1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng đưa tin về người sử dụng ma túy trên báo in hiện nay

121 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Đưa Tin Về Người Sử Dụng Ma Túy Trên Báo In Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Thoan
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Tố Quyên
Trường học Học viện báo chí và tuyên truyền
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do ở trên tác giả đã lựa chọn thực hiện đề tài nghiên cứu "Thực trạng đưa tin về người sử dụng ma túy trên báo in hiện nay", để có một cái nhìn cụ thể chính xác về hình ảnh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THOAN

THỰC TRẠNG ĐƯA TIN VỀ NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY

TRÊN BÁO IN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THOAN

THỰC TRẠNG ĐƯA TIN VỀ NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY

TRÊN BÁO IN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số : 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Tố Quyên

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Nguyễn Chí Dũng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Tố Quyên

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, dựa vào kết quả phân tích ba tờ báo in Các tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Học viên

Nguyễn Thị Thoan

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Tố Quyên, người cô đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi, định hướng và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học của Học viện Báo chí và tuyên truyền cùng các các thầy cô giáo đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quan trọng, đồng thời hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn

Tôi cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ tâm lý cho người nghiện ma túy cùng các cán bộ nhân viên của ba tòa soạn báo: báo Công an nhân dân, báo Pháp luật Việt Nam, báo Lao động, đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin và số liệu cho luận văn

Sau cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và các anh chị đồng nghiệp, các anh chị cùng khóa học đã luôn khuyến khích, động viên

và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Học viên

Nguyễn Thị Thoan

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Biểu 2.1 Tỷ lệ các bài viết đưa tin về người sử dụng ma túy trên ba tờ báo (%)… 43

Biểu 2.2 Mức độ tiêu đề phản ánh nội dung bài viết (%)………… 46

Biểu 2.3 Phân tích cách đặt tiêu đề bài báo trong ba tờ báo in (%) 47

Biểu 2.4 Thể loại bài viết về người sử dụng ma túy được báo đăng tải (%) 49 Biểu 2.5 Ngôn ngữ được sử dụng trong các bài viết về NSDMT được báo đăng tải (%) 52

Biểu 2.6 Số lượng bài viết về NSDMT có hình ảnh được đăng tải trên ba tờ báo (%) 54

Biểu 2.7 Nội dung hình ảnh được đăng tải trong các bài viết về NSDMT trên ba tờ báo (%) 55

Biểu 3.1 Số lượng bài báo đề cập đến tên NSDMT được đăng tải (%) 59

Biểu 3.2 Bảng phân tích người SDMT theo giới tính được báo đăng tải (%) 61

Biểu 3.3 Độ tuổi của người sử dụng ma túy được đăng tải trong các bài báo (%) 62 Biểu 3.4 Trình độ học vấn của NSDMT được báo đăng tải (%) 64

Biểu 3.5 Vùng miền sinh sống của người sử dụng ma túy được đăng tải trên các bài báo (%) 66

Biểu 3.6 Bảng phân tích tỷ lệ NSDMT theo khu vực sinh sống được đăng tải trên báo (%) 68

Biểu 3.7 Điều kiện kinh tế gia đình của NSDMT được báo đăng tải (%) 70

Biểu 3.8 Tình trạng hôn nhân của NSDMT được báo đăng tải (%) 72

Biểu 3.9 Nguyên nhân dẫn tới hành vi SDMT của NSDMT được báo đăng tải (%) 75

Biểu 3.10 Sự khác biệt giữa các nhóm giới tính NSDMT trong việc nhận thức về MT và tác hại của nó (%) 76

Biểu 3.11 Hành vi phạm tội của người SDMT được báo đăng tải (%) 78

Biểu 3.12 Các mức xử lý đối với NSDMT được báo đăng tải (%) 79

Biểu 3.13 Cách thức mua, lấy ma túy của NSDMT được đăng tải trên các báo (%) 81

Biêu 3.14 Tương quan giữa nhóm giới tính và địa điểm thực hiện hành vi SDMT (%) 83

Biểu 3.15 Hình thức sử dụng ma túy được các báo đăng tải (%) 84

Biểu 3.16 Hậu quả của ma túy đối với bản thân NSDMT được báo đăng tải (%) 86 Biểu 3.17 Tác hại của ma túy đến gia đình NSDMT được báo đăng tải (%) 88 Biểu 3.18 Hậu quả của hành vi SDMT đến xã hội được báo đăng tải (%)….91

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 17

1.1 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài 17

1.2 Các hướng tiếp cận và lý thuyết áp dụng trong đề tài 30

Chương 2: CÁCH THỨC ĐƯA TIN TRONG CÁC BÀI VIẾT VỀ NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY TRÊN BÁO IN 40

2.1 Giới thiệu sơ lược về ba tờ báo được lựa chọn nghiên cứu 40

2.2 Cách thức đưa tin về người sử dụng ma túy trên báo in 43

Chương 3: CHÂN DUNG NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY ĐƯỢC ĐĂNG TẢI TRÊN BÁO IN 58

3.1 Chân dung người sử dụng ma túy thể hiện qua các bài viết được báo đăng tải 58

3.2 Nhận thức và những đặc điểm về hành vi sử dụng ma túy của người sử dụng ma túy được báo đăng tải 74

3.3 Hậu quả của ma túy đối với bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội được đăng tải trên ba tờ báo 85

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU

1 BCAND Báo Công an nhân dân

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lạm dụng chất gây nghiện nói chung và nghiện ma túy nói riêng đã trở thành vấn đề nóng bỏng rất cần sự can thiệp và giải quyết của tất cả các quốc gia trên thế giới Sử dụng ma túy không chỉ để lại những hệ lụy lâu dài đối với bản thân và gia đình người sử dụng ma túy mà nó còn gây ra nhiều hậu quả nặng nề cho toàn xã hội Từ năm 1986 thực hiện chương trình Đổi mới, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra nhiều thành tựu to lớn trong phát triển nền kinh tế xã hội Tuy nhiên sự phát triển nhanh chóng đó cùng với quá trình toàn cầu hóa đã tạo môi trường thuận lợi cho sự gia tăng của các tệ nạn xã hội, trong đó có việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán và sử dụng trái phép chất ma túy Theo số liệu thống kê của Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm trong những năm gần đây số lượng, số vụ, số loại ma túy được buôn bán ngày càng tăng, điều này làm gia tăng đáng kể số người sử dụng ma túy tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới

Theo số liệu thống kê của Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS thì năm

2012 cả nước có khoảng 170.000 người nghiện ma túy, so với cuối năm 1994,

số người nghiện ma túy đã tăng khoảng 2,7 lần với mức tăng xấp xỉ 10.000 người nghiện mỗi năm Tháng 12/2013 toàn quốc quản lý gần 181,400 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, tăng 9.396 người (5,4%) so với năm 2012 Tháng 9 năm 2014 cả nước có 204.377 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý tăng gần 4 lần trong 20 năm kể từ năm 1994 đến nay Như vậy để thấy rằng tình hình sử dụng ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, số lượng người sử dụng ma túy ngày càng tăng và đối tượng sử dụng ngày càng trẻ hóa

Trang 10

Ma túy nói riêng và các tệ nạn xã hội nói chung vẫn luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, đã có rất nhiều các biện pháp khác nhau

để ngăn chặn vấn đề này Một trong những biện pháp được sử dụng phổ biến nhằm góp phần nâng cao nhận thức của công chúng về tác hại của ma túy, từ

đó công chúng có cái nhìn đúng nhất về ma túy và cùng chung tay đấu tranh phòng chống ma túy, giảm thiểu số người tìm đến và sử dụng nó đó chính là truyền thông đại chúng

Ở các nước phát triển họ đã áp dụng các mô hình truyền thông khác nhau

để đăng tải thông tin về người sử dụng ma túy, sao cho có sự tương tác một cách hiệu quả nhất, người tiếp cận thông tin thấy được tác hại của việc sử dụng ma túy và thấu hiểu được những hệ lụy đau đớn của chính bản thân người sử dụng ma túy và người thân của họ, từ đó có một cái nhìn đồng cảm, không có sự kỳ thị với những người sử dụng ma túy Ở Việt Nam khi nhắc đến ma túy, người nhận được thông tin thấy được tác hại, mối nguy hiểm, cũng như thấy được tầm quan trọng của việc chung tay đẩy lùi tệ nạn ma túy này Người tiếp nhận thông tin nhiều khi chịu ảnh hưởng của các bài viết nên

có cái nhìn không thiện cảm với những người sử dụng ma túy, họ luôn cảm thấy hoang mang, ghê sợ khi nhắc tới người sử dụng ma túy từ đó trong bản thân họ hình thành những định kiến về người sử dụng ma túy khiến cho những người sử dụng ma túy bị xa lánh, bị cô lập trong xã hội

Cần xem xét cách thức đưa tin về người sử dụng ma túy trên các phương tiện truyền thông một cách nghiêm túc để có thể thấy được truyền thông Việt Nam đã phản ánh những gì trong cách đưa tin về người sử dụng ma túy và còn thiếu hụt những thông tin gì trong việc đăng tải thông tin về người sử dụng ma túy nhằm thay đổi ngày một phát triển và tiến bộ hơn Do truyền thông có nhiều loại hình khác nhau trong khuôn khổ để tài của mình, tác giả lựa chọn phân tích việc đưa thông tin về người nghiện ma túy trên báo in để thấy được những nội dung, hình ảnh người sử dụng ma túy được tái hiện

Trang 11

trong cách phản ánh của các nhà báo như thế nào? Từ những lý do ở trên tác

giả đã lựa chọn thực hiện đề tài nghiên cứu "Thực trạng đưa tin về người sử

dụng ma túy trên báo in hiện nay", để có một cái nhìn cụ thể chính xác về

hình ảnh người sử dụng ma túy trên các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung, và trên báo in nói riêng Cũng từ nghiên cứu này nhằm đánh giá, phân tích những mặt mạnh mà báo chí đã làm được, và những điểm cần phải

bổ sung để hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông về phòng chống ma túy ở Việt Nam hiện nay

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1 Tổng quan nghiên cứu về lĩnh vực truyền thông trên thế giới

Thuật ngữ truyền thông đại chúng được sử dụng lần đầu tiên trong Lời nói đầu của Hiến chương Liên Hiệp Quốc về Văn hóa – Khoa học và Giáo dục (UNESCO) năm 1946 Sau đó, thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng trong cả đời sống thường nhật và trong nghiên cứu khoa học Hiện nay, nhiều ngành khoa học cũng đã sử dụng truyền thông đại chúng như một trong những đối tượng nghiên cứu của mình

Việc nghiên cứu về lĩnh vực truyền thông là một trong những hình thức truyền thông gây được hiệu ứng mạnh mẽ trong xã hội, truyền thông đại chúng đã tạo được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà xã hội học trên thế giới Các công trình nghiên cứu về truyền thông đại chúng đã được bắt đầu tiến hành từ đầu thế kỷ XX, với cột mốc đáng quan tâm là những chiến dịch tuyên truyền của Hitler trên các phương tiện truyền

thông đại chúng từ năm 1933 trở đi Còn trong công trình Bùng nổ truyền

thông, sự ra đời một ý thức hệ mới, các tác giả đã nhận định rằng “trong thập

kỷ 40 các kỹ thuật truyền thông lại chịu một ngọn roi quất mạnh để chúng

chồm lên, khiến cho người ta có thể nói đến một sự “bùng nổ thật sự của

truyền thông” [45, tr.10]

Đầu những năm 2000, một số học giả nhân học, xã hội học đã có những bài viết trình bày những vấn đề liên quan đến truyền thông và các phương tiện

Trang 12

truyền thông đại chúng được công bố qua hai tuyển tập đã được xuất bản Đó

là tuyển tập Anthropology of indirect communication (Nhân chủng học về

Truyền thông gián tiếp) gồm 17 bài viết được xuất bản lần đầu vào năm 2001

và tái bản vào năm 2004; và tuyển tập The Anthropology of Media, A Reader

xuất bản lần đầu vào năm 2002, gồm 22 bài viết Đây là tuyển tập đề cập tới loại hình truyền thông gián tiếp xem xét từ góc độ nhân học, để thấy được nhiều khía cạnh của truyền thông gián tiếp Người đọc thấy được những thông điệp thông qua các hoạt động văn hóa của con người như: lễ hội, võ thuật, những minh họa từ ẩm thực do con người tạo ra… Năm 2002, công trình

Anthropology and Mass Communication, Media and Myth in the New Millennium, của Mark Allen Peterson được xem như là quyển sách đầu tiên

cung cấp một cái nhìn hệ thống về phông nền, chủ đề và phương pháp luận trong các cuộc đối thoại đang nổi lên giữa các nhà nghiên cứu truyền thông đại chúng và các nhà phân tích phương tiện truyền thông chuyển sang phân tích dân tộc học và phân tích văn hóa Tác phẩm đã phác họa trên cơ sở của hàng chục nghiên cứu biểu hiện, khảo sát mô tả chân dung con người, về đặc điểm dân tộc, về những vấn đề liên quan đến con người, những hoạt động văn hóa của con người thông qua các phương tiện truyền thông Với quan điểm lịch

sử nghiên cứu liên ngành tác phẩm xem xét cách thức làm việc trong nghiên cứu văn hóa, xã hội học, truyền thông đại chúng và một số chuyên ngành khác Cuốn sách là cơ sở lý luận cho việc tác giả đi phân tích chân dung, đặc điểm nhân khẩu học, các yếu tố văn hóa và những vấn đề liên quan đến người sử dụng ma túy trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Dưới góc độ xã hội học, truyền thông đại chúng được nghiên cứu như một quá trình xã hội, trong đó bao gồm nhiều yếu tố: nhà truyền thông, công chúng tiếp nhận, thông điệp, các kênh truyền thông… để truyền bá thông tin cho công chúng Trong xã hội học, các phương tiện truyền thông đại chúng được khảo sát và nghiên cứu như một thiết chế xã hội Lịch sử nghiên cứu về

Trang 13

truyền thông đại chúng được ghi nhận theo các giai đoạn khác nhau Có thể tóm tắt các giai đoạn như sau:

Ở giai đoạn đầu tiên, các nghiên cứu thuộc lĩnh vực truyền thông đại chúng đều hướng tới mô tả đặc trưng nhân khẩu học của công chúng báo chí, sau đó người ta quan tâm đến hành vi giao tiếp đại chúng của công chúng, xem đây như một dạng biểu hiện của hành động xã hội Các nhà xã hội học thời kỳ này còn ví truyền thông, các thông điệp của phương tiện truyền thông đại chúng như chích một liều thuốc, đây là mô hình mũi kim tiêm trong truyền thông đại chúng Có nghĩa các thông điệp truyền thông đại chúng tác động trực tiếp đến công chúng

Ở giai đoạn thứ hai, các nghiên cứu bắt đầu chú ý đến những tác động trực tiếp, thông qua những bước trung gian Ở giai đoạn này, những quan điểm đánh giá bi quan về vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng cũng

bị hạn chế hơn giai đoạn trước

Khi phân tích ảnh hưởng của truyền thông đại chúng, các nhà xã hội học như: Lazarsfed, Bernard Berelson và Hazel Gaude, Robert Merton… đã nhấn mạnh đến vai trò của các nhóm xã hội (bạn bè, gia đình, nhà trường, hàng xóm…) hay còn gọi là những “opinion leaders”(ý kiến đánh giá), điều này có nghĩa là nhấn mạnh vai trò “lọc” thông điệp từ truyền thông đại chúng của những nhóm xã hội này trước khi các thông điệp đến với các cá nhân

Giai đoạn ba, ngoài việc nghiên cứu công chúng và tác động của truyền thông đại chúng, các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến nội dung thông điệp của truyền thông đại chúng, quá trình truyền thông đại chúng, quá trình sản xuất các phương tiện truyền thông đại chúng, nghiên cứu đặc điểm của nhà truyền thông, hoạt động của họ “Culture studies” (nghiên cứu văn hóa) và lý thuyết không gian công cộng của Hebermans là một trường phái tiêu biểu trong giai đoạn này Một trong những chỉ báo quan trọng cho thấy hiệu quả

Trang 14

của truyền thông đại chúng mà các nhà nghiên cứu chỉ ra, đó là công chúng nhớ được thông điệp truyền thông

Giai đoạn thứ tư, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin vào cuối thế kỷ

XX đầu thế kỷ XXI, đã đem đến cho truyền thông đại chúng những khái niệm hoàn toàn mới như “truyền thông đa phương tiện”, và những loại hình truyền thông mới là báo mạng điện tử, tích hợp trong nó đầy đủ những kỹ thuật của các phương tiện truyền thông trước đây Giai đoạn này cũng đã chứng minh tính đa chiều trong tương tác giữa truyền thông đại chúng và công chúng Như vậy, có thể thấy trong nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng, hướng nghiên cứu nội dung truyền tải, cách truyền tải là một hướng nghiên cứu cơ bản bởi việc nghiên cứu này sẽ cho thấy động cơ, mục đích của nhà truyền thông đối với các sự kiện xã hội được phản ánh trong báo chí để trình bày với công luận nào đó, bên cạnh những hướng nghiên cứu xã hội học

về truyền thông đại chúng như về công chúng truyền thông, các nhà truyền thông, các ảnh hưởng của truyền thông đến xã hội thì nghiên cứu về nội dung truyền thông, cách đưa tin của truyền thông cũng là một hướng nghiên cứu

2.2 Một số hướng tiếp cận chính ở Việt Nam

Nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng ở Việt Nam chưa nhiều Thời gian đầu các nghiên cứu chỉ tập trung vào một chủ đề nào đó như về dân

số, phòng chống AIDS… Giai đoạn sau này, xã hội học truyền thông đại chúng mới đi sâu vào nghiên cứu về lý luận và thực nghiệm, trong thực nghiệm, tiếp tục đi sâu nghiên cứu về công chúng, thông điệp và hiệu quả truyền thông, có thể kể đến các tác phẩm nghiên cứu có tính hệ thống về xã hội học truyền thông của các nhà nghiên cứu khác nhau

Đóng góp đầu tiên về cơ sở lý luận trong việc nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng phải kể đến những bài viết của tác giả Mai Quỳnh Nam như:

“Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội”, tạp chí Xã hội học số 1, 1996;

Trang 15

“Đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng”, tạp chí Xã hội học số 2, năm

2000; “Vấn đề nghiên cứu và hiệu quả của truyền thông đại chúng”, Tạp chí Xã

hội học số 4, năm 2001… Đây là những bài viết tập trung vào đặc điểm của truyền thông đại chúng, đồng thời chỉ ra hướng nghiên cứu cơ bản của Xã hội học truyền thông đại chúng Đó là: Nghiên cứu công chúng, nghiên cứu tổ chức truyền thông và nhà truyền thông với vai trò là một tầng lớp trong xã hội, phân tích cách truyền thông thông điệp, cách thức tiếp nhận thông tin của công chúng, những thông điệp được truyền tải và hiệu quả của truyền thông đại chúng

Bài viết của tác giả Mai Quỳnh Nam trên Tạp chí Xã hội học số 2, 2002

về “Thông điệp về trẻ em trên báo hình, báo in” là một phần kết quả của cuộc nghiên cứu phân tích quốc tế về “hình ảnh trẻ em trên báo in” do Trung tâm

truyền thông ASIAN (AMIC) phối hợp với Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện năm 1999 Nghiên cứu đã đưa ra các kết luận thông qua việc phân tích thông điệp về trẻ em được thông tin trong tháng 10/1999 trên 10 tờ báo in

và 2 đài truyền hình Bên cạnh đó, tác giả đi sâu phân tích về số lượng tờ báo,

vị trí, thể loại, trang, mục, cách đưa tin về các vấn đề liên quan đến trẻ em trên các kênh truyền hình và báo in, đặc biệt là vấn đề của các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Chân dung công chúng truyền thông của tác giả Trần Hữu Quang (qua khảo sát xã hội học tại TPHCM), NXB Hồ Chí Minh, 2001 Tác phẩm là một

công trình có giá trị cả lý luận và thực tiễn về truyền thông đại chúng và công chúng ở Việt Nam Cuốn sách đã làm nổi bật lên ý tưởng về Truyền thông và phát triển, tác giả đã lựa chọn cách tiếp cận vấn đề từ phía công chúng – công chúng không phải như một đám đông mù mờ, mà là một công chúng cơ cấu;

và ngay cơ cấu này cũng mang một tiềm năng không ngừng chuyển động Tác giả cũng để ngỏ cho những hướng nghiên cứu tích cực về mối quan hệ giữa tiếp cận cơ cấu và tiếp cận văn hóa trong các nghiên cứu phát triển tiếp theo

Trang 16

Cuốn sách lưu ý đến tính gay gắt và cấp bách của việc tiếp tục nâng cao dân trí, tạo điều kiện cho phương thức tiếp cận và tiếp nhận thông tin đại chúng có thể đến được nhiều hơn với các nhóm xã hội bị thua thiệt về học vấn, về vị trí xã hội… Tác giả cũng đề nghị phải làm các thông điệp truyền thông Việt Nam trở nên dễ hiểu, có sức lôi kéo người bình dân hơn nữa – đặc biệt là báo viết, khi công cụ này cho phép công chúng giải mã với các thông tin Xuyên suốt cuốn sách là mối tương quan giữa truyền thông với công chúng và phát triển

Tiếp theo phải kể đến cuốn Xã hội học báo chí, Trần Hữu Quang, NXB

Trẻ, 2006 Là công trình nghiên cứu gần như hoàn thiện về toàn cảnh báo chí thế giới và lịch sử báo chí Việt Nam cho đến thời điểm này “Xã hội học báo chí” là một công trình nghiên cứu về các vấn đề căn bản của truyền thông đại chúng nói chung, báo chí nói riêng, theo nhãn quan xã hội học Đây là đóng góp đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu báo chí, bởi vì trước nay, có rất ít các công trình nghiên cứu được triển khai theo phương pháp này Cuốn sách tập trung trình bày về xã hội học truyền thông đại chúng nhưng chú trọng nhiều hơn tới lĩnh vực báo in Trong đó, nội dung bao gồm cách tiếp cận xã hội học đối với các quá trình truyền thông, đối với nghề làm báo và hoạt động của nhà báo, những quan điểm và những phương pháp phân tích xã hội học về công chúng truyền thông và nội dung truyền thông, cũng như về các tác động xã hội của truyền thông đại chúng, nó sẽ giúp người đọc phát hiện thêm những khía cạnh mới mẻ, những ý nghĩa bề sâu của một định chế xã hội đang phát triển mạnh nhưng còn chưa được nghiên cứu nhiều ở nước ta

Cuốn Truyền thông Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa (Tuyển tập bài

nghiên cứu truyền thông của khoa Xã hội học – Học viện Báo chí và tuyên truyền) Cuốn sách cho chúng ta thấy cần phải tìm hiểu các hoạt động truyền thông trong bối cảnh toàn cầu hóa như một hệ thống, có cơ cấu tồn tại và vận hành thống nhất Hệ thống đó bao gồm nhiều yếu tố cấu thành đang biến đổi

Trang 17

không ngừng, đa dạng và phức tạp, có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ nhất định trong mạng lưới truyền thông

Đề tài nghiên cứu “Khảo sát về truyền thông môi trường và bảo vệ môi

trường trên một số tờ báo lớn”, năm 2004 do tác giả Trương Xuân Trường là

chủ nhiệm đề tài có nội dung chính là khảo sát về các nội dung môi trường và bảo vệ môi trường được truyền tải, khảo sát về các thể loại báo chí khi đưa ra thông tin về vấn đề này Bên cạnh đó, đề tài còn tập trung nghiên cứu về tác giả của những tin bài được đăng tải; về các khu vự địa lý có trong bài viết, từ đó đánh giá thông tin Đây là một điển hình về phân tích cách đưa tin, nội dung, thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng

Đề tài Bất bình đẳng giới trong các quảng cáo tuyển dụng trên báo in,

nghiên cứu được thực hiện với sự phối hợp giữa Viện nghiên cứu về xã hôi, kinh tế và môi trường (iSEE) và Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2006 Đây là nghiên cứu trường hợp trên một số báo in nhằm xem xét vấn đề giới trong các quảng cáo tuyển dụng từ đó đánh giá cơ hội việc làm do các nhà tuyển dụng đưa ra đối với nam giới và nữ giới Nhìn chung kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự chênh lệch quá lớn về cơ hội tuyển dụng giữa ứng viên nam và nữ một cách trực tiếp qua yêu cầu về giới tính trong các quảng cáo tuyển dụng Tuy nhiên, khoảng cách giới vẫn tồn tại khi đi sâu phân tích khía cạnh cụ thể Các quảng cáo tuyển dụng vẫn tồn tại những định kiến giới theo hướng có lợi cho ứng viên nam hơn ứng viên nữ

Đề tài Hình ảnh người đồng tính trên báo mạng và báo in, nhóm nghiên

cứu của khoa Xã hội học – Học viện Báo chí và tuyên truyền thực hiện năm

2008 Đây là một nghiên cứu trường hợp trên một số báo in và báo mạng Qua nghiên cứu thấy được số lượng bài báo liên quan đến người đồng tính tăng dần theo thời gian, đồng tính thường xuất hiện như là chủ đề phụ trong bài viết hơn là chủ đề chính Trong nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ bài viết thể

Trang 18

hiện sự kỳ thị với người đồng tính tương đối cao Tuy nhiên, mức độ kỳ thị thay đổi theo thời gian Càng ngày sự kỳ thị với nhóm đồng tính càng giảm, mức độ trung tính càng tăng lên

Luận án Hiệu quả của các bài viết về bạo lực gia đình trên báo điện tử

hiện nay, Luận án tiến sĩ Phạm Hương Trà, 2011 Luận án đưa ra một số nhận

định tổng quát về hình thức, biểu hiện của bạo lực gia đình trên 6 báo điện tử mặc dù các bài báo về chủ đề bạo lực gia đình chiếm một tỷ lệ vẫn còn khiếm tốn Luận án cũng chỉ ra được việc lồng ghép những hình ảnh minh họa vào nội dung bài viết có tác động lớn tới công chúng Một số bài viết vẫn mang nặng yếu tố phổ biến truyền đạt còn tính hai chiều và tính diễn đàn chưa được phát huy Những ngôn ngữ giật gân, câu khách khi phản ánh về bạo lực gia đình vẫn tồn tại trên các báo điện tử Điều này không phù hợp với tư tưởng, tính định hướng chính trị, tính khoa học, tính chuyên nghiệp của báo điện tử Kết quả nghiên cứu của luận án cũng cho thấy nội dung thông tin các bài viết

về bạo lực gia đình đã có tác động nhất định đến hành vi ứng xử của công chúng báo điện tử khi được tiếp nhận, với xu hướng là công chúng kể lại câu chuyện mà họ đã đọc với người mà học trao đổi thông tin

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học: Nghiên cứu hiệu quả báo chí

trong hoạt động truyền thông về an sinh xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế, tác giả Dương Văn Thắng, 2013 Luận án khái quát những vấn đề lý

luận cơ bản về an sinh xã hôi, nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa báo chí và vấn đề an sinh xã hội, trên có sở những vấn đề lý luận về hiệu quả của báo chí trong hoạt động truyền thông nói chung đã được chỉ ra, tác giả xây dựng các tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả báo chí cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về an sinh xã hội Luận án nghiên cứu các tác phẩm báo in phản án về an sinh xã hội, đăng trên 5 tờ báo: Báo Nhân dân, Báo Lao động, Lao động & xã hội, Sức khỏe & đời sống và

Trang 19

Tạp chí Bảo hiểm xã hội Đề tài phản ánh hiệu quả của báo chí trong hoạt động truyền thông về an sinh xã hội còn ở mức thấp, thể hiện qua số lượng tin, bài ít Nội dung thông tin các vấn đề an sinh xã hội và hình thức truyền tải về vấn đề an sinh xã hội trên báo chí còn thiếu hợp lý, nghèo nàn chưa phong phú, hấp dẫn Vai trò của báo chí trong việc truyền thông vấn đề an sinh xã hội còn nhiều hạn chế và bất cập Luận án đã đưa ra những khái niệm học thuật có tính

hệ thống về mối quan hệ giữa báo chí, truyền thông và an sinh xã hội, đặc biệt

là xác lập hệ thống cơ sở lý luận và tiêu chí về hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về an sinh xã hội Từ hệ thống này, có thể góp tiếng nói giúp cho những người quan tâm trong lĩnh vực cùng tìm hiểu về một số khái niệm hoc thuật, tạo diễn đàn trao đổi về một hướng nghiên cứu còn khá mới

mẻ về hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về an sinh xã hội

Ở Việt Nam vẫn có khá nhiều các nghiên cứu xung quanh vấn đề truyền thông, nhưng các nghiên cứu chỉ tập trung đến một số vấn đề liên quan như sức mạnh của truyền thông; truyền thông đại chúng; hoặc gần gũi hơn là các nghiên cứu về hiệu quả của phương pháp truyền thông trong một số vấn đề xã hội nổi cộm hiện nay Cũng có một số đề tài nghiên cứu về các hoạt động truyền thông phòng chống ma túy; thực trạng công tác phòng chống ma túy ở một số tỉnh; các biện pháp giáo dục phòng chống ma túy; nhận thức, thái độ của học sinh sinh viên về phòng chống ma túy thông qua các hoạt động truyền thông Hay một số đề tài nghiên cứu các vấn đề tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ma tuý; Hiệu quả can thiệp tiếp cận cộng đồng trong nhóm người nghiện chích ma tuý Nhưng chưa có một đề tài nghiên cứu cụ thể về người sử dụng ma túy trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Như vậy có thể thấy rằng có rất nhiều đề tài nghiên cứu về ma túy cũng như các đề tài về phương tiện truyền thông Tuy nhiên vẫn chưa có đề tài cụ thể nào nghiên cứu riêng về cách đưa tin người sử dụng ma túy trên các

Trang 20

phương tiện truyền thông Đây cũng chính là lý do khiến tác giả mong muốn thực hiện đề tài để đóng góp một góc nhìn mới về mặt lí luận và thực tiễn trong vấn đề này

3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thao tác hóa khái niệm: Ma túy, người sử dụng ma túy, Đưa tin, Truyền thông đại chúng, truyền thông, báo chí, báo in, (Báo công an nhân dân, Báo pháp luật Việt Nam, Báo Lao động)

- Phân tích thực trạng thể loại bài viết, tần suất bài viết, ngôn ngữ, hình ảnh được sử dụng trong các tin, bài viết về người sử dụng ma túy

- Phân tích chân dung người sử dụng ma túy, mối quan hệ gia đình, xã hội của họ được phản ánh trên các bài báo

- Đưa ra những đánh giá về ưu điểm, hạn chế của các bài viết phản ánh

về người sử dụng ma túy, từ đó đề xuất cách đưa tin đảm bảo tính trung thực, khách quan trong bài viết về đối tượng đặc biệt này

4 Đối tượng khách thể phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng đưa tin về người sử dụng ma túy trên báo in hiện nay

4.2 Khách thể nghiên cứu

Các bài viết có liên quan đến người sử dụng ma túy trên 3 tờ báo: Báo Công an nhân dân (BCAND), Báo Pháp luật Việt Nam (BPLVN), Báo lao động (BLĐ)

Trang 21

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Các bài báo có đăng tin về người sử dụng ma túy được đăng tải trên 3 tờ báo Báo Công an nhân dân, Báo Pháp luật Việt Nam, Báo lao động, từ tháng

1 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 4 năm 2015

5 Khung lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu

5.1 Khung lý thuyết

Báo công an nhân dân Báo Pháp luật Việt Nam Báo lao động

Cách thức đưa tin về

người sử dụng ma túy

Chân dung người sử dụng

ma túy được báo mô tả

Thực trạng đưa tin về người sử dụng ma túy

trên báo in hiện nay

Thể loại, hình thức và chuyên mục đăng tải

Đặc điểm nhân khẩu học

Mối quan

hệ gia đình và

xã hộicủa NSDMT

Hậu quả của việc SDMT

Trang 22

5.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Hiện nay các bài báo đưa tin về người sử dụng ma túy thuộc thể loại gì? Các bài viết có được đăng tải thường xuyên không? Thường được đăng trên các chuyên mục nào? Hình thức đăng tải ra sao? Ngôn ngữ được sử dụng như thế nào? Có hình ảnh trong bài viết không? Nội dung hình ảnh là gì?

- Hình ảnh người sử dụng ma túy được mô tả như thế nào trên các bài báo? (cả về các đặc điểm nhân khẩu học, về mối quan hệ xã hội) Hậu quả của ma túy đối với bản thân người sử dụng ma túy, gia đình, người thân và cộng đồng được báo phản ánh như thế nào?

- Trong bài viết có sử dụng những từ ngữ miệt thị, áp đặt mang tính gán nhãn cho những người sử dụng ma túy hay không?

- Qua mỗi bài viết các nhà truyền thông muốn truyền tải thông điệp gì tới công chúng?

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Báo chí

Phương pháp luận chuyên ngành xã hội học: Các lý thuyết riêng biệt của xã hội học sử dụng trong nghiên cứu truyền thông: Lý thuyết chức năng, thuyết hành vi, lý thuyết truyền thông một chiều

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu với 200 bài báo về người sử dụng ma túy trên 3 tờ báo: Báo Công an Nhân dân, báo Pháp luật Việt Nam, báo Lao động được đăng tải trên các số báo từ đầu tháng 1 năm

2014 đến hết tháng 12 năm 2014 Tác giả lựa chọn các bài viết như sau:

Trang 23

Nếu những từ ngữ sau xuất hiện trong tên bài hoặc 2 đoạn đầu của bài báo thì bài báo được lựa chọn để phân tích: Ma túy, người sử dụng ma túy, người nghiện ma túy, chích, hút heroin, cần sa, thuốc phiện, đập đá Đối với những trường hợp có các bài viết trùng nhau được đăng tải trên nhiều báo khác nhau thì tác giả lấy tất cả các bài báo để phân tích và so sánh Tác giả lựa chọn phân tích toàn bộ nội dung bài báo để có một cái nhìn khái quát nhất

về vấn đề này

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu: phân tích tài liệu trong đó có

cả phân tích diễn ngôn, phân tích hình ảnh chủ yếu tập trung vào phân tích nội dung định lượng một cách có hệ thống cách đưa tin về người sử dụng ma túy được đăng tải trên ba tờ báo

Phần quan trọng cho việc sử dụng phương pháp này là tiến hành lập bảng mã hóa dựa trên các khái niệm được xác định nhằm lượng hóa một cách

có logic các thông tin từ những nội dung được đăng tải về người sử dụng ma túy Trong đó, mỗi cột trong bảng sẽ là một chỉ báo được mã hóa, các cột sẽ được đánh số Mỗi mẫu sẽ dùng cho một bài được mã hóa Sau đó, các mã hóa này sẽ được chuyển thành dữ liệu dùng cho việc phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn vận dụng lý thuyết chức năng, lý thuyết hành vi để lý giải thực tế đưa tin về người sử dụng ma túy được đăng tải trên báo in từ đó đưa ra một số kiến nghị về cách đưa tin về vấn đề ma túy và người sử dụng ma túy

Đề tài góp phần làm phong phú thêm những nghiên cứu về xã hội học báo chí và có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này

Trang 24

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Cung cấp thông tin khoa học về vấn đề đưa tin người sử dụng ma túy trên báo in hiện nay thông qua 3 tờ báo Trên cơ sở đó gợi ý một số khuyến nghị trong cách đưa tin về vấn đề này đối với các cơ quan quản lý báo chí, cơ quan báo chí Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo của các cá nhân, tổ chức quan tâm đặc biệt có những đổi mới về nội dung chuyển tải nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về phòng chống ma túy hiện nay

8 Đóng góp của đề tài

Điểm mới đầu tiên của luận văn là hướng tiếp cận truyền thông đại chúng trong việc đưa tin về người sử dụng ma túy, một vấn đề được Đảng Nhà nước và toàn xã hội quan tâm

Kết quả thu được của luận văn cũng có tính khởi đầu để nhận dạng các đặc điểm của người sử dụng ma túy, bao gồm cả những đặc trưng về nhân khẩu học, đặc trưng vùng miền, khu vực sinh sống, các mối quan hệ gia đình

và xã hội … đến những hành vi sử dụng ma túy của nhóm người này và hậu quả của nó được đăng tải trên các báo in hiện nay

9 Kết cầu đề tài

Ngoài phần Mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn bao gồm 03 chương, 07 tiết:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Cách thức đưa tin trong các bài viết về người sử dụng ma túy trên báo in hiện nay

Chương 3: Chân dung người sử dụng ma túy được đăng tải trên báo in

Trang 25

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài

1.1.1 Khái niệm về ma túy và người sử dụng ma túy

1.1.1.1 Khái niệm ma túy và các loại ma túy

Khái niệm ma túy

Ma túy theo gốc Hán Việt có nghĩa là “làm mê mẩn”, trước đây thường

để chỉ các chất có nguồn gốc từ cây thuốc phiện, giúp người sử dụng giảm đau, an thần Ngày nay, dùng để chỉ tất cả các hợp chất tự nhiên và tổng hợp

có khả năng gây nghiện

Theo quan điểm khoa học: Ma túy là các chất có khả năng tác động lên

hệ thần kinh trung ương làm giảm đau, gây cảm giác hưng phấn, dễ chịu mà khi dùng nhiều lần thì sẽ phải lệ thuộc vào nó, nếu ngưng sử dụng thì sẽ rất khó chịu

Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa: Ma tuý là bất kỳ chất gì khi đưa vào cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của

cơ thể Theo tổ chức Liên Hợp Quốc: Ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp khi thâm nhập vào cơ thể con người sẽ gây ra tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức, trí tuệ, tâm trạng của người đó Nếu sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người đó lệ thuộc vào nó, dẫn đến tổn thương bản thân người sử dụng ma túy và gây nguy hại cho cá nhân, cộng đồng [9]

Từ những khái niệm được trình bày trên đây, chúng ta có thể hiểu một

cách chung nhất về ma tuý như sau: Ma tuý là các chất gây nghiện có nguồn gốc

tự nhiên hoặc nhân tạo, khi đưa vào cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng tâm – sinh lý của cơ thể Dùng nhiều lần sẽ bị lệ thuộc cả về thể chất lẫn tâm lý, gây hậu quả nghiêm trọng cho bản thân, gia đình và xã hội

Trang 26

Phân loại ma túy

Các chất ma túy được phân thành nhiều nhóm dựa trên những căn cứ nhất định phục vụ cho những mục đích khác nhau Có nhiều cách phân loại

ma túy nhưng có thể kể đến những cách phân loại cơ bản như sau:

Căn cứ vào nguồn gốc: Ma túy được chia thành: ma túy tự nhiên, ma túy bán

tổng hợp và ma túy tổng hợp

Căn cứ theo mức độ gây nghiện và khả năng bị lạm dụng: Ma túy được chia

thành 2 loại: Ma túy có hiệu lực cao và ma túy có hiệu lực thấp (ma túy mạnh

và ma túy nhẹ)

Căn cứ vào nguồn gốc của ma túy và các tác động dược lý: Các chuyên gia

của Liên Hợp Quốc đã thống nhất chia ma túy thành 5 nhóm sau:

- Nhóm ma tuý là các chất từ cây thuốc phiện (opiates)

- Nhóm ma tuý là các chất từ cây cần sa (cannabis)

- Nhóm ma tuý là các chất kích thích (stimulats)

- Nhóm ma tuý là các chất ức chế (depressants)

- Nhóm ma tuý là các chất gây ảo giác (hallueinogent)

Căn cứ vào tác dụng sinh lý lên cơ thể người: Ma túy được chia thành 3 loại:

Thuốc an thần, thuốc ngủ; Các chất gây kích thích; Các chất gây ảo giác

Phân loại theo luật pháp: Chia ma túy thành hai nhóm: Ma túy hợp pháp; Ma

túy bất hợp pháp

1.1.1.2 Khái niệm về người sử dụng ma túy

Người sử dụng ma túy là các đối tượng có sử dụng các chất gây nghiện

có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi họ sử dụng các chất này nó có thể

làm thay đổi một hay nhiều chức năng tâm – sinh lý của cơ thể người sử

dụng Dùng nhiều lần sẽ bị lệ thuộc cả về thể chất lẫn tâm lý, gây hậu quả nghiêm trọng cho bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội

Trang 27

Phần lớn người nghiện có sự biển đổi về nhân cách do sự lệ thuộc vào

ma túy về mặt tinh thần hoặc về mặt thể chất hoặc bị lệ thuộc cả hai Khi người nghiện có đủ ma túy để dùng thì họ cảm thấy thoải mái, sảng khoái Khi không có nó thì họ thường khó chịu, bực bội hoặc cô độc, u sầu Do các chất ma túy thường tạo nên khoái cảm, sảng khoái làm cho người nghiện giảm hứng thú, nhân cách bị thu hẹp, cách cư xử trở nên thô lỗ Người nghiện thường ít chú ý đến người thân, thờ ở với công việc, với những vui buồn trong cuộc sống

Đặc biệt do tính lệ thuộc ma túy nên người nghiện tìm đủ mọi cách để đảm bảo có được liều quen dùng Vì vậy, họ có thể nói dối, lấy cắp của gia đình, của xã hội, cướp giật thậm chí uy hiếp người thân, giết người, cướp của… miễn làm sao họ có được ma túy Cho nên, họ đã làm cho bản thân và gia đình tan nát về vật chất, tinh thần, đạo đức…

Một đặc điểm nữa đáng chú ý của người nghiện ma túy là họ luôn tìm cách gây “Lây lan về tâm lý”: họ thường hứng thú nói về cảm giác sảng khoái, sung sướng khi dùng ma túy, họ thường lôi kéo người khác sử dụng, nếu không có hiểu biết thì rất dễ bị người nghiện ma túy lôi kéo sử dụng cùng

Những người nghiện ma túy có những rối loạn tâm thần đi kèm, điển hình là rối loạn nhân cách, chống đối xã hội và trầm cảm họ thường ít hài lòng với cuộc sống, họ thường có hành vi xung đột, cô đơn và trầm cảm Những rối loạn này tác động đến những hành vi của người nghiện ma túy gây ảnh hưởng tới gia đình và xã hội

`1.1.1.3 Khái niệm về chân dung người sử dụng ma túy

Theo từ điển Tiếng Việt khái niệm chân dung thường dùng trong lĩnh vực nghệ thuật để chỉ diện mạo, thần sắc, hình dáng, vẻ bề ngoài… của con người Dưới góc độ xã hội học, các nghiên cứu quan tâm đến chân dung xã hội của các cá nhân thông qua các đặc điểm nhân khẩu học của cá nhân, các

Trang 28

mối quan hệ xã hội của họ và vị thế chủ đạo của cá nhân trong xã hội Trong phạm vi luận văn của mình tác giả sử dụng khái niệm chân dung xã hội để chỉ những đặc điểm nhân khẩu học (độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, khu vực sinh sống, hoàn cảnh gia đình, trình trạng hôn nhân, các mối quan hệ xung quanh…) của những người sử dụng ma túy được đăng tải trên các báo

1.1.2 Khái niệm truyền thông và loại hình truyền thông báo in

1.1.2.1 Khái niệm truyền thông

Truyền thông đại chúng xuất phát trước hết từ quá trình giao tiếp (communication) của con người Khái niệm truyền thông đại chúng có thể được hiểu theo cách phân loại các loại hình truyền thông:

Truyền thông trong tương tác cá nhân: Sự truyền tải và trao đổi thông tin diễn ra giữa hai hoặc số ít người trong hoàn cảnh xác định vị trí về không gian

sự tác động từ hai phía, phía thứ nhất là các thiết chế xã hội mà phương tiện

đó là công cụ (như các tờ báo của các tổ chức chính trị xã hội), và phía thứ hai

là công chúng [18 ]

Trang 29

Như vậy, truyền thông đại chúng có thể hiểu là quá trình xã hội, quá trình truyền tải thông tin rộng rãi ra công chúng qua các phương tiện truyền thông

Trong tiếng Anh, "Communication" có nghĩa là truyền thông - sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc Còn theo tiếng La tinh, nó có nghĩa là cộng đồng Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân và xã hội Hay truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành

bộ hoặc các hành vi biểu lộ cảm xúc, vì thế mà một số nhà nghiên cứu đã phân biệt truyền thông với hai loại hình là truyền thông bằng ngôn từ (verbal)

và truyền thông không bằng ngôn từ (non-verbal) Khái niệm truyền thông có thể được định nghĩa như sau: truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người (Trần Hữu Quang) Trong tác phẩm Sức mạnh của tin tức truyền thông, Michael Schudson đã nhận định rằng “nhiều thông tin đến với người dân nói chung qua truyền thông chứ không qua chuyên gia trung gian”

Hiểu một cách đơn giản truyền thông (communication) là quá trình truyền đạt, chia sẻ thông tin; là một kiểu tương tác xã hội với sự tham gia của

ít nhất 02 tác nhân Lịch sử loài người cho thấy, con người có thể sống được với nhau, giao tiếp và tương tác lẫn nhau trước hết là nhờ vào hành vi truyền thông (thông qua ngôn ngữ hoặc cử chỉ, điệu bộ, hành vi… để chuyển tải

Trang 30

những thông điệp, biểu lộ thái độ cảm xúc) Qua quá trình truyền thông liên tục, con người sẽ có sự gắn kết với nhau, đồng thời có những thay đổi trong nhận thức và hành vi Chính vì vậy, truyền thông được xem là cơ sở để thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người, là nền tảng hình thành nên cộng đồng, xã hội Nói cách khác, truyền thông là một trong những hoạt động căn bản của bất cứ một tổ chức xã hội nào

Khi nhắc đến quá trình truyền thông và mô hình của quá trình ấy, người

ta thường nhắc đến công thức nổi tiếng của Harold D Lasswell là “Ai, nói cái

gì, bằng kênh nào, cho ai, và có hiệu quả gì?” (“Who says what in which channel to whom with what effect?”)

Mô hình truyền thông theo Lasswell như một công thức rút gọn, nhưng

đã liệt kê được những lĩnh vực cần nghiên cứu của truyền thông như : nghiên cứu về nguồn tin hay người phát tin (“ai nói”); phân tích về nội dung thông tin (“nói cái gì”); nghiên cứu các phương tiện thông tin (“nói qua kênh nào”); nghiên cứu công chúng độc giả hay khán giả (“nói cho ai”); và khảo sát các tác động truyền thông nơi công chúng (“có hiệu quả gì”) Tuy nhiên giới hạn của công thức này là tính chất tuyến tính một chiều từ người phát tin đến người nhận tin trong đó người nhận tin dễ được cảm nhận như là một đối tác thụ động Chính vì thế mà về sau này, các nhà nghiên cứu thường quan niệm quá trình truyền thông liên cá nhân với một quy trình khép kín

Truyền thông là một quá trình giao tiếp để chia sẻ những hiểu biết, kinh nghiệm, tình cảm Một quá trình truyền thông đầy đủ gồm các yếu tố: người gửi, người nhận, thông điệp, kênh truyền thông và sự phản hồi Trong truyền thông có sự trao đổi thông tin hai chiều, có sự chuyển đổi vai trò: người gửi đồng thời cũng là người nhận Sự phản hồi trong truyền thông giúp thông tin trao đổi được chính xác hơn Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói (ra hiệu, hay viết),

Trang 31

nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ

Một cách định nghĩa khác, truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau Truyền thông được thể hiện có thể qua ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng, cử chỉ, hành động, trạng thái… Nhưng tất cả đều có một mục đích chung là mang những “thông điệp” của nhà truyền thông truyền tải tới đối tượng tiếp nhận Thông điệp là một câu, một ngữ nhấn mạnh hành động cần thực hiện và kết quả/ lợi ích khi thực hiện hành động, như vậy nó được khái quát lại như sau: Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát (người mang nội dung thông tin) đến đối tượng tiếp nhận (cá nhân hoặc tập thể người) Thông điệp có 3 thành tố chính: Một là: ai là người tiếp nhận thông điệp, tức là nhà truyền thông nói cho ai? ai là đối tượng - ai là người tiếp nhận thông tin? những đặc điểm của đối tượng là gì? đặc điểm nhân khẩu học, tâm lý, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, những đặc điểm xã hội khác ra sao? Hiểu được những đặc điểm này của đối tượng mới chọn lựa được phương thức truyền thông phù hợp, đem lại hiệu quả cao Thứ hai là nhà truyền thông cần làm gì? Cần phải hành động gì? cần phải thực hiện những gì? để người người tiếp nhận có thể hiểu được thông điệp một cách hiệu quả nhất Và thành tố thứ 3 chính là mục đích của thông điệp, thông điệp được truyền tải tới người tiếp nhận để đạt được điều gì? Yếu tố này chính là mong muốn của nhà truyền thông gửi gắm tới người nhận qua thông điệp

Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay

Trang 32

bản tin truyền hình Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin

Phân loại truyền thông

Có nhiều cách phân loại lĩnh vực truyền thông Chẳng hạn, truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ Truyền thông bằng lời được thực hiện khi một người truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta

đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia Bởi truyền thông là quá trình gửi và nhận thông tin, các mốc phát triển truyền thông thường gắn liền với tiến bộ công nghệ

Khi phân loại truyền thông theo quy mô giữa một bên là phát tin, truyền tin và một bên là tiếp nhận và phản hồi thông tin thì truyền thông có ba cấp độ là truyền thông liên cá nhân (giữa người này với người khác), truyền thông tập thể (truyền thông trong nội bộ 1 tổ chức) và truyền thông đại chúng

Về mặt hình thức có hai kiểu truyền thông, đó là truyền thông trực tiếp, được thực hiện giữa người với người, mặt đối mặt và truyền thông gián tiếp, được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông như sách báo, loa, đai, ti vi…

Truyền thông trực tiếp là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin, ý kiến, quan điểm, tình cảm giữa người truyền thông điệp tới người nhận một cách trực tiếp, người với người, mặt đối mặt, tại một thời gian địa điểm cụ thể được xác định

Các loại hình truyền thông trực tiếp:

Truyền thông tương tác cá nhân: Là sự truyền tải và trao đổi thông tin diễn ra giữa hai hoặc số ít người trong hoàn cảnh xác định vị trí về không không gian và thời gian, ví dụ: Thăm tại nhà riêng, gặp riêng tại cơ quan, vận

Trang 33

động hành lang tại hội nghị, gặp mặt tại các hoạt động thể thao, văn nghệ, giáo dục đồng đẳng…

Truyền thông nhóm: Sự truyền tải và trao đổi thông tin giữa số ít người trong hoàn cảnh xác định tương đối về không gian và thời gian, ví dụ: họp thảo luận, hội nghị, hội thảo, tham quan, trao đổi kinh nghiệm, lớp tập huấn, truyền thông gây quỹ trong đó có kể đến dạ tiệc gây quỹ, văn nghệ gây quỹ, thể thao gây quỹ, xổ số…

Truyền thông dân gian: Thực chất là việc sử dụng các thiết chế văn hoá và các loại hình văn hoá - văn nghệ dân gian để truyền tải thông điệp tới các nhóm đối tượng Ở mỗi địa phương trên đất nước ta đều có những thiết chế văn hoá truyền thống như đình làng, nhà rông và các thiết chế văn hoá mới như câu lạc bộ, nhà văn hoá, thư viện, bảo tàng, công viên văn hoá, rạp hát, rạp chiếu phim, trung tâm văn hoá - thông tin - thể thao Các thiết chế văn hoá đó và các hoạt động của chúng được xem là những phương tiện truyền thông rất hiệu quả, có thể lồng ghép các thông điệp truyền thông trong hoạt động của các thiết chế này

Các hình thức văn hoá - văn nghệ dân gian có thể lồng ghép vào hoạt động của các thiết chế văn hoá trên là: tuồng, chèo, cải lương, quan họ, ca dao, hò, vè, tấu hài, đố vui… Tác động vào nhận thức, tình cảm của con người thông qua hình tượng nghệ thuật nên dễ làm cho đối tượng thay đổi hành vi và duy trì hành vi mới Với nhiều loại hình phong phú, quen thuộc, văn hoá - văn nghệ dân gian tác động vừa nhẹ nhàng, vừa sâu sắc và dễ hấp dẫn đối tượng Sự lan toả dưới tác động của các loại hình văn hoá - văn nghệ rất lớn do sức hấp dẫn và đặc trưng riêng có của chúng Có khả năng tác động đến đối tượng rộng rãi và đa dạng với chi phí thấp Dễ phù hợp với đối tượng, với đặc điểm văn hoá vùng, miền, địa phương

Trang 34

Kênh truyền thông trực tiếp: nói chuyện, hội thảo, sinh hoạt câu lạc bộ Kênh này có sự giao tiếp trực tiếp giữa người phát và người nhận thông tin giúp cho việc khắc phục khó khăn của 2 phía làm tăng hiệu quả tác động Tuỳ từng địa bàn, tuỳ từng đối tượng mà người làm truyền thông chọn kênh phù hợp, nhằm nâng cao tối đa hiệu quả thông tin

Chức năng của truyền thông

Theo các nhà xã hội học đại diện là Lasswell

Đối với cá nhân: Truyền thông có chức năng định hướng hành vi; cung cấp thông tin giúp các cá nhân đánh giá các vấn đề xã hội Bên cạnh đó truyền thông còn có vai trò kiểm soát, giám sát, điều tiết, giáo dục, tư vấn nâng cao nhận thức cho các cá nhân giúp họ phản biện trước các sự kiện vấn đề xã hội Một chức năng của truyền thông đối với cá nhân là giúp các giải tỏa căng thẳng với hình thức là giải trí và cũng cấp các thông tin kinh tế, xã hội, chính trị khác

Đối với xã hội: Truyền thông có chức năng phục vụ xã hội, định hướng

xã hội, giúp xã hội pháp triển và hội nhập

Về mặt chính trị: Truyền thông có chức năng tạo dư luận, kêu gọi vận động quần chúng qua việc thể hiện ngôn ngữ truyền đạt thông điệp, bên cạnh truyển thông còn có chức năng thống lĩnh chính trị kiểm tra phê bình khiển trách những vấn đề sai trái, lệch lạc, đồng thơi định hướng giáo dục theo hướng tiến bộ tích cực

Về kinh tế: Truyền thông có chức năng luân chuyển tạo lợi nhuận, truyền bá kiến thức nhằm khắc phục những tiêu cực, tái sinh những yếu tố tích cực đề đẩy mạnh nền kinh tế, bên cạnh đó hỗ trợ tạo hành lang pháp lý

Theo quan điểm của các nhà báo Việt Nam truyền thông có 3 chức băng cơ bản:

Trang 35

Chức năng tư tưởng: Hướng dẫn và hình thành dư luận xã hội tích cực, đúng đắn trên cơ sở thông tin nhanh chóng, đầy đủ và phong phú về các sự kiện thời sự, những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội Giáo dục chính trị

- tư tưởng, trang bị những tri thức cần thiết làm cơ sở, điều kiện cho việc hình thành chất lượng nội tại về chính trị, tư tưởng Giáo dục một cách hệ thống tri thức cơ sở, quan trọng (triết học, kinh tế chính trị học, các học thuyết xã hội

về quy luật lịch sử, sứ mệnh của giai cấp công nhân ) Thông tin, truyền bá

và giải thích các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Phân tích, lý giải chỉ ra bản chất đúng đắn của các vấn đề, sự kiện thời sự, hướng dẫn con đường, cách thức tiếp cận, đánh giá ứng xử đối với các vấn đề,

sự kiện đó một cách hợp lý Đấu tranh, vạch trần các âm mưu luận điệu xuyên tạc, tuyên truyền phản động của các thế lực thù địch, bảo vệ và phát triển lý luận cách mạng và các học thuyết khoa học, tiến bộ

Chức năng giám sát và quản lý xã hội: Giám sát là sự theo dõi, phát hiện, cảnh báo những vấn đề mới nảy sinh, giúp xã hội đề phòng hay xử lý kịp thời, có hiệu quả Quản lý xã hội là sự tác động, thúc đẩy làm cho mọi tiến trình, mọi yếu tố hợp thành của xã hội có thể vận động, phát triển phù hợp với mục đích và mang lại hiệu quả tốt đẹp Giám sát và quản lý được coi là 2 mặt của một vấn đề cùng đảm bảo sự phát triển hợp lý và tích cực của xã hội

Chức năng văn hóa: Nâng cao trình độ hiểu biết chung của nhân dân, khẳng định và phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp, hình thành và không ngừng hoàn thiện lối sống tích cực trong xã hội Nội dung của chức năng văn hóa: Các hoạt động nhằm nâng cao trình độ hiểu biết mọi mặt cho nhân dân Giáo dục phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp Giáo dục, xây dựng lối sống tích cực cho nhân dân

Ngoài ra, truyền thông còn có một số chức năng khác như: kinh doanh, giải trí, dịch vụ…

Trang 36

1.1.2.2 Loại hình truyền thông báo in

Theo khái niệm Báo in của GS.TS Tạ Ngọc Tấn: “ Báo in là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính chất thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội” [33]

Báo in hiện đại ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII ở Châu Âu khi xã hội đang bước vào thời kỳ bản lề giữa xã hội phong kiến và

xã hội tư bản chủ nghĩa Trong vòng hai thế kỷ XVII và XVIII, báo in đã nhanh chóng phát triển, tràn qua Bắc Mỹ rồi đến tất cả các châu lục, hiện diện

ở tất cả các thành phố lớn trên thế giới Bước sang thế kỷ XIX báo in được coi

là thời kỳ hoàng kim độc tôn

Ở Việt Nam, sự ra đời của tờ Gia Định báo ngày 01/4/1865 có thể được coi là thời điểm khởi đầu của lịch sử báo chí hiện đại Trước đó, năm 1862 đã xuất hiện tờ công báo của quân đội viễn chinh Pháp ở Nam kỳ in bằng tiếng Pháp Có thể nói nền văn minh báo chí Châu Âu đã theo gót chân đội quân thực dân Pháp du nhập vào Việt Nam Tuy nhiên, xã hội Việt Nam đã tiếp nhận, dung hòa công cụ văn minh đó, biến nó thành một sản phẩm Việt Nam phục vụ cho những nhu cầu của xã hội Việt Nam Cho đến đầu thế kỷ thứ XX báo chí đã có mặt trên khắp ba miền đất nước

Phân loại Báo in: Căn cứ vào các tiêu chí: định kỳ và tính chất nội

dung thông tin, người ta chia báo thành các loại:

Nhật báo: Là những tờ báo phát hành mỗi ngày một lần vào buổi sáng hay buổi chiều Nội dung tờ báo này là những vấn đề, sự kiện mang tính thời

sự nóng hổi Nhật báo thường có số lượng phát hành vào loại lớn nhất do nó đáp ứng được nhu cầu tin tức của các tầng lớp xã hội rộng rãi và được phát hành trong phạm vi quốc gia hay ở những thành phố - trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa lớn, cư dân đông

Trang 37

Báo thưa kỳ: bao gồm báo ra 2, 3, 4, 5 ngày một kỳ, tuần báo, báo nửa tháng hoặc hàng tháng Báo ra 2, 3, 4, 5 ngày một kỳ thường là báo của Đảng

bộ tỉnh, thành phố hay của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội trong nước Tuần báo là các tờ báo xuất bản định kỳ một tuần một lần Đó là các tờ báo của các bộ, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các doanh nghiệp kinh tế lớn… Báo nửa tháng hay báo hàng tháng phần lớn là các đặc san, chuyên san của các tờ nhật báo, thưa kỳ hay tuần báo

Đặc điểm của loại hình báo in: Báo in chuyển tải nội dung thông tin

thông qua văn bản gồm chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ,… Toàn bộ nội dung thông tin của sản phẩm báo xuất hiện đồng thời trước mắt người đọc Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in chỉ qua thị giác – giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh Do vậy, người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin

từ báo in, đặc điểm này tạo cho báo in khả năng thông tin những nội dung sâu sắc, phức tạp Nhà báo có thể trình bày diễn giải các nội dung thông tin có logic với những mối quan hệ đan chéo, chồng chất lẫn nhau, với những biểu hiện nhiều bình diện, nhiều tầng lớp khác nhau mà người đọc vẫn có thể hiểu, miễn là nội dung đó bổ ích đáp ứng được yêu cầu chờ đợi của người đọc Sự tiếp nhận thông tin từ báo in là quá trình chủ động, đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ phải huy động sự làm việc tích cực của trí não Hơn nữa nguồn thông tin từ báo in phải đảm bảo sự chính xác và độ tin cậy cao Vì vậy, nó làm tăng khả năng ghi nhớ, giúp người đọc có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị của các vấn đề, sự kiện đăng tải

Trong các tài liệu hướng dẫn nghề làm báo ở Việt Nam, người ta thường chia các thể loại tác phẩm báo chí thành các nhóm như sau:

Nhóm thứ nhất gồm có tin, phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, bài phản ánh, bài điều tra Đây là những thể loại để viết được nhà báo

Trang 38

phải trực tiếp thực hiện quá trình tìm hiểu thực tế, phát hiện sự kiện, vấn đề, khai thác tài liệu thông tin Đây là thể loại phản ánh khách quan trực tiếp các

sự kiện, vấn đề có tính thời sự

Nhóm thứ 2 là các thể loại tác phẩm được thể hiện bằng ngôn ngữ logic

lý luận là chủ yếu, chúng không nhằm mô tả trực tiếp sự kiện mà nhằm phân tích, đánh giá những mối quan hệ bên trong hay khuất lấp đằng sau các sự kiện, hiện tượng cụ thể Đó là các thể loại bình luận, xã luận, chuyên luận Ở thể loại này nhà báo chủ yếu dựa vào các tài liệu, thông tin tại tòa soạn hoặc trong kho lưu trữ tư liệu để sáng tạo nên tác phẩm

Nhóm thứ ba là các thể loại ký nằm ở khoảng giao thoa giữa văn học và báo chí Về nguyên tắc, ký là thể loại viết về người thật, việc thật Trong ký, không cho phép hư cấu mà chỉ có sự suy ngẫm, liên tưởng, thẩm định của nhà báo về sự việc, hiện tượng được phản ánh Nói cách khác, đó là sự thể hiện cái tôi của tác giả

Để sáng tạo tác phẩm, nhà báo phải thực hiện một số kỹ năng nghề nghiệp như: nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn, quan sát thực tế, tư duy logic… để đưa ra được những sản phẩm sát thực, đáp ứng được sự mong đợi của độc giả

1.2 Các hướng tiếp cận và lý thuyết áp dụng trong đề tài

1.2.1 Các hướng tiếp cận

1.2.1.1 Cơ sở lý luận Mácxít

K.Marx từng viết: Lý luận có thể trở thành sức mạnh vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng Có thể nói các phương tiện truyền thông đại chúng đóng một vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển xã hội, với tư cách là một trong những thiết chế xã hội thuộc lĩnh vực văn hóa – tinh thần của xã hội V.L.Lênin đã từng cho rằng báo chí có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và thúc đẩy dư luận theo chiều hướng tích cực, bởi ý thức không chỉ phản ánh lại hiện thực mà hiện thực còn được thực hiện bởi ý thức,

Trang 39

tư tưởng cũng có thể biến thành sức mạnh vật chất khi nó theo vào quần chúng [2]

Hồ Chí Minh cũng đã từng khuyên các cán bộ báo chí tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 08/09/1962 rằng: Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ…”, Bác cũng nhấn mạnh đến vai trò của các nhà báo là chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng, Người cũng luôn nhắc nhở các nhà báo phải biết: Viết cho ai?, viết cái gì? viết như thế nào? Và phải viết sao cho dễ hiểu, đơn giản, thiết thực [15]

Từ những luận điểm chung của các nhà Mác xít, Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng ta đã khẳng định vai trò của hoạt động báo chí trong đời sống xã hội

là rất lớn Đồng thời cũng đã chỉ rõ cơ chế hoạt động của báo chí, nội dung cần truyền tải của báo chí cần phải hướng tới hiệu quả xã hội mà báo chí cần đạt được Những chỉ dẫn đó được coi là cơ sở lý luận cần xác định trong cách tiếp cận và cả trong phương pháp nghiên cứu của luận văn

1.2.1.2 Nghiên cứu theo hướng tiếp cận báo chí học

Nghiên cứu khoa học báo chí quan tâm đến việc hình thành nên các sản phẩm truyền thông Sản phẩm truyền thông là kết quả tổng hợp của các quá trình xã hội bao gồm: Thiết chế xã hội truyền thông, thông điệp báo chí, kênh truyền, đối tượng tiếp nhận và hiệu qủa đạt được Với đề tài luận văn “Thực trạng đưa tin người sử dụng ma túy trên báo in” nhằm xem xét các yếu tố đưa thông tin về người sử dụng ma túy trên các tờ báo như: thời gian đăng tải, tần

số đăng tải theo thời gian, thể loại, chuyên mục, hình ảnh, ngôn ngữ được sử dụng đăng tải qua đó để thấy được chân dung người sử dụng ma túy họ là ai,

họ có những hành vi như thế nào khi sử dụng ma túy, hậu qủa do việc sử dụng

ma túy để lại

Hướng tiếp cận báo chí học có ưu điểm nổi bật ở chỗ nó cho thấy các thông điệp báo chí được sản xuất như thế nào, hình ảnh ra sao, các tác động từ

Trang 40

nội dung truyền tải đối với công chúng, độc giả, những vấn đề này bao gồm

cả mặt tích cực và mặt tiêu cực Điển hình về tính hai mặt của vấn đề này là hiện tượng thương mại hóa trong hoạt động báo chí hiện nay cả về phía tòa soạn lẫn các phóng viên, nhà báo Vì vậy sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung thông điệp được truyền tải đến công chúng

1.2.1.3 Nghiên cứu theo hướng tiếp cận Xã hội học Truyền thông đại chúng

Truyền thông đại chúng được nghiên cứu dưới góc độ Xã hội học như một quá trình xã hội, sự liên kết đó rất chặt chẽ Trong đó, quá trình xã hội diễn ra với tác động của Truyền thông đại chúng bằng sự liên kết của các yếu tố: Nguồn tin; nội dung nguồn tin (thông điệp); người nhận

Người mở đầu cho môn Khoa học nghiên cứu tác động của các phương tiện Truyền thông đại chúng đối với công chúng là M.Weber Năm 1910, ông

đã luận chứng về măt phương pháp lý luận cho sự cần thiết của môn Xã hội học báo chí và đưa ra phạm vi các vấn đề nghiên cứu: Hướng vào các tập đoàn tầng lớp xã hội khác nhau; phân tích các yêu cầu của xã hội đối với nhà báo; coi trọng phương pháp phân tích báo chí; Phân tích hiệu quả của báo chí đối với việc xây dựng con người

Lập luận của M.Weber chỉ rõ tác dụng của báo chí trong việc hình thành ý thức quần chúng và vạch ra mối liên hệ của các nhân tố này với hoạt động xã hội của cá nhân, tầng lớp xã hội

Hiện nay nghiên cứu xã hội về Truyền thông đại chúng tập chung chủ yếu vào các hướng: Nghiên cứu về tổ chức truyền thông, về nhà truyền thông, nghiên cứu về công chúng, phân tích nội dung các thông điệp truyền thông, nghiên cứu tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội và mối quan hệ giữa báo chí và các nhóm công chúng

Một câu hỏi được đặt ra trong thời gian gần đây là: Vì sao Xã hội học Truyền thông đại chúng cần phải nghiên cứu, phân tích cách đưa tin, nội dung

Ngày đăng: 11/11/2021, 18:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Cao Đàm (1997), Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1997
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
3. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (1997), Xã hội học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1997
4. Phạm Tất Dong (2002), Xã hội học đại cương, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Xã hội học đại cương
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
5. Trần Thị Minh Đức (2009) Giáo trình tham vấn Tâm lý, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn Tâm lý
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
6. Bùi Quang Dũng (2004), Nhập môn lịch sử Xã hội học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lịch sử Xã hội học
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
8. Lê thị Việt Hà (2013), Thông điệp về tự tử ở Việt Nam trên báo mạng điện tử, luận văn thạc sỹ Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông điệp về tự tử ở Việt Nam trên báo mạng điện tử
Tác giả: Lê thị Việt Hà
Năm: 2013
10. Vũ Đình Hòe (2000), Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo quản lý
Tác giả: Vũ Đình Hòe
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
11. Phạm Thu Hương (2011), Thông điệp về tự tử ở Việt nam trên báo mạng điện tử hiện nay, luận văn thạc sĩ Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông điệp về tự tử ở Việt nam trên báo mạng điện tử hiện nay
Tác giả: Phạm Thu Hương
Năm: 2011
12. Nguyễn Sinh Huy (1999), Xã hội học đại cương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
13. Khoa Xã hội học, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền (1995), Nghiên cứu Xã hội học (Thủ tục, hình thức, phương pháp, NXB Chính trị Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Xã hội học (Thủ tục, hình thức, phương pháp
Tác giả: Khoa Xã hội học, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
15. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, NXB Chính trị Quốc gia 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia 2000
16. Nguyễn Thị Tuyết Minh (2003), Tìm hiểu nhu cầu thông tin về sức khỏe sinh sản vị thành niên qua nghiên cứu thư gửi về chương trình “Cửa sổ tình yêu”, Đài tiếng nói Việt nam, Luận văn thạc sỹ Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nhu cầu thông tin về sức khỏe sinh sản vị thành niên qua nghiên cứu thư gửi về chương trình “Cửa sổ tình yêu”, Đài tiếng nói Việt nam
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Minh
Năm: 2003
17. Nguyễn Thị Tuyết Minh (2011), Định kiến giới trong các sản phẩm truyền thông trên các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay, Đề tài nghiên cứu cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định kiến giới trong các sản phẩm truyền thông trên các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Minh
Năm: 2011
19. Mai Quỳnh Nam (1999), Khảo sát các kênh truyền thông hiện có và tác động của chúng đối với phụ nữ, trẻ em Việt Nam, Đề tài nghiên cứu phối hợp giữa Viện Xã hội học và UNICEF Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các kênh truyền thông hiện có và tác động của chúng đối với phụ nữ, trẻ em Việt Nam
Tác giả: Mai Quỳnh Nam
Năm: 1999
25. Giáp Thị Phượng (2015), Thông điệp về đời sống văn hóa nông thôn trên báo nông thôn ngày nay năm 2014, luận văn thạc sỹ Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông điệp về đời sống văn hóa nông thôn trên báo nông thôn ngày nay năm 2014
Tác giả: Giáp Thị Phượng
Năm: 2015
26. Trần Hữu Quang (2006), Xã hội học báo chí, NXB Trẻ, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học báo chí
Tác giả: Trần Hữu Quang
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2006
27. Trần Hữu Quang (2001), Chân dung công chúng truyền thông, NXB Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung công chúng truyền thông
Tác giả: Trần Hữu Quang
Nhà XB: NXB Hồ Chí Minh
Năm: 2001
28. Quốc hội (2000), Luật phòng chống ma túy số 23/2000/QH10 29. Quốc hội (2008), Luật bổ sung phòng chống ma túy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phòng chống ma túy số 23/2000/QH10" 29. Quốc hội (2008)
Tác giả: Quốc hội (2000), Luật phòng chống ma túy số 23/2000/QH10 29. Quốc hội
Năm: 2008
30. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Qúy Thanh (2001), Phương pháp Nghiên cứu Xã hội học, NXB Quốc Gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp Nghiên cứu Xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết, Nguyễn Qúy Thanh
Nhà XB: NXB Quốc Gia
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ truyền thông của Claude Shannon - Thực trạng đưa tin về người sử dụng ma túy trên báo in hiện nay
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ truyền thông của Claude Shannon (Trang 45)
Biểu đồ 3.15: Hình thức sử dụng ma túy được các báo đăng tải (tỷ lệ %) - Thực trạng đưa tin về người sử dụng ma túy trên báo in hiện nay
i ểu đồ 3.15: Hình thức sử dụng ma túy được các báo đăng tải (tỷ lệ %) (Trang 92)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w