1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

39 570 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Tranh Chấp Trong Thanh Toán Quốc Tế Theo Phương Thức Tín Dụng Chứng Từ Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam
Trường học Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam
Chuyên ngành Ngân Hàng
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 192,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tín dụng đầu tư - Phát triển.Với phương châm lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng là mụctiêu hoạt động của mình, BIDV đã đạt được những kết quả khả quan.. Mặc dù đi sau nhưn

Trang 1

THỰC TRẠNG TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ

PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.

1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.Sau ngày hoà bình lập lại, để tái thiết đất nước, hàn gắn vết thương chiếntranh, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra các biện pháp, chính sách nhằm khôi phục vàphát triển kinh tế Việc hình thành một cơ quan chuyên cấp phát vốn đầu tư chocác công trình trở nên hết sức cần thiết Vì vậy, ngày 26 tháng 4 năm 1957, Chínhphủ quyết định thành lập Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam là tiền thân của Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Có thể nói, từ khi thành lập đến nay, lịch sửNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn gắn liền với công cuộc xây dựng vàphát triển đất nước

Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau, chức năng, nhiệm vụ vàphương thức hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn đượcđiều chỉnh để phù hợp với yêu cầu, với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Từ mộtNgân hàng chuyên làm nhiệm vụ cấp phát vốn đầu tư cho các dự án, công trình(1957- 1989), Ngân hàng vừa cấp phát vốn đầu tư cho các công trình vừa cho vaytín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước (1990- 1995) Rồi sau đó Ngân hàng vừacho vay tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước vừa hoạt động thương mại (1995-1999) và giờ đây trở thành một Ngân hàng thương mại

Để phản ánh đúng chức năng, nhiệm vụ của từng thời kỳ, Ngân hàng Đầu

tư và Phát triển Việt Nam đã qua ba lần đổi tên nhưng đến nay được mang tên làNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Bank for Investment and Development

of Vietnam) tên viết tắt là BIDV, trụ sở chính đặt tại 194 Trần Quang Khải

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC HỆ THỐNG NHĐT&PTVN

Ngân hàng ĐT&PTVN Hội đồng quản trị Ban Tổng giám đốc

Các liên doanh

Khối các công ty liên doanh, hùn vốn NHĐT&PTTW

Các sở giao dịch &chi

nhánh

Trang 2

Gần 10 năm đổi mới (1990 - 1999), với vai trò là Ngân hàng chủ đạo tronglĩnh vực đầu tư phát triển, BIDV đã triển khai thành công một chủ trương mới làxoá bỏ bao cấp trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, thể nghiệm một cách làm mới, thựchiện một cơ chế mới, chủ trương đổi mới nền kinh tế của đất nước Đến nay, trảiqua hơn 42 năm xây dựng và phát triển, BIDV đã trở thành một trong 4 Ngân hàngquốc doanh lớn nhất, một Ngân hàng Nhà nước hạng đặc biệt.

Với mạng lưới hơn 100 chi nhánh tại các tỉnh thành phố và các khu côngnghiệp trong cả nước và đội ngũ hơn 4.500 cán bộ, nhân viên tâm huyết, hăng saytrong công việc, không ngừng củng cố và tăng sức cạnh tranh trên thị trường,

Công ty bảo hiểm Việt-Úc

NH liên doanh Lào - Việt

Sở giao dịch I,II

Công ty đầu tư nhà

Văn phòng đại diện

Trang 3

BIDV đã từng bước trở thành một Ngân hàng được tín nhiệm trong nước và quốc

tế BIDV là một Ngân hàng quan hệ với hơn 500 Ngân hàng, tổ chức tiền tệ quốctế

Bên cạnh Ngân hàng liên doanh VID Public Bank, 8 năm qua hoạt động cóhiệu quả, BIDV là Ngân hàng đầu tiên được đầu tư liên doanh ra nước ngoài, trongtháng 4 năm 2000 cùng Ngân hàng Ngoại thương Lào lập ra Ngân hàng liên doanhLào - Việt Đồng thời BIDV có thêm công ty liên doanh Bảo hiểm BIDV- QBEtrong năm qua

Quyết định 13/99/TTg là cột mốc đánh dấu lịch sử phát triển của BIDV Đó

là thời kỳ Ngân hàng được hoạt động như một Ngân hàng thương mại thực thụ, làthời kỳ chuẩn bị cho các điều kiện hội nhập, xây dựng Ngân hàng thành một địnhchế tài chính hoạt động theo các chuẩn mực quốc tế Đây vừa là thời cơ, vừa làthách thức đối với Ngân hàng, là cơ hội để Ngân hàng hoàn thiện cơ cấu tổ chứchoạt động, xây dựng thành một Ngân hàng hiện đại có đầy đủ các tiêu chuẩn để hộinhập

Trên cơ sở kế thừa những thành quả đã đạt được trong 42 năm qua, vậndụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại, chiến lược phát triểnbền vững của BIDV khẳng định nguyên tên gọi Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam để thể hiện truyền thống và văn hoá của quá khứ, luôn giữ vai trò chủđạo trong lĩnh vực đầu tư và phát triển ở hiện tại và tương lai

Các hoạt động kinh doanh cơ bản của BIDV bao gồm 9 loại hình sau:

- Thanh toán quốc tế

- Tín dụng quốc tế

- Tài trợ xuất nhập khẩu - sản phẩm mới

- Ngân hàng đại lý, Ngân hàng phục vụ đối với các nguồn vốn tài trợ ODA,ADB, WB,IMP

- Kinh doanh ngoại hối

- Bảo lãnh

- Tín dụng thuê mua

- Tín dụng ngắn hạn

Trang 4

- Tín dụng đầu tư - Phát triển.

Với phương châm lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng là mụctiêu hoạt động của mình, BIDV đã đạt được những kết quả khả quan Từ năm 1990đến nay, BIDV đã vươn lên tự lo lấy nguồn vốn phục vụ cho đầu tư phát triển bằngcách huy động vốn ở trong nước dưới các hình thức, đi vay vốn của nước ngoài;nếu như năm 1990 số vốn chỉ có 300 tỷ đồng thì đến năm 1999 số vốn huy độngtrong dân và cá tổ chức kinh tế trong nước lên tới 16.500 tỷ đồng đưa tổng nguồnvốn của BIDV năm 1999 đạt tới 29.436 tỷ đồng

Với chính sách tín dụng, phương châm của Ngân hàng là đa dạng hoá cácsản phẩm, loại hình đầu tư, coi tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng thi công, xâylắp, khảo sát thiết kế, cung ứng vật tư thiết bị là mặt trận hàng đầu đồng thời coitrọng việc mở rộng có chọn lọc các sản phẩm Ngân hàng và phi Ngân hàng kháctrong đó chú trọng cho vay khép kín kết hợp đồng tài trợ và bảo lãnh dưới các hìnhthức Kết quả của việc áp dụng các chính sách trên được thể hiện qua một số chỉtiêu về hoạt động tín dụng cho đầu tư phát triển trong năm 1999 Doanh số cho vayđầu tư phát triển đạt 7 ngàn tỷ đồng trong đó doang số cho vay tài trợ xuất nhậpkhẩu đạt 356 tỷ dồng đầu tư cho 60 dự án Dư nợ đầu tư phát triển các loại đạt13.918 tỷ đồng tăng 13% so với năm 98

Để đạt được kết quả như vậy, Ngân hàng đã tổ chức bộ máy hợp lý, đượcthể hiện thông qua sơ đồ sau:

Trang 5

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TẠI NHĐT&PTTW

Với những thành tựu khả quan đó BIDV thực sự đã chiếm được một vị thếđặc biệt quan trong trong hệ thống Ngân hàng Trong những năm tiếp theo BIDV

BAN THƯ KÝ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN KIỂM SOÁT

HỘI ĐỒNG TÍN DỤNG

BAN TỔNG GIÁM ĐỐC

KIỂM TRA NỘI BỘ

TÍN DỤNG 1 TÀI CHÍNH KẾ TOÁN NGUỒN VỐN - NGOẠI HỐI VĂN PHÒNG

THANH TOÁN QUỐC TẾ TÍN DỤNG 2 QUAN HỆ QUỐC TẾ TỔ CHỨC CÁN BỘ

TÍN DỤNG 3 THANH TOÁN TẬPTRUNG CHỨNG KHOÁN ĐÀO TẠO

TIỀN LƯƠNG THI ĐUA

NH ĐẠI LÝ THÔNG TIN PNRR

TÍN DỤNG 4

PHÁP CHẾ - CHẾ ĐỘ BAN NGHIÊN CỨU CHIẾN

LƯỢC ĐIỆN TOÁN

Trang 6

sẽ tiếp tục thực hiện đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, thực hiệnchiến dịch kinh doanh đa năng tổng hợp xứng đáng là Ngân hàng giữ vai trò chủđạo đứng đầu trong lĩnh vực đầu tư phát triển.

2 HOẠT ĐỘNG THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.

BIDV là một trong bốn Ngân hàng quốc doanh lớn nhất, là Ngân hàng giữvai trò chủ lực trong lĩnh vực đầu tư và phát triển Trong những năm qua, Ngânhàng đã luôn khẳng định vị trí của mình và hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng vàNhà nước giao phó Tuy nhiên, trong một môi trường cạnh tranh ngày càng trở nêngay gắt với sự có mặt của nhiều Ngân hàng liên doanh và Ngân hàng cổ phần,BIDV không còn giới hạn hoạt động của mình chỉ trong lĩnh vực đầu tư phát triển

mà trở thành một Ngân hàng đa năng tổng hợp Hoạt động của Ngân hàng được

mở rộng sang nhiều lĩnh vực với nhiều dịch vụ khác nhau trong đó phải kể đếnhoạt động thanh toán quốc tế

Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, hoạt động thanh toán quốc tế chỉ cóVietcombank độc quyền thực hiện Nhưng khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơchế thị trường với những quy chế thông thoáng hơn thì BIDV cũng nhanh chónghoà vào sự đổi mới đó bằng việc ra đời của phòng thanh toán quốc tế vào năm

1991 Tuy nhiên, hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV mới chỉ thực sự bắt đầuvào tháng 5 năm 1993 Mặc dù đi sau nhưng hoạt động thanh toán quốc tế củaBIDV đã phát triển không ngừng, vươn lên cạnh tranh với những Ngân hàng trong

và ngoài nước đã có nhiều năm trong lĩnh vực này Từ việc thực hiện nghiệp vụNgân hàng đại lý, BIDV đã mở rộng quan hệ đối tác với nhiều nước và có tàikhoản tại các Ngân hàng lớn ở khắp các châu lục Chính điều này đã giúp BIDVkhẳng định vị trí của mình trong hoạt động thanh toán quốc tế Quan hệ thanh toánngày càng phát triển khối lượng thanh toán quốc tế hằng năm đạt hàng trăm triệuUSD và liên tục tăng lên Nếu như tổng doanh số thanh toán quốc tế của BIDVnăm 1995 là 213 triệu USD thì sang năm 1996 con số này là 390 triệu USD, tăng83%

Năm 1998, 1999 là hai năm có bao khó khăn, thử thách đối với nói chung

và hoạt động Ngân hàng nói riêng - 2 năm phải đối mặt và vượt qua hai cơn bão

Trang 7

lớn: cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực và những thiên tai nặng nềliên tiếp, những biến cố đó đã khiến cho hoạt động xuất nhập khẩu trong nước gặpnhiều khó khăn, hoạt động thanh toán quốc tế của toàn bộ hệ thống bị giảm sút.Nhưng BIDV đã vươn lên và trụ vững, dần dần từng bước phát huy nội lực vàtruyền thống, tranh thủ những thời cơ và thuận lợi Những nỗ lực đó đã thể hiệnbằng những con số cụ thể và giàu tính thuyết phục: đến năm 1997 doanh số thanhtoán quốc tế đã lên đến 452 triệu USD tăng 16 % so với năm 1996, doanh số thanhtoán quốc tế năm 1998 là 690 triệu USD tăng 53 % so với năm 1997.

Sự gia tăng nội dung của hoạt động thanh toán quốc tế qua các năm BIDV

đã cho thấy sự đi lên vững chắc và đầy triển vọng của Ngân hàng trong lĩnh vựcnày Những con số đó là một dấu hiệu đáng mừng khẳng định sự tồn tại và pháttriển của hoạt động thanh toán quốc tế tại BIDV nói riêng và sự gia tăng xuất khẩutrong toàn bộ nền kinh tế nói chung

Đặc biệt, sang năm 1998, với tốc độ tăng 42%, doanh số thanh toán quốc tế

đã đạt 980 triệu USD trong đó cơ cấu thanh toán là: L/C nhập chiếm 52%, L/Cxuất chiếm 12% và chuyển tiền thanh toán là 34% trong tổng cơ cấu thanh toán

Như vậy, năm1999 kết quả hoạt động thanh toán quốc tế của toàn bộ hệthống BIDV đạt được là :

Phí thu từ hoạt động thanh toán quốc tế so với tổng phí dịch vụ chiếm22/68 là 30%

Thu từ hoạt động của phòng thanh toán quốc tế trong toàn bộ hệ thống sovới tổng phí dịch vụ 37/68 là 54%

Bảng doanh số thanh toán quốc tế qua các năm dưới đây sẽ cho một cáinhìn tổng quát về hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV

Trang 8

Bảng 1 : Doanh số thanh toán quốc tế qua các năm

Đơn vị: triệu USD

khẩu

Nhậpkhẩu

Chuyểntiền đi

Chuyểntiền đến Tổng số Tăng (%)1995

175310314337510133

15355612817846,7

07254614917555

213390452690980258,2

8316534243

Nguồn: Báo cáo tổng hợp hoạt động thanh toán quốc tế của phòng thanhtoán quốc tế tại BIDV

Nghiệp vụ thanh toán quốc tế của BIDV bao gồm các hoạt động thanh toánhàng xuất, thanh toán hàng nhập và thanh toán phi mậu dịch được thực hiện vớinhiều phương thức thanh toán khác nhau trong đó thanh toán bằng tín dụng chứng

từ đóng vai trò quan trọng và chiếm ưu thế hơn cả

Từ năm 1996, tức là một năm sau ngày phòng thanh toán quốc tế đi vàohoạt động thực sự, phương thức thanh toán này đã tỏ rõ vị trí của mình bằng cáccon số: trị giá L/C hàng nhập là 296 triệu USD, trị giá L/C hàng xuất là 16 triệuUSD trong khi các khoản chuyển tiền và nhờ thu chỉ có 66 triệu USD

Cùng với sự lớn mạnh của hoạt động thanh toán quốc tế nói chung, phươngthức thanh toán tín dụng chứng từ cũng ngày càng phát triển, đặc biệt với sự hỗ trợcủa hệ thống công nghệ Ngân hàng hiện đại - đó là mạng lưới thanh toán quốc tếSwift với hai trung tâm chính là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Thêm vào đó,thông qua hệ thống này, BIDV đã có quan hệ trực tiếp với hơn 330 Ngân hàng trêntoàn thế giới Chính sự đầu tư vào một mạng máy vi tính hiện đại đã giúp BIDVthực hiện nghiệp vụ thanh toán ngoại tệ tập trung, nghiệp vụ thanh toán quốc tế tứcthời, tạo điều kiện cho hoạt động thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng,chính xác và hiệu quả theo tiêu chuẩn quốc tế Đây là cơ hội mở ra cho BIDV tìm

Trang 9

đến thị trường mới, những bạn hàng mới, tạo khả năng củng cố thị trường hiện tại

và mở rộng thị trường tiềm năng trong tương lai Lượng khách hàng tín nhiệmNgân hàng ngày càng đông, thể hiện thông qua số món L/C mà Ngân hàng thựchiện thanh toán ngày càng nhiều Năm 1999, BIDV đã thực hiện 2660 món L/C trảngay với trị giá 316 triệu USD, 32 món L/C trả chậm trong đó có 25 món dưới 1năm và 7 món trên 1 năm, tổng trị giá 30 triệu USD tăng 110% so với năm 1998.BIDV cũng đã đòi tiền chiết khấu 1240 L/C với tổng trị giá 62 triệu USD

Tính riêng trong 3 tháng đầu năm 2000, số món L/C trả ngay mà BIDVthực hiện lên tới 670 món trị giá 85 triệu USD, 17 món L/C trả chậm tổng trị giá

82 triệu USD, tăng 26 % so với cùng kì năm trước

Cũng theo báo cáo tổng hợp hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàngđầu tư và phát triển Việt Nam thì doanh số thanh toán L/C qua các năm do BIDVthực hiện như sau:

Bảng 2: Doanh số thanh toán L/C qua các năm

Đơn vị: triệu USD

năm 2000L/C xuất nhận

L/C xuất thanh toán

L/C nhập mở

L/C nhập thanh toán

Tỷ trọng L/C (%)

251631229682,5

38303930574,8

726732732062

938934534364

21,5209694,248,52

Tỷ trọng doanh số thanh toán L/C trong toàn bộ doanh số thanh toán quốc

tế của BIDV đã cho thấy tính phổ biến của phương thức thanh toán này Nhưng tỷtrọng này có xu hướng giảm qua các năm, lý do chủ yếu là các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu sau một thời gian dài hoạt động trên thị trường quốc tế đã thiết lập đượcnhững mối quan hệ với các đối tác tin cậy nên họ đã chuyển từ phương thức thanhtoán từ L/C sang các phương thức khác đơn giản, thuận tiện hơn Tính phức tạpcùng với những đòi hỏi chặt chẽ về mặt chứng từ là một yếu tố gây khó khăn chocác nhà kinh doanh xuất nhập khẩu khi lựa chọn phương thức thanh toán này Tuy

Trang 10

nhiên tỷ trọng L/C trong năm 1999 có sự tăng lên (tuy không nhiều) đã đánh dấu

sự lớn mạnh và mở rộng đáng kể của mạng lưới thanh toán quốc tế của BIDVthông qua việc 20 chi nhánh được cấp giấy phép trực tiếp thực hiện hoạt độngthanh toán quốc tế Ngân hàng đã có thêm những khách hàng thuộc mọi thành phầnkinh tế, đặc biệt là các bạn hàng có thế mạnh về xuất nhập khẩu

Năm 1996 là năm có kim ngạch thanh toán L/C tương đối thấp

Đó là do sự có mặt của các Ngân hàng liên doanh, Ngân hàng nước ngoài

và các Ngân hàng thương mại cổ phần đã làm cho môi trường cạnh tranh trở nênnóng bỏng Những Ngân hàng này kéo những khách hàng là cổ đông hay có tàikhoản đến giao dịch và mở L/C qua chúng Bên cạnh đó, những Ngân hàng trongnước với ưu thế hơn hẳn về khách hàng, thị trường và kinh nghiệm trong hoạt độngthanh toán quốc tế như Vietcombank chính là một sự cản trở đối với BIDV

Những Ngân hàng này có mối quan hệ rộng rãi và bề dày trong lĩnh vực đốingoại đã thiết lập được một chỗ đứng vững chắc trong lòng khách hàng; trong khi

đó BIDV chỉ với 7 năm thực tiễn hoạt động trong thanh toán quốc tế thì chưa thểtheo kịp các Ngân hàng đã đi trước Để vượt qua khó khăn này, từng bước khẳngđịnh vị trí và vai trò của mình, tạo dựng niềm tin và thu hút khách hàng, BIDVkhông còn cách nào khác là phải nỗ lực vượt bậc bằng cách đổi mới trong phươngthức làm việc, cung cấp cho khách hàng những ưu đãi như giảm lệ phí, đơn giảnhoá trong thủ tục và quy trình thanh toán, tận tình chu đáo trong phục vụ và đemlại cho khách hàng những dịch vụ hoàn hảo

Sang năm 1997, cũng như bao Ngân hàng khác trong khu vực, BIDV cũngphải đối mặt với những khó khăn của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Sự suygiảm và đổ vỡ hàng loạt của các Ngân hàng ở Singapore, Thái Lan đã làm thịtrường của BIDV bị thu hẹp Trong thời gian này với những chính sách về lãi suất,chính sách khách hàng nên BIDV không những đã giữ được những khách hàng cũ

mà còn giao dịch với nhiều khách hàng mới Cơn lốc của cuộc khủng hoảng đãkhông làm kim ngạch thanh toán L/C của BIDV giảm đi mà trái lại có xu hướngtăng lên tuy rằng không đáng kể

Năm 1998, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ về cơ bản đã được khắcphục song tình hình hoạt động xuất nhập khẩu trong nước và khu vực vẫn chưasáng sủa Đặc biệt năm 1998 có hai đợt biến động tỷ giá lớn gây ảnh hưởng đến

Trang 11

các nhà xuất nhập khẩu Nhưng BIDV đã không bị cuốn theo vòng xoáy đó Điềunày có vẻ khó tin nhưng sự tăng lên một cách vững chắc kim ngạch thanh toán L/C

đã phản ánh trung thực khả năng kinh doanh của BIDV BIDV không những đã trụvững mà đang tiếp tục đi lên Tuy nhiên cũng phải đề cập đến hai yếu tố có tínhchất hỗ trợ, đó là trong giai đoạn này, các nước trong khu vực đang trong thời kìphục hồi kinh tế nên họ mong muốn gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu nhằm bảođảm thặng dư ngoại tệ và mục tiêu tiếp theo là bù đắp cho khoản thâm hụt nặng nềcủa quỹ dự trữ ngoại tệ trong thời kì khủng hoảng Tính đến năm 1999, BIDV đã

có quan hệ với hơn 500 Ngân hàng, tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế BIDV đãkhông ngừng nâng cao uy tín và củng cố vị trí của mình trong lĩnh vực xuất nhậpkhẩu đặc biệt là trong phương thức tín dụng chứng từ Các cán bộ thanh toán viênkhông ngừng học hỏi để thực hiện quy trình nghiệp vụ theo quy định Trong thờigian hoạt động của mình, tỷ lệ L/C được thanh toán đúng hạn là rất lớn

BIDV cũng đã phát huy được tính chủ động và tự chịu trách nhiệm về kếtquả kinh doanh nên thành tựu mà Ngân hàng đạt được trong thời gian qua là hoàntoàn xứng đáng Tuy nhiên Ngân hàng cũng gặp phải những khó khăn xuất phát từthực tế khách quan và những hạn chế của bản thân Ngân hàng Đó là trang thiết bịcủa Ngân hàng tuy đã đầu tư hiện đại hóa nhưng vẫn chưa đồng bộ, sự sắp xếp tổchức trong nội bộ Ngân hàng vẫn còn những điểm chưa hợp lý Ngoài ra, Ngânhàng còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khác mà ở tình trạng một Ngân hàngcòn non trẻ trong lĩnh vực thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ như BIDV thìchưa thể giải quyết hết được Chính vì thế mà trong những năm vừa qua, trong hoạtđộng của mình, BIDV đã để xảy ra nhiều tranh chấp Chúng có thể bắt nguồn từphía khách hàng, các Ngân hàng bạn, các yếu tố khách quan khác hay do chính bảnthân Ngân hàng Nhưng dù là từ đâu đi nữa thì những tranh chấp này cũng đã ảnhhưởng không nhỏ đến công tác thanh toán tín dụng chứng từ của Ngân hàng

3 THỰC TRẠNG TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.

3.1 Tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp theo phương thức tíndụng chứng từ

Trang 12

Quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được phát triển đã thúc đẩy mạnh mẽhoạt động thương mại quốc tế cũng như hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam

và các nước khác Nhưng xuất nhập khẩu là một hoạt động kinh tế phức tạp liênquan đến quyền lợi của những đối tác ở các quốc gia khác nhau, có tập quán buônbán khác nhau nên việc thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu dù bằng phương thứcnào cũng dễ xảy ra tranh chấp Khi lựa chọn phương thức TDCT tức là các nhàxuất nhập khẩu đã tham gia vào một phương thức thanh toán quốc tế đảm bảo sự

an toàn cho tất cả các bên Tuy nhiên, TDCT vẫn không phải là biện pháp an toàntuyệt đối với người mua, người bán và các tranh chấp vẫn thường xuyên xảy ramặc dù có sự tham gia của Ngân hàng với vai trò là trung gian đứng ra thanh toán.BIDV cũng không phải là một ngoại lệ khi Ngân hàng mới chỉ có 7 năm kinhnghiệm trong lĩnh vực này

Tại BIDV, các tranh chấp xảy ra trong cả thanh toán hàng hoá nhập khẩu

và hàng hoá xuất khẩu

Biểu 1: Tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp L/C hàng nhập

Biểu trên đã cho thấy tỷ lệ L/C hàng nhập không có tranh chấp ở BIDVkhông phải là cao (chỉ chiếm có 48%) Tuy nhiên, những tranh chấp này thườngkhông phải là những tranh chấp lớn mà chủ yếu là những bất đồng thông thườnggiữa các bên tham gia Nếu tính đến cả những bất đồng nhỏ nhất như chứng từ gốcđược yêu cầu xuất trình thiếu dấu ORIGINAL hay việc lập chứng từ không đúngphương pháp mà UCP 500 quy định thì trong số 2974 món L/C hàng nhập được

Gi¶i quyÕt tranh chÊp L/C hµng nhËp cã hiÖu qu¶

Gi¶i quyÕt tranh chÊp L/C hµng nhËp kh«ng hiÖu qu¶

Trang 13

mở của toàn bộ hệ thống có tới gần 1500 món BIDV đã phải thông báo bất đồng.Trong khi đó, năm 1998 chỉ có hơn 1000 món trên 2370 món xảy ra bất đồng Nhưvậy là tỷ lệ những bộ chứng từ có bất đồng mà BIDV nhận được trong năm quakhông giảm đi mà thậm chí còn tăng lên Tuy nhiên, nếu như năm 1998, BIDV đãphải từ chối thanh toán hàng trăm trường hợp vì những sai sót nghiêm trọng từphía nước ngoài như chứng từ không đúng người ký phát, chứng từ vận tải khôngphải là chứng từ vận tải hoàn hảo thì trong năm vừa qua, số L/C hàng nhập màNgân hàng phải từ chối thanh toán chỉ chiếm 9,2% trong tổng giá trị L/C được mởtại Ngân hàng Những trường hợp xảy ra bất đồng, Ngân hàng đã tìm cách giảiquyết ổn thoả tức là phía nước ngoài đã phải chấp nhận những sai sót mà BIDVthông báo Con số này chiếm tới 43,8% cao hơn năm 1998 là 4,2% Đây là một dấuhiệu đáng mừng trong công tác thanh toán của Ngân hàng vì nó chứng tỏ trình độnghiệp vụ và kinh nghiệm của các thanh toán viên đã có sự tiến bộ trong giải quyết

và xử lý các bộ chứng từ có bất đồng Trong năm 1999 cũng có rất ít các trườnghợp mà mâu thuẫn giữa BIDV và phía đối tác về thanh toán hàng hoá nhập khẩuphải nhờ đến sự can thiệp của toà án và trọng tài kinh tế Nhưng để hạn chế nhữngảnh hưởng không tốt đến hoạt động và uy tín của Ngân hàng thì cần có những biệnpháp hữu hiệu để giảm tỷ lệ số bộ chứng từ L/C hàng nhập giải quyết không hiệuquả xuống thấp hơn nữa

Biểu 2: Tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp L/C hàng xuất

Gi¶i quyÕt tranhchÊp L/C hµngxuÊt cã hiÖu qu¶

Gi¶i quyÕt tranhchÊp L/C hµngxuÊt kh«ng hiÖuqu¶

Trang 14

Tranh chấp về L/C hàng xuất cũng là vấn đề bức xúc Có đến gần 60% bộchứng từ L/C hàng xuất của các nhà xuất khẩu Việt Nam mà BIDV đóng vai trò làNgân hàng thông báo, Ngân hàng xác nhận bị phía bạn thông báo bất hợp lệ Trong

đó có những bất đồng mà BIDV đã bác bỏ hợp lý, bảo vệ được quyền lợi của cácdoanh nghiệp hoạt động xuất khẩu trong nước Nhưng nhiều trường hợp BIDVcũng phải chấp nhận những bất đồng mà Ngân hàng nước ngoài thông báo và cácnhà xuất khẩu Việt Nam phải lập lại bộ chứng từ hoặc chuyển sang nhờ thu Cótrường hợp tranh chấp gây thiệt hại nặng cho khách hàng của BIDV cũng như bảnthân Ngân hàng Các khách hàng không thu được tiền bán hàng, bị mất tiền do phảithanh toán cho các chứng từ giả hoặc bị trừ tiền hàng, bị kéo dài thời gian thanhtoán Ngân hàng cũng bị giảm uy tín, bị mất khách hàng nếu như không bảo vệđược quyền lợi chính đáng của khách hàng khi có tranh chấp Đối với những tìnhhuống tranh chấp L/C hàng xuất nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của thư tín dụng,Ngân hàng phải kết hợp chặt chẽ với khách hàng cũng như phía nước ngoài để tìm

ra phương án giải quyết tốt nhất

3.2 Các tranh chấp thường xảy ra tại Ngân hàng đầu tư và phát triển ViệtNam

3.2.1 Các tranh chấp về nội dung, hình thức chứng từ

 Tranh chấp liên quan đến chứng từ vận tải

Vận đơn đường biển

Là chứng từ vận tải do người chuyên chở (chủ tàu, thuyền trưởng) cấp chongười gửi hàng nhằm xác nhận hàng hóa đã tiếp nhận để vận chuyển

Trong các phương thức vận tải mà BIDV tiếp xúc, vận tải đường biển luônchiếm tỷ lệ lớn nhất về khối lượng hàng hóa được chuyên chở do đặc thù củaphương tiện này là có trọng tải lớn so với các phương tiện khác và quãng đườngvận chuyển được rút ngắn nên chi phí thường thấp hơn Chính vì vậy, vận đơnđường biển luôn được Ngân hàng yêu cầu đưa ra trong bộ chứng từ đòi tiền của L/C

Mỗi hãng vận chuyển đều có vận đơn riêng nhưng về nội dung chúng đều

có điểm chung: Mặt trước ghi tên người gửi hàng, cảng dỡ hàng, cảng bốc hàng,tên hàng, ký mã hiệu, số lượng kiện, trọng lượng, giá cả tổng giá trị, cách trả cước,

số bản gốc đã lập, ngày tháng cấp vận đơn, mặt sau ghi các điều kiện chuyên chở

Trang 15

hàng Trên vận đơn chứa đựng nhiều chi tiết quan trọng như vậy đòi hỏi Ngânhàng phải kiểm tra rất kĩ lưỡng Đó cũng chính là những chi tiêt có thể dẫn tới việcphát sinh những mâu thuẫn, cụ thể là tại BIDV, những vấn đề rắc rối xung quanhvận đơn đường biển là:

- Hàng đến cảng trước khi người mua nhận được chứng từ vận tải Do thựchiện buôn bán quốc tế, những giao dịch giữa khách hàng của hai nước gần nhau:Việt Nam với các nước trong Asean như Thái Lan, Singapore Tàu thủy chỉ đitrong vòng 2 - 3 ngày trong khi chứng từ phải được soạn thảo, qua thủ tục haiNgân hàng, gửi qua bưu điện không dưới một tuần từ người hưởng đến người mởthư tín dụng

- Một chứng từ có phải là vận đơn đường biển hay không Vì vận đơnđường biển là loại chứng từ phức tạp nhất, dễ bất hợp lệ nhất nên luôn có sự tranhcãi trong quá trình kiểm tra của Ngân hàng về tính chân thực của chứng từ

- Hàng đã bốc lên tàu hay chưa Nói chung L/C đều xuất trình vận đơnđường biển "đã bốc" Đây là một thông lệ đối với vận tải và thương mại quốc tế.Khi hàng đã được bốc lên tàu người chuyên chở phải chịu trách nhiệm pháp lý với

số hàng hoá đó đồng thời người bán cũng chứng minh được nghĩa vụ của mìnhtrong hợp đồng thương mại ký với người mua Nhưng thực tế và biểu hiện trên bềmặt chứng từ liệu có trùng khớp hay không?

Vận đơn hàng không

Là chứng từ vận tải do cơ quan vận tải hàng không cấp cho người gửi hàng

để xác nhận việc gửi hàng, chức năng của vận đơn hàng không là bằng chứng chohợp đồng chuyên chở đã được ký kết và làm biên lai nhận hàng Nội dung của vậnđơn hàng không cũng bao gồm những chi tiết tương tự như trên vận đơn đườngbiển nhưng chứng từ vận tải hàng không có chức năng người sử dụng hàng hóa,không có giá trị lưu thông

Vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đưòng hàng không ngày càngtrở nên phổ biến do ưu thế của nó là tiết kiệm thời gian chuyên chở tuy rằng cướcphí cao Vì vậy, khi tiếp nhận bộ chứng từ đòi tiền thay vì chỉ tiếp nhận loại chứng

từ vận tải đường biển trong truyền thống thì nay Ngân hàng tiếp cận thêm với loạivận đơn này Tuy nhiên vẫn chưa có ý kiến thống nhất trong việc xác định các điều

Trang 16

kiện để chấp nhận vận đơn hàng không Và đây chính là một trong khả năng dễ xảy

 Tranh chấp liên quan đến tính đầy đủ của bộ vận đơn được xuất trình.Vận đơn là chứng từ quan trọng nhất trong các chứng từ giao hàng nênNgân hàng luôn thận trọng trong việc kiểm tra tính đầy đủ của bộ vận đơn Mặc dùđiều này đã được quy định rất rõ trong UCP 500 nhưng trong quá trình thực hiệnthanh toán, BIDV vẫn gặp phải những trường hợp các bên tham gia không nắm rõhoặc cố tình không tuân thủ dẫn đến phát sinh tranh chấp Điều 23a (iv) UCP 500yêu cầu vận đơn đường biển phải xuất trình bản độc nhất của vận đơn hoặc toàn bộvận đơn được cấp Thông thường vận đơn được lập ba bản (bản1, bản 2, bản 3) cógiá trị ngang nhau Một trong chúng được sử dụng để nhận hàng thì các bản còn lạihết giá trị

Còn vận đơn hàng không do người giữ hàng điền vào 3 bản chính rồi đượcgiao cho người chuyên chở cùng với hàng hoá Bản thứ nhất có đóng dấu "để chongười chuyên chở" thì do người gửi hàng ký tên, bản thứ hai đóng dấu "để chongười nhận hàng" thì do người chuyên chở cùng người gửi hàng ký tên, bản thứ ba

có chữ ký của người chuyên chở được trả lại cho người gửi hàng sau khi ngườichuyên chở đã nhận hàng

 Tranh chấp liên quan đến tính hoàn hảo của bộ chứng từ vận tải

Điều 32a UCP 500 có quy định một chứng từ vận tải hoàn hảo/sạch là mộtchứng từ vận tải không có phê chú xấu một cách rõ ràng về tình trạng có khuyết tật

Trang 17

của hàng hoá hoặc bao bì Người xin mở thư tín dụng rất chú ý đến điều khoản này

vì liên quan đến vấn đề đảm bảo chất lượng và số lượng hàng hóa Trong thực tế,vấn đề chứng từ vận tải không sạch là một trong lý do từ chối thanh toán phổ biếncủa BIDV

Vận chuyển hàng hóa trong container gắn liền với vận tải đa phương thức

là một nét tiêu biểu của vận tải trong buôn bán quốc tế Liên quan đến vấn đề này,các bên tham gia cần chú ý tới một số thuật ngữ về việc xếp hàng hóa trongcontainer được thể hiện trên bề mặt chứng từ vận tải dễ gây ra hiểu lầm và là nhân

tố cản trở thanh toán Đó là thuật ngữ FCL và LCL

FCL (Full container loading): container đầy, người xếp hàng trong trườnghợp này là người xếp hàng thực sự và hàng hóa trong container là thuộc về mộtngười nhận hàng

LCL (Less container loading): container không đầy, người xếp hàng trongtrường hợp này có thể là consolidator hoặc người chuyên chở container thực tế.Hàng hóa trong container thường thuộc về người nhận hàng và có một số vận đơnđược phát hành Mỗi vận đơn phát hành cho một người nhận hàng tương ứng

Có thể đơn cử một ví dụ về sự không hoàn hảo của bộ chứng từ vận tải:Ngày 25/8/99 Tổng công ty VINA, Việt Nam yêu cầu BIDV mở một L/C khôngthể huỷ ngang, trả ngay được xác nhận, người hưởng là Chapao company, Ltd,Thailand, Ngân hàng thông báo đồng thời là Ngân hàng xác nhận Bangkok Bank

Trong L/C quy định người hưởng lợi xuất trình bộ chứng từ vận tải nhưsau: "A full set of clean "Shipped on board" ocean bill of loading made out toorder

of issuing bank, blank endonsed marked "Feight prepaid" and nolify theaccountee” nghĩa là "một bộ đầy đủ vận đơn đường biển, hoàn hảo, hàng đã bốc,làm theo lệnh của Ngân hàng phát hàng, ký hậu để trắng, cước phí trả trước vàthông báo cho người nhập khẩu"

Sau khi giao hàng, người hưởng lợi xuất trình chứng từ đến Bangkok Bank

và được trả tiền ngay Bangkok Bank điện đòi Ngân hàng phát hành là BIDV vàgửi chứng từ cho BIDV Sau khi kiểm tra lại chứng từ BIDV từ chối thanh toán vì:

- Tên B/L of Chapao company không có chú thích chứng minh là một B/Lhoàn hảo (clean B/L) mà chỉ ghi là "shipped on board"

- Dùng cụm từ CY/CY thay cho FCL/FCL

Trang 18

Bangkok Bank đã không đồng với những bất hợp lý này và tranh chấp phátsinh.

 Tranh chấp liên quan tới các chứng từ khác

Hoá đơn thương mại

Hoá đơn thương mại là chứng từ quan trọng, là căn cứ để trả tiền (trongtrường hợp không có hối phiếu) Chính vì thế, hóa đơn thương mại cũng là mộttrong những chứng từ dễ gây ra mâu thuẫn trong quá trình kiểm tra, xử lý bộ chứng

từ đòi tiền của Ngân hàng, chủ yếu xoay quanh các vấn đề:

- Số bản của hoá đơn không đủ theo yêu cầu của L/C: hoá đơn thường đượclập thành nhiều bản để dùng trong nhiều trường hợp khác như: xuất trình cho Ngânhàng để đòi tiền hàng, xuất trình cho công ty bảo hiểm để tính phí bảo hiểm, chohải quan để tính thuế Riêng đối với Ngân hàng khi kiểm tra bộ chứng từ, số lượngbản hoá đơn luôn được yêu cầu tuân thủ Ngược lại Ngân hàng sẽ từ chối thanhtoán

- Bất hợp lệ về tên và địa chỉ của người giữ hàng do người lập hoá đơn ghisai, thiếu tên công ty Đây là một thực tế rất hay gặp tại BIDV Điều đó xuất phát

từ việc Việt Nam đang trong khung cảnh của một nền kinh tế mở, các công ty, cácđơn vị xuất nhập khẩu Việt Nam vì muốn mở rộng hoạt động nên sử dụng tên gọicông ty, đơn vị vừa bằng tiếng Việt, vừa bằng tiếng nước ngoài và tên gọi tắt Điềunày cũng có mặt tích cực nhưng trong thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu bằng L/

C thì chỉ dùng một tên gọi mà thôi do vậy thường dẫn đến những sai sót về tên gọicủa người gửi hàng so với các quy định của công ty

- Vận đơn: Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu Chợ Lớn có tên giao dịchđối ngoại là: CHOLON IMPORT EXPORT COMPANY gọi tắt là CHOLIMEX.Khi công ty được Ngân hàng mở L/C thì trong L/C có quy định tên công ty là

"CHOLON IMPORT EXPORT COMPANY" nhưng khi lập hoá đơn, công ty cóthể phạm sai lầm như ghi tên công ty là "CHOLON IMPORT EXPORTCOMPANY CHOLIMEX” hoặc chỉ ghi "CHOLON IMPORT EXPORT" Mặc dùbiết rõ cùng là một công ty nhưng về mặt nguyên tắc Ngân hàng vẫn phải từ chốitrả tiền

- Trị giá hoá đơn: tên hoá đơn bao giờ cũng ấn định một số tiền cụ thể đểngười hưởng lợi giao hàng Số tiền đòi theo thư tín dụng có thể là 100% trị giá hoá

Trang 19

đơn hoặc nhỏ hơn Nếu số tiền đòi lớn hơn số tiền thư tín dụng cho phép thì cóquyền từ chối thanh toán Nếu Ngân hàng chấp nhận (thường với tư cách Ngânhàng đòi tiền hoặc Ngân hàng mở, xác nhận thư tín dụng) thì quyết định này sẽràng buộc các bên liên quan Nhưng thực tế Ngân hàng đều từ chối hoá đơn ghivượt số tiền và khuyên người hưởng nên lập riêng hóa đơn của số tiền vượt và nhờthu để tránh gây hậu quả rắc rối, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Ngân hàng vàkhách hàng.

- Sự mô tả hàng hóa trong hoá đơn Điều dễ hiểu là chứng từ càng nhiều chitiết diễn giải càng dễ sai sót nhưng đối với các doanh nghiệp Việt Nam do chưanắm vững về nghiệp vụ nên không xác định được dữ liệu nào cần và được dữ liệunào không cần đưa vào chứng từ giao hàng để đơn giản hoá nhưng vẫn đảm bảotính hợp lệ của chúng Với tâm lý thà thừa còn hơn thiếu, các nhà xuất khẩu nhiềukhi đã gây ra những sai sót không đáng có, làm nảy sinh những mâu thuẫn giữa haibên Ngân hàng và khách hàng

Chứng từ bảo hiểm

Là một trong những chứng từ quan trọng của thư tín dụng với điều kiệngiao hàng theo giá CIP hay giá CIF Người hưởng phải xuất trình bảo hiểm đơnhoặc chứng nhận bảo hiểm hoặc bản khai theo bảo hiểm ngõ để chứng minh nghĩa

vụ của mình đối với hợp đồng thương mại và đáp ứng yêu cầu cuả thư tín dụng

Các yếu tố Ngân hàng luôn chú ý khi kiểm ra chứng từ bảo hiểm là :

- Loại chứng từ bảo hiểm có đúng L/C yêu cầu không, có đúng do công tybảo hiểm hay đại lý của họ phát hành không Các bảo hiểm tạm thời do người môigiới cấp sẽ không được Ngân hàng chấp nhận trừ khi có sự uỷ quyền đặc biệt trongL/C

- Việc ký hậu của người mua bảo hiểm Dù người bán mua bảo hiểm hànghóa cho mình nhưng khi bán hàng hóa lại cho người mua thì quyền sở hữu hànghóa sẽ chuyển sang người mua Do đó người bán chuyển quyền được bảo hiểmsang cho người mua hàng hóa bằng cách ký hậu vào bản hợp đồng Việc ngườimua không ký hậu hay ký hậu không hợp lệ sẽ làm nảy sinh những bất đồng giữacác Ngân hàng , đặc biệt khi Ngân hàng không phát hiện kịp thòi sai phạm đó

Do đặc điểm của chứng từ bảo hiểm là chịu sự điều chỉnh sát sao hơn, cácđiều khoản của hợp đồng hay chứng nhận bảo hiểm khó thay đổi hơn so với các

Ngày đăng: 30/10/2013, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC HỆ THỐNG NHĐT&PTVN - THỰC TRẠNG TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
amp ;PTVN (Trang 1)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TẠI NHĐT&PTTW - THỰC TRẠNG TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
amp ;PTTW (Trang 5)
Bảng 1 : Doanh số thanh toán quốc tế qua các năm - THỰC TRẠNG TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 1 Doanh số thanh toán quốc tế qua các năm (Trang 8)
Bảng 2: Doanh số thanh toán L/C qua các năm. - THỰC TRẠNG TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 2 Doanh số thanh toán L/C qua các năm (Trang 9)
Sơ đồ 3: Quy trình nghiệp vụ thanh toán hàng nhập bằng L/C. - THỰC TRẠNG TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Sơ đồ 3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán hàng nhập bằng L/C (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w