BHTS, luận văn có mục đích đưa ra một
số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về phí bảo hiểm tài sản
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn cần giải quyết ba nhiệm vụ chính sau đây:
- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về phí và pháp luật về phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản;
- Phân tích làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp về phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản;
- Đưa ra giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phí bảo hiểm tài sản và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về phí bảo hiểm tài sản
Trang 184 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về phí bảo hiểm tài sản; các quy định của pháp luật về phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản trên cơ sở Luật KDBH số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KDBH, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011; Luật số 42/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KDBH, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019 Luật KDBH số 08/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm
2022, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 1 năm 2022; Bô Luật dân sự Luật số 91/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2017; Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật KDBH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KDBH, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, được sửa đổi, bổ sung bởi: Nghị định số 151/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính, có hiệu lực kể từ ngày 07 tháng 11 năm 2018 Nghị định số 80/2019/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật KDBH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KDBH; Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH, kinh doanh xổ số đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 48/2018/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm
2018 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019; cũng như các văn bản pháp luật có liên quan đến phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản; Đối tượng nghiên cứu của luận văn cũng bao gồm thực tiễn giải quyết các tranh chấp về HĐBH tài sản tại các Tòa án Nhân dân (TAND) các cấp tại Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật
Việt Nam về phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản
- Phạm vi về thời gian: Tác giả nghiên cứu thực trạng pháp luật kể từ thời
điểm Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019) và Luật KDBH năm
2022 và các văn bản pháp luật có liên quan được ban hành cho đến nay; về thực tiễn
Trang 19tác giả nghiên cứu các tranh chấp về phí trong HĐBH tài sản được TAND các cấp giải quyết từ năm 2005 đến năm 2022
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài và đạt được mục đích như mong muốn tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử để giải quyết các vấn
đề khách quan Đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác như: tổng hợp, phân tích, so sánh… và các phương pháp khác
5.1 Phương pháp luận
- Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong quy định về phí bảo hiểm tài sản và trong giải quyết tranh chấp về phí bảo hiểm tài sản, trong đó tôn trọng tối đa nguyên tắc pháp chế XHCH, tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cá nhân, tổ chức đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Để đạt được mục đích đã đề ra, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, bình luận, quy nạp, diễn dịch, so sánh, suy luận logic, phân tích quy phạm pháp luật, nghiên cứu điển hình…
- Các phương pháp nghiên cứu như phân tích, bình luận, quy nạp, diễn dịch, so sánh, suy luận logic, phân tích quy phạm pháp luật được sử dụng trong chương 1 để làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng quy định của pháp luật về phí trong HĐBH tài sản, từ đó chỉ ra những hạn chế trong quy định về phí bảo hiểm tài sản
- Các phương pháp phân tích, bình luận, quy nạp, diễn dịch, suy luận logic, nghiên cứu điển hình được sử dụng trong chương 2 để phân tích làm rõ thực tiễn tranh chấp và giải quyết tranh chấp về phí bảo hiểm tài sản, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong giải quyết tranh chấp về phí bảo hiểm tài sản, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phí bảo hiểm tài sản và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về phí bảo hiểm tài sản
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện những vấn đề lý luận về phí trong HĐBH tài sản, qua đó góp phần nghiên cứu và thống nhất áp dụng quy định của pháp luật về phí trong HĐBH tài sản
Trang 207 Kết cấu của đề tài
Luận văn bao gồm: Mục lục, Lời mở đầu, Phần nội dung, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo Trong đó, Phần nội dung được chia làm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về phí bảo hiểm
trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo
hiểm tài sản và giải pháp hoàn thiện
Trang 21CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ PHÍ BẢO HIỂM TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN
1.1 Khái quát về phí bảo hiểm bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
1.1.1 Khái niệm về phí bảo hiểm và phí bảo hiểm tài sản
Bảo hiểm ra đời là lĩnh vực ra đời từ khá sớm song đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất, bởi lẽ dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau các tác giả lại đưa
ra một khái niệm thể hiệm góc nhìn về bảo hiểm
Dước góc độ pháp lý, giáo sư Hemard đưa ra khái niệm “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bảo hiểm hay đóng góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồi thường từ một bên khác
là người bảo hiểm,người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo Luật Thống Kê7”
Theo Dennis Kenssler.Risque No 17.Jan-Mars 1994 - Mỹ “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít8”
Dưới góc độ kinh tế học, TS Hoàng Văn Châu định nghĩa: “Bảo hiểm là phương pháp chia nhỏ tổn thất của một người hay một số ít người cho nhiều người cùng có khả năng gặp những tổn thất như vậy, bằng cách thu của họ một số tiền nào đấy tuỳ theo mức độ rủi ro (xác suất tổn thất) mà họ có thể gặp để lập ra một quỹ chung và khi có thiên tai hoặc tai nạn bất ngờ thì từ quỹ chung đó bồi thường cho họ những tổn thất mà họ phải chịu Nhờ cách chia nhỏ như vậy, những tổn thất lẽ ra rất nặng nề và nghiêm trọng đối với một người, một số ít người sẽ trở nên ít nghiêm trọng hơn, ít nặng nề hơn, thậm chí không đáng kể đối với cả cộng đồng những người tham gia bảo hiểm9”
Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam định nghĩa: “Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho các thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do những rủi ro đó gây ra10”
Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm “thiệt hại” Theo Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi, bổ sung 2010 và sửa đổi bổ sung 2019) (sửa đổi bổ
7 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2008), “Giáo trình bảo hiểm”, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.10
8 Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM (2008) “Giáo trình nguyên lý bảo hiểm” (7), Nxb Thống kê, tr.21
Trang 22sung 2010,2019) “Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ11”
Luật KDBH năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019 định nghĩa: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm
để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm12”
Để đưa ra đinh nghĩa về bảo hiểm dưới góc độ phù hợp với bản chất, cơ chế kinh tế trong mối quan hệ pháp lý với HĐBH bảo hiệm Theo tác giả, bảo hiểm là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệ của bên bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ nguồn thu phí (ngoài ra còn nguồn khác như vốn, lợi nhuận… của DNBH được trích lập) bảo hiểm của bên mua bảo hiểm Bên bảo hiểm (DNBH) sử dụng quỹ này để chi trả hoặc bồi thường cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo cam kết và theo quy định của pháp luật Như vậy trong định nghĩa đã thể hiện mối quan hệ giữa “quỹ tiền tệ”, “phí bảo hiểm” và “sự kiện bảo hiểm” với trách nhiệm trả tiền hoặc bồi thường bảo hiểm của nhà bảo hiểm
Hiện nay, khái niệm về phí bảo hiểm được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Phí bảo hiểm là một bộ phận cấu thành nên mối quan hệ giữa các bên trong HĐBH mối quan hệ này thể hiện tính chất pháp lý bởi lẽ, “hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và DNBH, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm13”
Dưới góc độ pháp lý tiếp cận về thuật ngữ “phí” thì “phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này14” Theo đó, phí được hiểu là một khoản tiền phải trả của các tổ chức, cá nhân để bù đáp chi phí các hoạt động của các để bù đắp chi phí hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghệp công lập và tổ chức được nhà nước giao thẩm quyền Như vậy, cơ sở để thu phí là một bên cung cấp dịch vụ và một bên sử dụng dịch vụ khoản tiền phải tra là trả cho dịch vụ được bên nhận dịch vụ sử dụng, phí được xem là
11 Khoản 18, Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019
14 Khoản 1, Điều 3 Luật phí và lệ phí năm 2015
Trang 23khoản thu để trang trải cho cơ sở hạ tầng, kỹ thuật cung cấp dịch vụ và bộ máy hoạt động Phí mang tính chất tự nguyện và đối giá
Theo từ điển Oxford phí bảo hiểm được hiểu là: “phí bảo hiểm là một số tiền phải trả cho một hợp đồng bảo hiểm15” Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) định nghĩa phí bảo hiểm là giá cả của dịch vụ bảo hiểm (sản phẩm bảo hiểm), là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả theo hợp đồng để DNBH đảm bảo cho họ trước các rủi ro16
Theo các tác giả của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Phí bảo hiểm (còn được gọi là giá cả của sản phẩm bảo hiểm) là một số tiền mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho công ty bảo hiểm để đổi lấy sự đảm bảo trước các rủi ro chuyển sang cho công ty bảo hiểm17 Thuật ngữ phí bảo hiểm thường được dùng trong các công ty bảo hiểm, trong khi đó các tổ chức hay hội tương hỗ lại sử dụng thuật ngữ “mức đóng góp”
Theo quy định của pháp luật Việt Nam khái niệm phí bảo hiểm được các nhà lập pháp Việt Nam ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự 1995 và Bộ Luật Dân sự 2005 (BLDS) trong Mục Hợp đồng bảo hiểm18 Tuy nhiên, khi ban hành Bộ Luật Dân sự
2015 thì quy định này đã bãi bỏ Hiện nay khái niệm về phí được ghi nhận trong Luật KDBH năm 2000, (sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019) Theo đó, phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho DNBH theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm19
Thực tế hiện nay, đối với phí bảo hiểm tài sản không có định nghĩa nào về phí bảo hiểm tài sản tác giả dựa vào định nghĩa về phí, phí bảo hiểm và bản chất của
HĐBH tài sản xin được đưa ra định nghĩa về phí bảo hiểm tài sản “Phí bảo hiểm tài
sản là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm tài sản phải trả cho Doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức các bên thỏa thuận trong hợp đồng, đây là nguồn thu chủ yếu để Doanh nghiệp bảo hiểm tạo lập quỹ bảo hiểm”
1.1.2 Đặc điểm của phí bảo hiểm tài sản
Phí bảo hiểm thể hiện mối quan hệ tài chính giữa bên cung cấp dịch vụ và bên
sử dụng dịch vụ trong mối quan hệ này quyền lợi ích của mỗi bên được thể hiện bởi được thực hiện bởi bên kia và ngược lại xuất phát từ yêu cầu đó phí bảo hiểm có những đặc điểm sau:
15 “Premium is an amount to be paid for a contract of insurance”
https://vietnambiz.vn/phi-bao-hiem-insurance-premium-la-gi-moi-lien-he-giua-phi-bao-hiem-va-so-tien-bao-hiem-2019082114012604.htm ( cập nhật ngày 23/8/2019)
17 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2008), tlđd (7), Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.123
18 Điều 576 Bộ Luật Dân sự 1995 và Điều 572 Bộ Luật Dân sự 2005
Trang 24Thứ nhất, phí bảo hiểm được cơ cấu gồm hai phần, từ cơ cấu phí xác lập một
khoản tiền cụ thể mà bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ phải thanh toán cho DNBH
Một là, phí thuần thường mang tính tương đối, là khoản phí phải thu cho phép
công ty bảo hiểm đảm bảo chi trả, bồi thường cho các khoản tổn thất được bảo hiểm khi nó xảy ra Khoản phí này thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng phí toàn bộ và được tính toán dựa trên các căn cứ như: (i) Xác suất xảy ra rủi ro (khả năng xảy ra tổn thất phải bồi thường); (ii) Cường độ tổn thất (tính khốc liệt, mức độ trầm trọng của tổn thất); (iii) Số tiền bảo hiểm; (iv) Thời hạn bảo hiểm (Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian DNBH thực hiện trách nhiệm bảo hiểm); (v) Lãi suất đầu tư (thông thường đây là yếu tố chi phối rất nhiều đến phí thuần trong bảo hiểm nhân thọ);
Hai là, phụ phí được biểu hiện rõ thường được xác lập thành con số cho các sản
phẩm cụ thể, là khoản chi phí cần thiết để công ty bảo hiểm đảm bảo cho các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm như chi hoa hồng, chi quản lý hành chính, chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi thuế nhà nước, …
Từ cơ cấu phí như trên công thức tính phí được xác lập như sau:
P = f + d (trong đó P là phí bảo hiểm toàn bộ; f là phí thuần; d là phụ phí)
Tuy nhiên từ thực tế đối với từng nhóm tài sản cụ thể và rủi ro được tính toán, khi tham gia bảo hiểm mà nhà bảo hiểm xác lập công thức tính phí thực tế như sau:
P = STBH x R = STBH x (R1+R2) (trong đó STBH là số tiền bảo hiểm; R tỷ
lệ phí bảo hiểm tài sản; R1 tỷ lệ phí thuần cho nhóm tài sản đó; R2 tỷ lệ phụ phí)
Ví dụ, Một tài sản là đối tượng của HĐBH tài sản có giá trị là 5000.000.000 đồng; tài sản này tham gia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm là 500.000.000 đồng; thời hạn bảo hiểm là 1 năm DNBH tính toán tỷ lệ phí thuần theo sắp suất thông kê là 1%/năm Như vậy, bên mua bảo hiểm phải nộp phí thuần là 1% x 500.000.000đ = 50.000.000đ/năm; (R2) DNBH tính toán với một tỷ lệ % phần so với số tiền bảo hiểm Tổng tỷ lệ phí (R) được hiểu là tỷ lệ % so với số tiền bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm
và DNBH thỏa thuận, cần lưu ý số tiền bảo hiểm không được vượt quá giá trị tài sản tham gia bảo hiểm20, phương pháp tính phí thay đổi linh hoạt với từng nghiệp vụ, sản phẩm cụ thể
Từ cấu trúc về phí bảo hiểm ở trên cho thấy phí bản hiểm về bản chất là nghĩa
vụ của bên mua bảo hiểm đối với DNBH nghĩa vụ này được xác lập trên cơ sở HĐBH Theo Khoản 1, Điều 12 Luật KDBH năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019 HĐBH là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và DNBH, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi
20 Điều 42 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi, bổ sung 2010, 2019
Trang 25thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm21 Nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm của của bên mua bảo hiểm được xác lập và thể hiện mối quan hệ song vụ với nghĩa vụ bồi thường trong HĐBH tài sản của DNBH khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Cần thể hiểu rằng hoạt động KDBH là hoạt động cung ứng dịch vụ của DNBH cho bên mua bảo hiểm Theo Khoản 9, Điều 3 Luật thương mại 2005 Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch
vụ theo thỏa thuận22 Thương mại dich vụ với tư cách là hoạt động thương mại dùng
để chỉ các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ mà thực chất là việc cung ứng các dịch vụ nhằm mục đích tiềm kiếm lợi nhuận23 Cung ứng dịch vụ là việc thực hiện một hoặc một số công việc có tính chất chuyên môn theo yêu cầu của người khác nhằm mục đích hưởng thù lao Trong hoạt động KDBH dịch vụ được cung ứng của DNBH chính là dịch vụ bảo hiểm, đối tượng kinh doanh là rủi ro, chính vì vậy có thể xem, sản phẩm bảo hiểm mà DNBH (bên cung ứng dịch vụ) cung cấp là dịch vụ bảo hiểm với lời cam kết bồi thường để khắc phục lại tình trạng bị thiệt hại về tài sản của bên mua bảo hiểm (nhận cung cung ứng dịch vụ) Phí biểu hiểm được xem là giá cả của dịch vụ Điểm đặc biệt của mối quan hệ giữa bên cung ứng dịch vụ và bên nhận cung ứng dịch vụ này là cho dù bên nhận cung ứng dịch vụ phải trả một khoản tiền để được cung ứng dịch vụ nhưng không muốn sự kiện thỏa thuận xảy ra tức là dù phải trả tiền phí bảo hiểm nhưng không mong muốn sự kiện bảo hiểm xảy ra cho dù khi sự kiệm xảy ra DNBH phải bồi thường một khoản tiền lớn hơn rất nhiều so với số tiền phí
mà bên mua bảo hiểm đã đóng Để đảm bảo chi phí và lợi nhuận của bên cung ứng dịch vụ thì bên sử dụng dịch vụ phải có nghĩa vụ thanh toán tiền sử dụng dịch vụ mà trong mối quan hệ này đó là tiền phí bảo hiểm
Thứ hai, phí bảo hiểm tài sản là nguồn thu chủ yếu để tạo lập quỹ bảo hiểm,
DNBH sử dụng quỹ này để bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Hoạt động KDBH “là hoạt động mang tính chất cộng đồng, theo quy luật lấy số đông bù trừ số ít”, tức là lấy số đông người tham gia bảo hiểm bù trừ cho số ít người không may bị rủi ro gây nên những tổn thất Chính vì vậy, một đặc điểm nổi bật của hoạt động KDBH là hoạt động tạo lập quỹ bảo hiểm, nguồn để tạo lập quỹ này chủ yếu
từ nguồn thu từ phí bảo hiểm Nguồn thu từ phí giúp DNBH trích lập dự phòng cho
21 Khoản 1, Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019
22 Khoản 9, Điều 3 Luật thương mại năm 2005
23 Nguyễn Thị Mơ (2004) “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại”, Nxb Lý
luận chính trị, tr.21
Trang 26các nghiệp vụ để để đảm bảo tài chính cho khản năng thanh toán của doanh nghiệp Đồng thời từ nghiệp vụ dự phòng nhàn rỗi và vốn chủ sở hữu DNBH được phép đầu
tư, theo quy định của pháp luật khoản đầu tư này được giới hạn vào một số lĩnh vực cụ thể để đảm bảo an toàn và thanh khoản cho DNBH trong việc đảm bảo khẳn năng thanh toán24 Đối với nguồn quỹ này, về bản chất là trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm đối với khách hàng nhưng tạm thời chưa sử dụng nên được phép đầu tư25 Quỹ bảo hiểm trước hết và chủ yếu được sử dụng để bù đắp những tổn thất cho người được bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro được bảo hiểm Bên cạnh đó, quỹ bảo hiểm còn được sử dụng để trang trải cho các chi phí để phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm26 Như vậy để đảm bảo cho hoạt đông của mình DNBH bắt buộc phải tạo lập nên quỹ bảo hiểm
Từ phí bảo hiểm là nguồn thu chủ yếu để tạo lập quỹ, và DNBH sử dụng bảo hiểm sử dụng quỹ này để bồi thường theo HĐBH tài sản Vấn đề này cho thấy phí bảo hiểm là cơ sở xác lập nên trách nhiệm của trách nhiệm của DNBH Theo quy định của Luật KDBH, trách nhiệm bảo hiểm của DNBH bắt đầu kể từ khi HĐBH đã được giao kết hoặc có bằng chứng về việc HĐBH đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng
đủ phí bảo hiểm (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc nợ phí bảo hiểm)27 Thông thường , khi ký kết HĐBH phải có chữ ký của hai bên: bên đóng phí bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) và DNBH (bên bảo hiểm) Tuy nhiên , phổ biến là trường hợp nhân viên của DNBH đến tư vấn cho khách hàng mua bảo hiểm và người mua bảo hiểm chấp thuận ký vào HĐBH (trước khi đại diện của doanh nghiệp ký vào HĐBH), nhân viên bảo hiểm thu phí bảo hiểm cho thời hạn đóng phí bảo hiểm đầu tiên của HĐBH, nhân viên bảo hiểm trao cho bên mua bảo hiểm biên lai thu tiền bảo hiểm (theo mẫu đã được đăng ký của DNBH), sau đó, nhân viên của DNBH sẽ chuyển
24 Từ Điều 53 đến Điều 62, Mục 2 và 3, Chương IV, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, được sửa đổi, bổ sung bởi: Nghị định số 151/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính, có hiệu lực kể từ ngày 07 tháng
11 năm 2018, Nghị định số 80/2019/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm; Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 48/2018/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 11 năm
2019
tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường đại học luật Hà Nội, tr.88
Trang 27HĐBH cho người đại diện của DNBH ký vào bản hợp đồng, rồi mới trao lại hợp đồng
và hóa đơn thu phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm Việc bên mua bảo hiểm vừa chấp nhận HĐBH đã thu phí bảo hiểm là DNBH phải có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra ngay sau khi thu tiền bảo hiểm đầu tiên Vì vậy , khi ký kết HĐBH mà chưa có chữ ký của người đại diện của DNBH, bên mua bảo hiểm cần lưu ý thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm phải được ghi cụ thể trong biên lại thu tiền bảo hiểm, để gắn chặt nghĩa vụ của DNBH, có cơ sở để bảo vệ quyền lợi của bên mua bảo hiểm ngay từ thời điểm bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm28 Thời hạn bồi thường thông thường được các bên thỏa thuận trong HĐBH nếu các bên không thỏa thuận thì thời hạn trên được áp dụng Luật KDBH 29 Như vậy để được bồi thường thì bên mua bảo hiểm phải đóng phí đầy đủ hoặc có cơ sở về việc nợ một phần hoặc toàn bộ phí bảo hiểm và được DNBH chấp thuận
Thứ ba, việc nợ phí, gia hạn đóng phí bảo hiểm tài sản của bên mua bảo hiểm là
nghĩa vụ phải thanh toán cho DNBH trong HĐBH tài sản
Theo Luật KDBH năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010,2019 thì bên mua bảo hiểm được nợ phí bảo hiểm hoặc gia hạn thời gian đóng phí Tuy nhiên, nếu vi phạm
về thời hạn này có thể là một cơ sở để DNBH chấm dứt HĐBH, việc chấm dứt HĐBH việc chấm dứt HĐBH không là mất đi nghĩa vụ với khoản phí phải trả trong thời gian
nợ phí hoặc gia hạn nợ phí, quy định này không áp dụng cho bảo hiểm con người Mặt khác, nếu trong khoảng thời hạn này có sự kiện bảo hiểm xảy ra theo thỏa thuận thì DNBH vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường30 Như vậy, việc đóng phí bảo hiểm, hoặc có cơ sở thỏa thuận nợ phí, gia hạn đóng phí là cơ sở để làm phát sinh trách nhiệm của DNBH nhưng cũng là nghĩa vụ phải thanh toán của bên mua bảo hiểm, Nếu không thanh toán DNBH có quyền khởi kiện bên mua bảo hiểm yêu cầu đóng phí cho thời gian nợ hoặc gia hạn đóng phí bảo hiểm, không áp dụng quy định này đối với bảo hiểm con người31
1.1.3 Cơ sở hình thành nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Để gánh chịu gánh chịu tổn thất thay cho bên mua bảo hiểm , DNBH phải có khả năng tài chính đủ mạnh để chi trả cho bên mua bảo hiểm theo cam kết Trên thực
tế, khả năng tài chính này không thể tự bản thân DNBH có mà được dựa trên cơ sở đóng góp mang tính cộng đồng của những người tham gia bảo hiểm Bởi vì, sẽ là vô
28 Bộ Tư Pháp (2009), Bình luận khoa học Bộ Luật Dân sự năm 2005, Nxb Chính trị Quốc gia, tr 626
29 Điều 29 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung 2010,2019
30 Điều 23 và Điều 24 29 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung 2010,2019
31 Điều 36 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung 2010,2019
Trang 28lý, khi một thủ kinh doanh phải gánh chịu tổn thất cho người khác bằng chính khoản tiền thuộc sở hữu của mình Chính vì lẽ đó, khi yêu cầu DNBH cung cấp bảo hiểm bên mua bảo hiểm phải trả một khoản phí nhất định để doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng khoản tiền này duy trình được hoạt động kinh doanh của mình32
Cơ sở để hình thành nên nghĩa vụ đóng phí của bên mua bảo hiểm đối với DNBH dựa vào hai lý do sau:
Thứ nhất, xét về phương diện kinh tế, để thực hiện được hoạt động KDBH thì
DNBH phải bỏ ra những chi phí nhất định Các chi phí này thường được sử dụng để chi trả tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo các thỏa thuận trong HĐBH tài sản và chi phí được sử dụng để “thanh toán” cho việc duy trì hoạt động kinh doanh của DNBH Để tạo lập được nguồn quỹ để chi trả cho các chi phí này, đồng thời bổ sung nguồn vốn để DNBH thực hiện các hoạt động đầu tư với hai mục đích: một là, làm gia tăng lợi nhuận cho DNBH; và hai là, tăng cường khả năng chi trả và gia tăng lợi ích cho người tham gia bảo hiểm33 Do đó, khi tiến hành giao kết HĐBH tài sản DNBH có quyền thỏa thuận với khách hàng về mức phí bảo hiểm tương ứng với giá trị tài sản; và các vấn đề pháp lý phát sinh nếu bên mua vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm (không đóng hoặc đóng không đủ) như lãi chậm trả Đồng thời, khi tiến hành thực hiện hợp đồng, DNBH có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm phải hoàn thành nghĩa vụ đóng phí theo thỏa thuận hợp đồng, có quyền áp dụng các biện pháp xử lý (chế tài) nếu bên mua không thực hiện đúng hợp đồng Về nguyên tắc, phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản phải đủ để:
Một là, DNBH thực hiện cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm Một trong những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm tài sản là bồi thường Bồi thường bảo hiểm là vấn đề trọng tâm của hoạt động KDBH 34 Bồi thường trong HĐBH tài sản được hiểu là “sự đền bù” của DNBH đối với bên mua bảo hiểm dựa trên thiệt hại, tổn thất thực tế về tài sản và số tiền bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm
đã thanh toán cho DNBH Khác với bồi thường trong pháp luật dân sự có thể được quy định trong hợp đồng hoặc theo pháp luật về bồi thường ngoài hợp đồng, tuy nhiên đều phụ thuộc vào các yếu tố: lỗi, quan hệ nhân quả, hành vi có lỗi gây ra thiệt hại, thì “bồi thường” trong bảo hiểm tài sản là “sự thỏa thuận” giữa DNBH và bên mua Khi phát sinh sự kiện bảo hiểm, mặc dù DNBH không hề có lỗi cũng như không có hành vi nào gây thiệt hại nhưng vẫn “bồi thường”, vì quy định về trách nhiệm bồi thường của DNBH đối với bên bảo hiểm đã được các bên “thỏa thuận” trong hợp đồng
Trang 29Hai là, đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ lập dự phòng nghiệp
vụ, quỹ dự trữ bắt buộc; và quỹ bảo vệ người được bảo hiểm theo quy định tại Điều
96, 97 Luật KDBH năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010 Ví dụ, theo quy định của
pháp luật KDBH thì doanh nghiệp KDBH tài sản phải trích lập các loại dự phòng
nghiệp vụ bao gồm dự phòng toán học, dự phòng bồi thường, dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng chia lãi và dự phòng đảm bảo cân đối Do mỗi loại dự phòng lại có nhiều phương pháp tính khác nhau, nên về nguyên tắc, Bộ Tài chính cho phép các DNBH chủ động lựa chọn phương pháp trích lập nhưng phải được Bộ Tài chính phê chuẩn trước khi thực hiện và không được thay đổi phương pháp trích lập trong năm tài chính
Ba là, đảm bảo DNBH đủ khả năng để thanh toán các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp như tiền lương, tiền thuê trụ sở, tiền văn phòng phẩm, chi phí quảng cáo, hoa hồng và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như nộp thuế, phí, lệ phí35
Thứ hai, xét về phương diện pháp lý Khi tham gia vào HĐBH tài sản, bên mua
bảo hiểm và doanh nghiệp đều hướng đến những lợi ích nhất định Ví dụ, Bên mua bảo hiểm mong muốn chuyển giao một phần hoặc toàn bộ rủi ro về tài sản sang cho DNBH, và nhận được khoản bồi thường do tổn thất về tài sản khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; bên cạnh đó, DNBH mong muốn nhận được số tiền phí bảo hiểm theo thỏa thuận hợp đồng để thanh toán cho các khoản chi phí vận hành doanh nghiệp và thực hiện hoạt động đầu tư vốn nhằm mục tiêu phát sinh lợi nhuận Với tư cách là hợp đồng song vụ, do đó để được hưởng lợi ích, các bên phải thực hiện nghĩa vụ Việc bên mua bảo hiểm tài sản phải trả phí bảo hiểm cho DNBH là nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ HĐBH tài sản Theo đó, để nhận được khoản bồi thường khi tài sản là đối tượng bảo hiểm gặp tổn thất do những rủi ro mang lại (sự kiện bảo hiểm) thì bên mua bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm Nói cách khác, để được hưởng lợi ích bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ36 Nghĩa vụ này phát sinh từ thời điểm HĐBH tài sản phát sinh hiệu lực thực hiện, theo đó bên mua bảo hiểm có nghĩa
vụ đóng mức phí bảo hiểm đã được các bên thỏa thuận theo hợp đồng, và nếu bên mua bảo hiểm không đóng hoặc đóng không đủ mức phí bảo hiểm thì DNBH có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm phải hoàn thành nghĩa vụ đóng phí theo thỏa thuận hợp đồng đồng thời có quyền áp dụng các chế tài xử lý vi phạm nếu bên mua không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo hợp đồng (trừ trường hợp các bên thỏa thuận về điều khoản DNBH cho phép bên mua bảo hiểm được “nợ” phí bảo hiểm) Vì vậy, pháp luật
Trang 30
phải có những quy định cụ thể về trách nhiệm và quyền lợi của bên mua bảo hiểm và DNBH liên quan đến phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản trong từng trường hợp
1.1.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh của pháp luật đối với phí bảo hiểm tài sản
Quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về phí bảo hiểm tài sản nói riêng luôn hướng tới điều chỉnh các mối quan hệ xã hội để tạo ra một trật tự pháp lý mà Nhà nước hướng tới từ đó bảo vệ tốt nhất quyền lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào quan hệ pháp luật Pháp luật về HĐBH tài sản nói chung và về phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản nói riêng cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật xuất phát từ nhưng yêu cầu sau:
Thứ nhất, phí bảo hiểm tài sản có tính triều tượng và mang tính chất phỏng
đoán trên cơ sở tính toán;
Như tác giả đã trình bày ở phần 1.1.2 cơ cấu phí được cấu thành bởi hai phần chính đó là phí thuần và phụ phí thì phí bảo hiểm không chỉ hình thành trên cơ sở những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để cấu thành nên sản phẩm bảo hiểm Phí bảo hiểm tài sản còn được xác định trên cơ sở tần suất tổn thất và chi phí trung bình trên trên một tổn thất các thông số này được tính toán dựa vào thống kê rủi ro của các HĐBH trước Vì vậy, rất có thể, giá cả của sản phẩm bảo hiểm (tức phí bảo hiểm) định
ra không hợp lý37 Như vậy, việc xác định giá dịch vụ bảo hiểm (tức định phí bảo hiểm) không phải dựa trên những pháp tính tuấn đơn thuần thông thương như xác định giá của sản phẩm hay dịch vụ khác với những con số cụ thể hay phương pháp được xác lập sẵn bởi căn cứ vào dịch vụ trên thị trường mà có phần dựa vào sự “phỏng đoán” của các chuyên gia tính toán “Phí bảo hiểm được xác định dựa theo tổn thất đã phát sinh trong quá khứ nhưng lại sử dụng để thanh toán cho những tổn thất có thể xảy
ra trong tương lai38” Chính tính chất triều tượng và mang tính phỏng đoán này việc pháp luật quy điều chỉnh về phí cho quan hệ hợp đồng trong bảo hiểm tài sản giúp kiểm soát việc định phí, thu phí và sử dụng phí của doanh nghiệp bảo hiêm, từ đó tạo
ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể thực hiện hoạt động KDBH
Thứ hai, quan hệ về phí bảo hiểm giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo
hiểm không được hiểu như các loại phí nói chung;
Tuy gọi là “phí” nhưng “phí bảo hiểm” không được hiểu như các loại phí nói chung (phí trong giao thông, viện phí, phí kho bãi, viện phí…), mà một khoản tiền bên mua bảo hiểm đóng cho DNBH kèm theo đó nhận lại một lời cam kết sẽ bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Mức phí bảo nhiêu phụ thuộc và giá trị tài sản được bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và tỉ lệ rủi ro ngoài ra còn có những yếu tố khác, có thể nói
37 Nguyễn Thị Thủy (2017), tlđd (4), Nxb Hồng Đức, tr45
38 Trường Đại học Tài chính Kế toán, (1999), Giáo trình bảo hiểm, Nxb Tài chính, tr301
Trang 31mức phí tỷ lệ thuận với các yếu tố đó Bên mua bảo hiểm tuy thực hiện nghĩa vụ đóng phí của mình trong hợp đồng nhưng lại không nhưng tại thời điểm đó lại chỉ nhận lời cam kết chi trả chứ chưa phải được thụ hượng một dịch vụ hay được làm một công việc cụ thể, mặt khác họ cũng không mong muốn sự kiện bảo hiểm xảy ra để được bồi thường Hơn nữa, nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì bên bảo hiểm bao giờ cũng phải trả tiền bảo hiểm lớn hơn gấp nhiều lần khoản phí thực tế đã đóng39 Chính vì những lý
do đó mà quan hệ về phí giữa bên mua bảo hiểm và DNBH là rất đặc biệt nên xác lập quan hệ này cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật
Thứ ba, phí bảo hiểm có vai trò quan trọng cho lợi ích của các bên trong hợp
đồng bảo hiểm
Trong đời sống hằng ngày thì có rất nhiều các sự cố bất ngờ gây tổn thất cho chủ tài sản Vì vậy, hoạt động KDBH nói chung và hoạt động kinh doanh BHTS nói riêng ra đời trên cơ sở tồn tại khách quan của các rủi ro và các tai nạn ngẫu nhiên đó
Và phí BH trong BH nói chung và BHTS nói riêng cũng tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động đời sống kinh tế-xã hội, có vai trò quan trọng để ổn định và phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia Đối với khách hàng, đóng phí BH là để mua lấy sự yên tâm trong công việc, chia sẻ lo ngại về những mầm mống rủi ro có thể xảy ra trong cuộc sống Đối với cộng đồng, BH góp phần to lớn trong việc điều tiết lợi ích và ổn
định xã hội…
Phí BH trong BHTS có một số vai trò cơ bản sau:
Một là, việc bên mua BH đóng phí BHTS sẽ giúp bên được BH bù đắp các tổn
thất, thiệt hại đối với tài sản BH khi sự kiện BH xảy ra;
Bù đắp các tổn thất và khắc phục hậu quả thiệt hại từ rủi ro là tác dụng chủ yếu của BH, là nguyên nhân để BH ra đời Nói đến BH là nói đến vai trò của các DNBH
đã cung cấp các loại dịch vụ BH nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như lúc ban đầu cho bên mua BH khi có rủi ro xảy ra Khi bên mua đóng phí BH cho DNHB thì khi sự kiện BH xảy ra bên mua sẽ được DNBH bồi thường giúp bù đắp các tổn thất, thiệt hại đối với tài sản BH Hình thức bồi thường có thể do các bên thỏa thuận một trong các trường hợp sau: sửa chữa tài sản bị thiệt hại; thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác; hoặc trả tiền bồi thường.40 Trách nhiệm BH phát sinh khi có một trong những trường hợp sau đây: hợp đồng BH đã được giao kết và bên mua BH đã đóng đủ phí BH; hợp đồng BH đã được giao kết, trong đó có thỏa thuận giữa DNBH
và bên mua BH về việc bên mua BH nợ phí BH; hoặc có bằng chứng về việc hợp đồng
39 Bộ Tư Pháp (2009), Bình luận khoa học Bộ Luật Dân sự năm 2005, Nxb Chính trị Quốc gia, tr 624
40 Khoản 1, Điều 47 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, (sửa đổi bổ sung 2010,2019)
Trang 32BH đã được giao kết và bên mua BH đã đóng đủ phí BH.41 Như vậy, phí BH trong BHTS giúp hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thấp có thể xảy ra, nhờ đó giảm thiểu những tác động xấu ảnh hưởng đến nền kinh tế và cộng đồng
Thứ hai, khi bên mua đóng phí BH thì DNBH có thể sử dụng hiệu quả nguồn
vốn nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác
Việc khắc phục rủi ro đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải bỏ ra một khoản tiền lớn để lập quỹ dự phòng Xét về tổng thể xã hội thì tổng các khoản quỹ dự phòng sẽ là một khoản tiền không nhỏ, có khả năng sinh lợi lớn nếu đem đi đầu tư Khi bên mua
BH đóng phí BH cho DNBH thì DNBH ngoài việc chi trả các chi phí nhằm duy trì hợp đồng BH thì còn phải trích nộp Quỹ bảo vệ người được BH do Bộ Tài chính công bố hằng năm Bên cạnh đó, DNBH còn có thể sử dụng khoản phí đó để đầu tư vào lĩnh vực khác để sinh ra lợi nhuận đảm bảo cho sự hoạt động của DNBH Như vậy, việc bên mua BH đóng phí BH trong BHTS như lập nên một khoản dự phòng để có thể bù đắp các tổn thất, thiệt hại đối với tài sản BH khi sự kiện BH xảy ra và DNBH có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi của người mua BH để tạo nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác
Ba là, việc đóng phí BH trong BHTS giúp tăng thu cho ngân sách nhà nước;
Nhờ các hoạt động dịch vụ BH nói chung và BHTS nói riêng mà ngân sách nhà nước sẽ đỡ phải chi trả các khoản trợ cấp lớn để bù đắp những tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ hay sự kiện ngoài ý muốn đối với tài sản BH Cũng nhờ các khoản phí BH
mà bên mua BH đóng vào mà DNBH đã đóng góp vào ngân sách nhà nước các khoản như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp Như vậy, việc đóng phí BH trong BHTS góp phần ổn định ngân sách nhà nước, tạo điều kiện để ngân sách nhà nước có thêm các khoản đầu tư vào phát triển kinh tế-xã hội Ngoài ra, một thị trường
BH phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các cá nhân và tổ chức mua BH của DNBH trong nước, góp phần tiết kiệm một khoản ngoại tệ lớn cho ngân sách nhà nước
Bốn là, góp phần ổn định tài chính và đảm bảo cho các khoản đầu tư cho bên
mua bảo hiểm cũng như doanh nghiệp bảo hiểm
Trong kinh doanh, các cá nhân, tổ chức phải bỏ ra một khoản tiền lớn lập quỹ
dự phòng khi bỏ vốn đầu tư Các nhà đầu tư đều lo ngại các rủi ro do thiên tai, tai nạn
có thể xảy ra làm họ thua lỗ, thậm chí mất hết cả vốn Nếu xét trên toàn xã hội, tổng các quỹ dự phòng sẽ là một khoản tiền không nhỏ, có khả năng sinh lợi rất lớn nếu
41 Điều 15, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, (sửa đổi bổ sung 2010,2019)
Trang 33được đem đi đầu tư Vì vậy, hoạt động KDBH nói chung và BHTS nói riêng giúp nhà đầu tư yên tâm hơn khi quyết định bỏ vốn ra Thực tế hầu hết các tài sản khi đem ra sử dụng đều đòi hỏi phải có BH, nhất là các tài sản có giá trị lớn Việc bồi thường, chi trả
BH khi bên mua BH đóng đầy đủ các khoản phí cho DNBH đã giúp bên mua BH bảo toàn tài sản, tiền vốn của mình trước các rủi ro; từ đó bên mua BH sẽ yên tâm đầu tư, phát triển kinh tế Vì vậy, việc đóng phí BH trong BHTS có vai trò đảm bảo an toàn cho tài sản được BH và khuyến khích đầu tư
Năm là, việc đóng phí BH giúp tạo nên lối sống tiết kiệm và mang đến trạng
thái an toàn về tinh thần cho xã hội
Sự tồn tại của thị trường BH với nhiều sản phẩm BH, đặc biệt là BHTS đã tạo
ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động đến tư duy của các cá nhân, tổ chức mua BHTS cũng như DNBH Họ phải suy nghĩ, tính toán và dần dần sẽ có được một ý thức, thói quen về việc dành ra một phần thu nhập để trả phí BH với mục đích sẽ đảm bảo được việc bù đắp các tổn thất cho tài sản BH, giúp bên mua BH yên tâm đầu tư Bên cạnh đó, vượt lên cả ý nghĩa tiền bạc, BH đã mang đến trạng thái an tâm về tinh thần, giảm bớt sự lo âu trước rủi ro, bất trắc cho những người mua BH Đây chính là ý nghĩa nhân văn của BHTS nói chung và việc đóng phí BHTS nói riêng trong xã hội hiện nay
Như vậy việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ về phí trong HĐBH tài sản giúp đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên góp phần cho các bên thực hiện hiệu quả đối HĐBH tài sản Ngoài ra, còn góp phần thiết lập kỷ cương ổn định, trật tự và tạo đà phát triển cho lĩnh vực này
1.2 Quy định của pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng tài sản
1.2.1 Khái quát chung pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Phí bảo hiểm là nội dung pháp lý cơ bản trong HĐBH tài sản, tác động tới việc thực hiện và hoàn thành mục đích mong muốn của các bên trong HĐBH tài sản Pháp luật về phí bảo hiểm là một bộ phận của pháp luật bảo hiểm nói chung và pháp luật về bảo hiểm tài sản nói riêng Theo tác giả pháp luật về phí bảo hiểm tài sản được hiểu là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh về vai trò của phí bảo hiểm; nghĩa vụ và quyền lợi liên quan đến phí bảo hiểm phát sinh giữa bên mua bảo hiểm bảo hiểm và DNBH, trong quá trình giao kết và thực hiện HĐBH tài sản
Phí bảo hiểm tài sản mang những đặc điểm pháp lý sau:
Thứ nhất, phí bảo hiểm tài sản có mối quan hệ chặt chẽ với giá trị tài sản tham
gia bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm trong HĐBH tài sản
Trang 34Để tính phí trong HĐBH ngoài việc tính toán tỷ lệ rủi ro, mức độ “khốc liệt” của rủi ro dưới góc độ pháp lý phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản có mối quan hệ chặt chẽ với giá trị tài sản tham gia bảo hiểm bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật và thực tiễn cho thấy các yếu tố này luôn tác tác động tới việc tăng giảm phí trong HĐBH tài sản Để làm rõ điều này tác gải có những phân tích sau:
Một là, giá trị tài sản được bảo hiểm được hiểu là giá thị trường của tài sản tại
thời điểm giao kết HĐBH Về nguyên tắc, tài sản chỉ có thể được tham gia bảo hiểm khi xác có thể định giá được bằng số tiền cụ thể Điều này xuất phát từ việc HĐBH tài sản có tính chất đền bù cho những thiệt hại mà người tham gia bảo hiểm đã tham gia Thực tế cho thấy giá trị của tài sản có thể thay đổi theo thời gian Có nghĩa là, trong quá trình thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản thì quyền lợi vật chất của người sở hữu đối với tài sản sẽ thay đổi theo giá trị của tài sản Do đó, khi mua bản hiểm bên mua bảo hiểm chỉ được mua tối đa không quá giá trị tài sản tại thời điểm bảo hiểm Đồng thời doanh nghiệp cũng chỉ bồi thường tối đa không quá giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra tổn thất Đặc trưng này xuất phát từ quan điểm tại thời điểm tổn thất, bên mua bảo hiểm sở hữu tài sản có giá trị bao nhiêu thì được bồi thường bấy nhiêu Bởi không có lý do gì mà một người sở hữu một tài sản có giá trị thấp lại hưởng một số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị tài sản khi gặp tổn thất42 Theo quy định của Luật KDBH thì DNBH và bên mua bảo hiểm không được giao kết HĐBH tài sản trên giá trị Trong trường HĐBH tài sản trên giá trị được giao kết do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm, DNBH phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm, sau khi trừ các chi phí hợp lý có liên quan Trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm, DNBH chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm43 Như vậy, việc mà DNBH phải trả lại phí cho bên mua bảo hiểm khi giao kết HĐBH tài sản trên giá trị do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm cho thấy các bên trong HĐBH tài sản khi tính phí đã dựa một phần trên cơ sở giá trị tài sản được bảo hiểm
Hai là, số tiền bảo hiểm được hiểu là số tiền mà bên mua bảo hiểm thực tế tham
gia bảo hiểm đối với tài sản và được DNBH chấp thuận và không được vượt quá giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng Bên mua bảo hiểm có quyền tham gia bảo hiểm dước giá trị của tài sản khi đó số tiền bồi thường sẽ được áp dụng theo Khoản 1 và 2, Điều 46 “Số tiền bồi thường mà DNBH phải trả cho người được bảo
42 Nguyễn Thị Thủy (2016), “Mối quan hệ pháp lý giữa quyền lợi được bảo hiểm và hiệu lực của hợp đồng bảo
hiểm tài sản”, Tạp chí Luật học, Số 10, tr 52 – 61
Trang 35hiểm được xác định trên cơ sở giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong HĐBH Chi phí để xác định giá thị trường và mức độ thiệt hại do DNBH chịu Số tiền bồi thường mà DNBH trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm44” Vấn đề này Luật KDBH năm 2022 vẫn được giữa nguyên45
Ba là, thời hạn bảo hiểm được hiểu là khoảng thời gian nhằm xác định thời
điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm và thời điểm chấm dứt trách nhiệm bảo hiểm của DNBH Đây là khoảng thời gian nếu rủi ro trong bảo hiểm xảy ra thì DNBH có nghĩa
vụ bồi thường46 Thời hạn bảo hiểm thông thường với bảo hiểm tài sản thường ngắn có thể theo chuyến hàng, một tháng, ba tháng, sáu tháng hoặc một năm… tùy các bên thỏa thuận Tuy nhiên, để đảm bảo hoạch toán và chi phí cho DNBH thì phí bảo hiểm
sẽ được tịnh tiến theo thời hạn Mặt khác, đối với thời hạn càng dài thì tuần suất rủi ro càng cao Chính vì vậy, việc phí bảo hiểm sẽ tỉ lệ thuận với thời hạn bảo hiểm trong HĐBH tài sản là yếu tố điều tất yếu
Thứ hai, phí bảo hiểm tài sản là điều khoản cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm tài
sản, do các bên thỏa thuận
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là loại hợp đồng có tính chất song vụ tức là các bên đều có quyền và nghĩa vụ cơ bản với nhau trong hợp đồng Nghĩa vụ cơ bản của bên mua bảo hiểm là đóng phí bảo hiểm Việc đóng phí bảo hiểm cũng là cơ sở làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp nghiệp bảo hiểm Trên thực tế phổ biến
là trường hợp nhân viên của DNBH đến tư vấn cho khách hàng mua bảo hiểm và người mua bảo hiểm chấp thuận ký vào HĐBH (trước khi đại diện của doanh nghiệp
ký vào HĐBH), nhân viên bảo hiểm thu phí bảo hiểm cho thời hạn đóng phí bảo hiểm đầu tiên của HĐBH, nhân viên bảo hiểm trao cho bên mua bảo hiểm biên lai thu tiền bảo hiểm (theo mẫu đã được đăng ký của DNBH), sau đó, nhân viên của DNBH sẽ chuyển HĐBH cho người đại diện của DNBH ký vào bản hợp đồng, rồi mới trao lại hợp đồng và hóa đơn thu phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm Việc bên mua bảo hiểm vừa chấp nhận HĐBH đã thu phí bảo hiểm là DNBH phải có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra ngay sau khi thu tiền bảo hiểm đầu tiên Luật KDBH còn quy đinh về việc bên mua bảo hiểm hiểm và DNBH được phép
44 Khoản 1 và 2, Điều 46 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019
45 Điều 51, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022
46 Bùi Thị Hằng Nga (2015), tlđd (26), Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr.130
Trang 36thỏa thuận để tăng hoặc giảm phí khi có cơ sở Khi có sự thay đổi những yếu tố làm
cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu DNBH giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của HĐBH Trong trường hợp DNBH không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm
có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho DNBH; Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì DNBH có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của HĐBH Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm thì DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm47
Thứ ba, phí bảo hiểm tài sản là một trong những căn cứ để xác định số tiền bồi
thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Phí bảo hiểm tài sản là một trong các căn cứ xác định số tiền bồi thường Quan
hệ bảo hiểm tài sản là quan hệ bồi thường Nguyên tắc bồi thường là nguyên tắc chủ đạo chi phối đến các quy định về bồi thường trong bảo hiểm tài sản Theo đó, tổng số tiền bồi thường trong HĐBH tài sản không vượt quá giá thị trường của tài sản tại thời điểm tổn thất và nơi xảy ra tổn thất Các bên có thể thỏa thuận một trong các phương pháp bồi thường: (i) Sửa chữa tài sản bị thiệt hại; (ii) Thay thế tài sản khác; (iii) Bồi thường bằng tiền Trường hợp không có thỏa thuận thì bồi thường bằng tiền Việc xác định số tiền bồi thường của DNBH không phải là việc làm dễ dàng cho tất cả các trường hợp48 Nghiên HĐBH tài sản của các DNBH, điều khoản về xác định tổn thất đối với tài sản được bảo hiểm mà DNBH phải chịu trách nhiệm bồi thường thường mang tính chất “định tính”49;
Cơ sở để xác định số tiền bồi thường trong HĐBH tài sản thường dựa trên mức phí bảo hiểm, hình thức bảo hiểm và thiệt hại thực tế do rủi ro gây ra, thời gian đóng phí, quy định về giới hạn trách nhiệm Thực tế, hoạt động KDBH cho thấy, trong thời gian đóng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp vẫn phải bồi thường trả tiền khi có sự kiện xảy ra 50
47 Điều 20 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019
trên sông hồ, vùng nội thủy và vùng biển Việt Nam”, [https://www.pjico.com.vn/ ], (Truy cập ngày 24/10/2022)
Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.16
Trang 371.2.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về phí bảo hiểm tài sản
Phí bảo hiểm tài sản có tính chất quyết định đến hiểu quả của việc thực hiện HĐBH tài sản các bên có đạt được mục đích của việc ký kết và thực hiện hợp đồng hay không phụ thuộc rất nhiều sự thiện chí trong việc thực hiện các quy định liên quan đến phí Việc điều chỉnh mối quan hệ này cũng là khía cạnh pháp lý đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng Mặt khác, việc các bên vi phạm các quy định về phí cũng đẫn đến những bất lợi nhất định và không mong muốn Pháp luật điều chỉnh quan hệ về phí điều chỉnh mang tính chất xuyên suốt từ khi hình thành mối qua hệ về phí trong hợp đồng cho đến khí chấm dứt do những nguyên nhân khác nhau Trong đó,
có quyền lợi và trách nhiệm của DNBH và người mua bảo hiểm và hậu quả pháp lý của việc các bên vi phạm nghĩa vụ về phí trong HĐBH tài sản
1.2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm liên quan đến phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Thứ nhất, quyền của doanh nghiệp bảo hiểm
Một là, Theo Điểm a, Khoản 1, Điều 17 Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi bổ
sung năm 2010, 2019) “quyền được thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng
bảo hiểm” Quyền này xuất phát từ việc cung cấp dịch vụ và thu phí cho dich vụ mà
DNBH cung cấp Doanh nghiệp bảo hiểm được quyền nhận phí bảo hiểm từ bên mua bảo hiểm Việc DNBH thu phí bảo hiểm để đảm bảo cung ứng dịch vụ bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm là hoàn toàn hợp lý Phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đóng không những được sử dụng để chi trả bảo hiểm mà còn giúp cho DNBH duy trì được hoạt động kinh doanh của mình, đảm bảo cung ứng sản phẩm bảo hiểm cho xã hội51 Quy định này trong Luật KDBH năm 2022 vẫn đươc giữa nguyên
Hai là, Điểm b, Khoản 1, Điều 17 Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm
2010, 2019) DNBH có quyền “Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực
thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm” Việc yêu cầu
bên mua bảo hiểm cung cấp thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng có liên quan chặt chẽ đến việc DNBH tính phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm phải đóng Mặt khác, còn là cơ sở để DNBH xác định được phương án và cách thức thực hiện hợp đồng trong đó có liên quan đến nội dung về phương thức đóng phí cũng như những những cam kết của bên mua bảo hiểm về thời gian đóng phí Điều này có ý nghĩa quan trọng để các bên xác lập quan hệ pháp luật về phí bảo hiểm trong HĐBH tài sản Quyền này trong luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022 vẫn được giữ nguyên
Trang 38
Ba là, Theo Điểm c, Khoản 1, Điều 17 Luật KDBH năm 2000, (sửa đổi, bổ
sung năm 2010, 2019) thì DNBH được quyền đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH
và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm thực hiện hành vi: (i) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết HĐBH để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường; hoặc (ii) Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của DNBH trong quá trình thực hiện HĐBH theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm Quy định này được nhà làm luật giữ nguyên trong Luật KDBH năm 2022
Bốn là, tăng phí khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo
hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì DNBH có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm52 Quyền tăng phí trong trường hợp này chủ yếu xuất phát từ việc tăng thêm rủi ro của đối tượng đang tham gia bảo hiểm do chuyển mục đích sử dụng, tăng cường độ sử dụng, địa điểm, môi trường, không gian
sử dụng tài sản…Quy đinh này được nhà làm luật tiếp tục ghi nhận trong Luật KDBH năm 2022 những linh hoạt hơn bằng cách đưa bốn trường hợp đó là: Tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng; giảm số tiền bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đổng; rút ngắn thời hạn bảo hiểm; thu hẹp phạm vi bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm53
Thứ hai, Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm
Một là, Theo điểm a, Khoản 2, Điều 17 Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi, bổ
sung năm 2000, 2019), DNBH có nghĩa vụ “Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các
điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm” Theo tác giả
N.V.Ctepanjuk thì việc đặt ra yêu cầu giải thích hợp đồng với lý do: “Giải thích hợp đồng có thể do nhiều nguyên nhân Đối với một bên, có thể xuất hiện sự cần thiết phải xác định nội dung của một điều khoản này hoặc một điều khoản kia trong hợp đồng vì
nó được thể hiện chưa rõ ràng với một bên khác – hoặc để bổ sung điều khoản của hợp đồng trong trường hợp tồn tại thiếu sót đối với nội dung của hợp đồng hoặc để khắc phục những điều khoản có sự mâu thuẫn”54 Nghĩa vụ giải thích hợp đồng trong HĐBH là nghĩa vụ của DNBH bởi lẽ hợp HĐBH là dạng hợp đồng mẫu do DNBH soạn thảo, xuất phát từ đặc thù và tính phức tạp của lĩnh vực này mà khi xây dựng các
52 Khoản 2, Điều 20, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung 2010, 2019
53 Khoản 2, Điều 23, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022
thích hợp đồng ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Bộ Tư pháp, số 6 (303), tr.11
Trang 39nghiệp vụ bảo hiểm DNBH đã xây dựng hợp đồng mẫu ở đó có thể nói DNBH đã nắm
rõ và “định hướng” các nội dung cơ bản của hợp đồng để phù hợp với nghiệp vụ bảo hiểm mà Luật KDBH quy định và được thể hiện trong các sản phẩm bảo hiểm mà DNBH triển khai Mặt khác, trong quan hệ này thì DNBH luôn là bên năm vững về bản chất dịch vụ mình đang cung cấp cho khách hàng hơn bên mua bảo hiểm, thêm và
đó DNBH thực tế có đội ngũ chuyên gia pháp lý có chuyên môn và am hiểu sản phẩm mình cung cấp soạn thảo Đây cũng là lý do mà nhà làm luật đã quy định nghĩa vụ giải thích HĐBH của DNBH đối với bên mua bảo hiểm Mặt khác, nghĩa vụ này còn được nhà làm luật ràng buộc DNBH trong Luật KDBH bằng quy định “Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm”55 Cùng với việc giải thích là nghĩa vụ cung cấp thông tin của DNBH Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, DNBH có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm56
Như vậy, theo các quy định trên thì nghĩa vụ giải thích HĐBH trước hết thuộc
về DNBH (thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại lý) và việc giải thích này phải theo hướng có lợi cho người mua bảo hiểm nếu điều khoản không rõ ràng Khi có tranh chấp giữa DNBH và khách hàng liên quan đến những quy định của điều khoản hợp đồng, toà án có nghĩa vụ làm sáng tỏ ý nghĩa và nội dung của HĐBH đó và thường sẽ
ưu tiên giải thích theo hướng có lợi hơn cho người mua bảo hiểm Quy định này được nhà làm luật giữ nguyên và quy định trong Luật KDBH năm 2022
Thực tiễn, các tranh chấp về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là dạng tranh chấp
“phổ biến” về điều khoản phí trong HĐBH tài sản được cơ quan tài phán (Tòa án) thụ
lý và giải quyết trong thời gian qua Cụ thể, Tranh chấp giữa Anh Phạm Ng (Nguyên đơn) và Tổng công ty cổ phần bảo hiểm B (Bị đơn) về Hợp đồng bảo hiểm tàu cá số QBI.D0.06.TC.17.HDDE ngày 22/6/2017 Tại bản án số 26/2019/DS-PT ngày 18/10/2019 của TAND Tỉnh Quảng Bình nhận định: Điều 21 Luật KDBH năm 2000, (sửa đổi, bổ sung 2019) quy định trường hợp HĐBH có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm Do đó, trong trường hợp này Giấy chứng nhận bảo hiểm số 363 ngày 20/9/2017 cấp cho anh Ng không ghi về kỳ hạn, thời hạn nộp phí bảo hiểm, nên được coi là trường hợp “các bên
có thoả thuận khác” đó là trường hợp bên bán bảo hiểm chấp nhận cho phía mua bảo hiểm được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm trước và nộp phí bảo hiểm sau khi có thông
55 Điều 21, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019
56 Khoản 1, Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi, bổ sung 2010,2019