BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGÔ THỊ BÍCH HÀ THỰC TRẠNG TIN TỨC VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGÔ THỊ BÍCH HÀ
THỰC TRẠNG TIN TỨC VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN
TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
(KHẢO SÁT BÁO ĐIỆN TỬ VIETNAMPLUS, TÀI NGUYÊN&MÔI
TRƯỜNG, TUỔI TRẺ ONLINE
TỪ THÁNG 01/2020 ĐẾN THÁNG 12/2020)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: BÁO CHÍ
MÃ SỐ: 1.01.01 CHUYÊN NGÀNH: BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
THỰC TRẠNG TIN TỨC VỀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ
TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (KHẢO SÁT BÁO ĐIỆN TỬ VIETNAMPLUS, TÀI NGUYÊN&MÔI
TRƯỜNG, TUỔI TRẺ ONLINE
TỪ THÁNG 01/2020 ĐẾN THÁNG 12/2020)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hà Nội, năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
THỰC TRẠNG TIN TỨC VỀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG
DÃ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
(KHẢO SÁT BÁO ĐIỆN TỬ VIETNAMPLUS, TÀI NGUYÊN& MÔI TRƯỜNG,
Người hướng dẫn khoa học : THS ĐINH HỒNG ANH
Người thực hiện : NGÔ THỊ BÍCH HÀ
Hà Nội, năm 2021
Trang 3Khóa luận đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Thực trạng tin tức về bảo tồn động vật hoang
dã trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” (Khảo sát báo điện tử Vietnamplus, Tài nguyên&Môi trường, Tuổi trẻ online từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2020) là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của Ths Đinh
Hồng Anh Các số liệu được trích dẫn trong đề tài đều là những số liệu có được sau quá trình khảo sát trung thực, khách quan
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung, kết quả của khóa luận này
Tác giả khóa luận
Ngô Thị Bích Hà
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận “Thực trạng tin tức về bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các giảng viên Học viện Báo chí
và Tuyên truyền đã hết lòng giảng dạy, truyền thụ những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, giúp tôi có nền tảng kiến thức vững chắc để tiến hành nghiên cứu khoa học Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn đến Ths Đinh Hồng Anh, người đã luôn hướng dẫn, giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài khóa luận này
Đồng thời chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình tìm hiểu, phỏng vấn và nghiên cứu của các nhà báo, tổ chức về ĐVHD tại Việt Nam như: Nhà báo Hùng Võ, báo điện tử Vietnamplus, TTXVN; Nhà báo Hoàng Chiên, báo điện tử Dân Việt; Nhà báo Trường Sơn, Trung tâm tin tức VTV24; nhà báo Vũ Văn Ninh, báo điện tử VTC News; chị Trần Minh Phúc, cán bộ truyền thông Wildlife Conservation Society Vietnam (WCS Vietnam); chị Đào Thị Thu Hương, cán bộ truyền thông Save Vietnam’s Wildlife (SVW); anh Cao Minh Châu, chủ nhiệm Wildhand – tổ chức bảo tồn ĐVHD, trực thuộc Khoa Thú Y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, người thực hiện khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo, các bạn sinh viên và tất cả những ai quan tâm đến đề tài này để khóa luận được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2021
Tác giả khóa luận
Ngô Thị Bích Hà
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 10
1.1 Các khái niệm liên quan 10
1.2 Đặc điểm của báo mạng điện tử 15
1.3 Thực trạng vấn đề bảo tồn động vật hoang dã 17
1.3.1 Trên Thế giới 17
1.3.2 Ở Việt Nam 20
1.4 Những thách thức trong vấn đề bảo tồn động vật hoang dã 30
1.5 Vai trò của báo chí trong việc đưa tin tức về bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử 34
Tiểu kết chương 1 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIN TỨC VỀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 41
2.1 Giới thiệu ba báo điện tử thuộc diện khảo sát 41
2.2 Thực trạng tin tức về bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” (Khảo sát báo điện tử Vietnamplus, Tài nguyên&Môi trường, Tuổi trẻ online từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2020) 50
2.2.1 Về số lượng 50
2.2.2 Về tần suất 51
2.2.3 Về thời gian đăng tải 55
2.2.4 Đặc điểm nội dung 56
2.2.5 Đặc điểm hình thức 71
Tiểu kết chương 2 89
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TIN TỨC VỀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 90
3.1 Đánh giá thành công và hạn chế của các tin tức về bảo tồn động vật hoang dã trên ba trang báo mạng điện tử Vietnamplus, Tài nguyên&Môi trường, Tuổi trẻ online (từ 01/2020 -12/2020) 90
3.2 Những vấn đề còn tồn tại 94
3.3 Một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tin tức về vấn đề bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay 99
Tiểu kết chương 3 111
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 119
Trang 7DANH MỤC HÌNH MINH HỌA
Hình 1: Châu Phi là khu vực có mức sụt giảm số lượng động vật hoang dã nhiều nhất thế giới (Nguồn Zing.vn) 18Hình 2: Các tỉnh, thành phố có số vụ buôn bán trái pháp luật ĐVHD lớn nhất năm 2019 (Nguồn: WCS Vietnam) 25Hình 3: Khả năng sẽ mua sản phẩm từ động vật hoang dã từ chợ bán động vật hoang dã trong tương lai (Nguồn: WWF) 26Hình 4: Giao diện trang chủ báo điện tử Vietnamplus ( Nguồn: Ảnh chụp màn hình) 42Hình 5: Logo của báo Vietnamplus (Nguồn: Ảnh chụp màn hình) 43Hình 6: Giao diện trang chủ báo Tuổi trẻ online ( Nguồn: Ảnh chụp màn hình) 46Hình 7: Logo của báo Tuổi trẻ online (Nguồn: Báo Tuổi trẻ online) 47Hình 8: Giao diện báo điện tử Tài nguyên và Môi trường (Nguồn: Ảnh chụp màn hình) 49Hình 9: Logo của Báo Tài nguyên&Môi trường (Nguồn: Báo Tài nguyên&Môi trường) 49Hình 10: Bài “Đà Nẵng: Phát hiện hơn 1.300 bẫy thú ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà” trên báo Tài nguyên và Môi trường 16/06/2020 74Hình 11: Bài “Kiến nghị mở rộng Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội” trên báo Tài nguyên và Môi trường đăng ngày 20/02/2020 80Hình 12: Bài “Thâm nhập 'thế giới ngục tù' tàn sát động vật trong 'sách đỏ' Việt Nam” Nguồn Báo Vietnamplus, tác giả Hùng Võ, ngày 01/01/2020 82Hình 13: Danh mục các bài báo về bảo tồn ĐVHD trên báo Vietnamplus 83Hình 14: Một video trên báo Tuổi trẻ online về việc bắt quả tang vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm đăng 23/05/2020 84Hình 15: Bài “Người dân Việt Nam ủng hộ đóng cửa chợ buôn bán động vật hoang dã” Nguồn báo Vietnamplus, tác giả Hùng Võ, 09/04/2020 85Hình 16: Box thông tin trong bài “Nói không với động vật hoang dã” đăng tải trên báo Tuổi trẻ online ngày 26/07/2020 86Hình 17: Phản hồi của độc giả trong bài “Nhói lòng những con khỉ què quặt,
bị thương lòi xương ở Sơn Trà” 88
Trang 8DANH MỤC BIỂU
Biểu 1: Biểu đồ cho thấy số lượng hổ bị buôn bán trái phép (sống và chết) bị bắt giữ trên toàn cầu từ năm 2000 đến năm 2018 19Biểu 2: Số lượng tin bài về bảo tồn ĐVHD trên ba trang báo mạng điện tử được khảo sát 51Biểu 3: Số lượng bài đăng về bảo tồn ĐVHD ở 3 báo theo từng quý trong năm 2020 55Biểu 4: Tỉ lệ tin bài của 3 báo chia theo nội dung tin tức 58Biểu 5: Tỉ lệ tin bài về bảo tồn ĐVHD chia theo thể loại trên ba báo khảo sát 77
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Bảng thống kê số lượng loài đang bị đe dọa được đánh giá theo IUCN 23Bảng 2: Bảng tổng hợp số lượng các bài viết về bảo tồn ĐVHD ở ba báo khảo sát 50Bảng 3: Thống kê số lượng tin bài về bảo tồn ĐVHD trên báo Tuổi trẻ online 52Bảng 4: Thống kê số lượng tin bài về bảo tồn ĐVHD trên báo Tài nguyên và Môi trường ( Đơn vị: Bài) 52Bảng 5: Thống kê số lượng tin bài về bảo tồn ĐVHD trên báo Vietnamplus ( Đơn vị: Bài) 53Bảng 6: Bảng phân loại nội dung tin tức về bảo tồn ĐVHD trên báo điện tử Việt Nam 57Bảng 7: Số lượng tin bài của 3 báo thuộc diện khảo sát theo từng loại nội dung 57Bảng 8: Số lượng bài viết về bảo tồn ĐVHD chia theo thể loại của ba báo được khảo sát ( Đơn vị: Bài) 76
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TRAFFIC: Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế
(The Wildlife Trade Monitoring Network)
IUCN: Liên minh bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
(International Union for Conservation of Natural)
CITES: Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp
(Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora)
ĐDSH: Đa dạng sinh học
ĐVHD: Động vật hoang dã
BMĐT: Báo mạng điện tử
WCS: Hiệp hội bảo tồn ĐVHD
(Wildlife Conservation Society)
ENV: Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên
(Education for Natural Vietnam)
NXB: Nhà xuất bản
SVW: Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Động vật hoang dã
(Save Vietnam Wildlife)
WWF: Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên
(World Wildlife Fun)
Trang 11la, Cheo cheo lưng bạc, mang lớn, mang trường sơn, thỏ vằn, Voi Châu Á, Bò rừng, Bò xám, Hổ, Báo, Hươu sao, các loài linh trưởng, các loài rùa biển và rùa cạn, nước ngọt
Tuy nhiên, theo thống kê số loài và số cá thể các loài hoang dã của Việt Nam đang trên đà giảm mạnh, nhiều loài nguy cấp, quý, hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng rất cao Như loài Giải sin-hoe (Rùa hồ gươm), các loài thú lớn khác như Voi, Hổ, Mèo lớn, Gấu, Tê tê, Sao La,…cũng đang bị đe dọa tuyệt chủng nếu không có biện pháp bảo vệ kiên quyết và hiệu quả Việc tăng cường bảo tồn các loài hoang dã hiện nay là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác bảo tồn ĐDSH
Trong thời gian vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, môi trường tự nhiên ngày càng bị tác động một cách nghiêm trọng Động vật hoang dã trong hệ thống đa dạng sinh học là một thành tố quan trọng của môi trường cũng không nằm ngoài những tác động đó Công tác truyền thông về bảo tồn động vật hoang dã được đặt ra một cách bức thiết Trong thực tế, Chính phủ, các cơ quan chức năng, các cơ quan chuyên môn về truyền thông báo chí và các tổ chức quốc tế cũng đã có
sự quan tâm nhất định tới truyền thông bảo tồn động vật hoang dã Tuy nhiên, hoạt động này chưa thật sự nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền
Trang 122
địa phương và cộng đồng dân cư, hoạt động thông tin, tuyên truyền còn bị hạn chế, chưa thật sự làm thay đổi rõ rệt nhận thức và hành vi vủa cộng đồng trong việc bảo tồn động vật hoang dã Nạn săn bắt, buôn bán trái phép vẫn diễn ra tràn lan và chưa có dấu hiệu dừng lại
Thực tế thấy rằng một trong những nguyên nhân hình thành nên cách nhìn nhận của công chúng có liên quan chặt chẽ tới báo chí Hầu như công chúng hiện đại đều tiếp nhận thông tin hàng ngày qua các phương tiện truyền thông đại chúng Các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng hiện đại với tốc độ cập nhật thông tin nhanh chóng và trở thành một kênh thông tin tiếp nhận tin tức đồng thời hình thành thế giới quan của mỗi cá nhân và toàn
xã hội Vì vậy, để tăng cường nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng trong vấn đề bảo tồn động vật hoang dã thì phương tiện truyền thông đại chúng giữ vai trò vô cùng to lớn
Ở Việt Nam, báo mạng điện tử ra đời muộn nhưng có nhiều ưu điểm nổi trội so với các loại hình báo chí khác Với sự phát triển ngày càng mạnh
mẽ, nguồn thông tin dồi dào, đa dạng Báo mạng trở thành kênh truyền thông
vô cùng hiệu quả đối với hoạt động thông tin bảo tồn động vật hoang dã
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận “Thực trạng tin tức về bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” (Khảo sát báo điện tử Vietnamplus, Tài nguyên&Môi trường, Tuổi trẻ online từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2020) được thực hiện nhằm nghiên cứu nội dung, hình
thức đưa tin về bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử, thành công
và hạn chế trong việc thông tin về công tác bảo tồn động vật hoang dã đồng thời kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đưa tin của báo mạng điện tử về vấn đề bảo tồn động vật hoang dã
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Trong nước
Trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận và thực tiễn báo chí đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động truyền thông bảo tồn động vật hoang dã
Trang 133
Cuốn “Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên” của tác giả Lê Trọng
Cúc, năm 2002, Đại học Quốc gia Hà Nội Cuốn sách là công trình nghiên cứu quan trọng bao gồm những tài liệu trên thế giới và trong nước đề cập đến các khái niệm, định nghĩa, các kiến thức cơ bản nhất và thực tiễn cấp bách nhất về đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên
Cuốn “Báo chí điều tra về buôn bán động vật hoang dã trái pháp luật"
do PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên), năm 2018, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Cuốn sách chỉ ra thực trạng buôn bán ĐVHD trái phép hiện nay, đưa ra các biện pháp phòng chống; những bài học, kinh nghiệm quý báu trong tác nghiệp của những nhà báo, chuyên gia về lĩnh vực này từ đó nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả tác nghiệp, viết bài tuyên truyền về phòng, chống buôn bán động vật hoang dã trái pháp luật
Tọa đàm “Vai trò của các cơ quan báo chí Việt Nam trong việc bảo vệ thiên nhiên hoang dã", do Mạng lưới giám sát buôn bán động, thực vật hoang
dã -TRAFFIC và Tổ chức truyền thông thay đổi hành vi Intelligentmedia tổ chức (23/09/2017) Tọa đàm nhấn mạnh việc truyền thông thay đổi hành vi là phương pháp hiệu quả góp phần giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã tại Việt Nam Trong các hoạt động này, sự tham gia của các
cơ quan báo chí Việt Nam luôn đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai
và lan tỏa thái độ không khoan nhượng đối với việc buôn bán và tiêu thụ ĐTVHD tới các đối tượng sử dụng chính và toàn bộ cộng đồng trong xã hội
Hội thảo khoa học “Giải pháp truyền thông thay đổi hành vi bảo vệ động, thực vật hoang dã góp phần bảo tồn đa dạng sinh học” trong khuôn
khổ dự án USAID Wildlife Asia (27/11/2020) thảo luận về một số vấn đề liên quan đến quản lý và bảo tồn động vật hoang dã ở Việt Nam; buôn bán động thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm; hệ thống quy phạm pháp luật về bảo
vệ động thực vật hoang dã; và các giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông
về bảo vệ động thực vật hoang dã
Trang 144
Ngoài ra có một số công trình dưới dạng báo cáo hoặc chiến lược
truyền thông về động vật hoang dã, trong đó phải kể đến "Chiến lược truyền thông bảo tồn động vật hoang dã” do Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học ( Tổng cục Môi trường thực hiện), nằm trong khuôn khổ dự án “Tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học thông qua cải cách chính sách và thay đổi thực trạng tiêu thụ các loài động vật hoang dã ở Việt Nam, giai đoạn 2012-2015”
Chiến lược này chỉ đưa ra kế hoạch hành động mà chưa có sự đánh giá cuối cùng về hiệu quả và tác động của truyền thông đa dạng sinh học đối với các đối tượng truyền thông
Báo cáo tổng quan của hội thảo “Huy động sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán động thực vật hoang dã: Không chỉ là thực thi pháp luật” do Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế IUCN thực hiện (2016)
Thông qua việc chia sẻ các bài học kinh nghiệm trong khu vực cũng như các nghiên cứu điển hình từ các nước khu vực châu Á, đặc biệt là khu vực Hạ Mê Kông, báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia của các cộng đồng bản địa và địa phương; tìm cách hỗ trợ, khuyến khích và tăng cường sự tham gia của họ trong phòng chống buôn bán trái phép động thực vật hoang
dã cũng như nỗ lực bảo tồn chúng
Bên cạnh đó, đã có một số luận văn sau đại học bảo vệ thành công các
đề tài có đề cập tới hoạt động truyền thông về bảo vệ đa dạng sinh học nói chung và vai trò của báo chí đối với bảo tồn động vật hoang dã nói riêng
Luận văn thạc sĩ “Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam” của tác giả Hồ Vĩnh Sơn, (Năm 2014, Đại học
Khoa học tự nhiên) Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học trên truyền hình cụ thể phân tích các chương trình truyền hình trên kênh VTV2: Chương trình Việt Nam Xanh, chương trình Phát triển bền vững và chương trình Các vấn đề giáo dục nhằm nghiên cứu nội dung, hình thức thể hiện các chương trình truyền hình về bảo tồn đa dạng sinh học cũng như đánh giá tác động và hiệu quả truyền thông của các chương trình này
Trang 155
Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam”
của tác giả Bùi Thị Hà, (Năm 2015, Đại học Quốc gia Hà Nội) Đề tài nghiên cứu các vấn đề chủ yếu của pháp luật về bảo vệ ĐVHD tại Việt Nam, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật và từ đó kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này để kiểm soát tình trạng săn bắn và buôn bán ĐVHD trái phép
Luận văn “Thực trạng và giải pháp đối với việc tiêu thụ các sản phẩm
từ động vật hoang dã phổ biến trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Phan Anh
Tuấn, ( Năm 2015, Đại học Khoa học tự nhiên) Đề tài nghiên cứu thực trạng tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã trên địa bàn thành phố Hà Nội, đối tượng và mục đích sử dụng, khu vực tiêu thụ và giá cả các sản phẩm từ động vật hoang dã Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã
Luận văn thạc sĩ “Báo mạng điện tử tại Việt Nam với vấn đề bảo vệ loài tê giác” của tác giả Lê Hoài Linh, ( Năm 2017, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền) tìm hiểu thực trạng đăng tải thông tin về bảo vệ loài tê giác trên báo mạng điện tử, từ đó đưa ra một số giải pháp trong việc thông tin tuyên truyền bảo vệ tê giác trên các trang báo mạng điện tử
Luận văn thạc sĩ “Vấn đề thông tin về đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Ngô Trung Việt, ( Năm 2018, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền) Đề tài tập trung phân tích thông tin về đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử tại Việt Nam, khảo sát đánh giá ý kiến của độc giả đối với thông tin về đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử từ đó đề xuất một số khuyến nghị nằm nâng cao chất lượng hoạt động thông tin về đa dạng sinh học trên báo điện tử tại Việt Nam
2.2 Nước ngoài
Cuốn “Popular Media and Animals” ( Truyền thông đại chúng với động vật) của tác giả Claire Molly thuộc Đại học Brighton, Anh xuất bản năm 2011
Trang 166
khám phá các khía cạnh xã hội, kinh tế, đạo đức và văn hóa trong mối quan
hệ giữa các hình thức truyền thông phổ biến và các vấn đề chính của động vật
Cuốn “The Media, Animal conservation and Environmental education” (Truyền thông, bảo tồn động vật và giáo dục môi trường) của tác giả John Blewitt xuất bản năm 2013 có sự đóng góp của các nhà làm phim, nhiếp ảnh gia, nhà nghiên cứu và học giả từ khắp nơi trên thế giới Cuốn sách khám phá các cách khác nhau mà phim, truyền hình và video thể hiện, có thể được các nhà bảo tồn và giáo dục sử dụng để khuyến khích nhận thức sâu sắc hơn về các vấn đề môi trường và bảo tồn, cũng như hành động thiết thực để giúp đỡ các loài có nguy cơ tuyệt chủng
Cuốn tạp chí với đề tài “Some Animals Are More Equal than Others: Wild Animal Welfare in the Media” ( Một số loài động vật bình đẳng hơn những loài khác: Phúc lợi của ĐVHD trong truyền thông) của nhóm tác giả Ruth E.Feber, Eva M Raebel, Nei D’cruze, David W Macdonald, Sandra E.Baker đã được xuất bản trên số 67 của tạp chí BioScience Trong đó, nhóm tác giả khai thác vấn đề rất mới là về phúc lợi của động vật (chế độ dinh dưỡng, môi trường sống, chăm sóc sức khỏe thể chất và tâm lý,…) hiện nay cũng như cách mà nó thể hiện trong truyền thông
Cuốn “Let me take a selfie” ( Hãy để tôi chụp một bức ảnh tự sướng) của ba tác giả Christian Lenzi, Siobhan Speiran, Chiara Grasso thuộc nhóm nghiên cứu Động vật sống thuộc Đại học Queen, Canada đã được tái bản Cuốn sách xem xét các tác động của truyền thông xã hội cho nhận thức của công chúng về ĐVHD hiện nay
Các nghiên cứu đã đề cập tới vai trò và các khía cạnh khác nhau của truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học trên các phương tiện truyền thông khác nhau như báo truyền hình, báo điện tử Tuy có một vài nghiên cứu mang tính gần gũi với hướng nghiên cứu của đề tài này nhưng cho tới nay chưa có
đề tài nào nghiên cứu vấn đề thực trạng tin tức về bảo tồn động vật hoang dã
trên báo mạng điện tử Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Thực trạng tin tức về bảo
Trang 177
tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” có thể coi
là một trong những đề tài mới, ít ai nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu Đây vừa là thuận lợi, nhưng cũng chính là một khó khăn lớn nhất trong quá trình thực hiện của người làm khóa luận
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích
Nghiên cứu thực trạng thông tin về bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay Phân tích thành công và hạn chế từ đó đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động đưa tin về bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử
Việc khảo sát, đánh giá thực trạng sẽ giúp tác giả chỉ ra được những thành công, hạn chế và nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu
Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Thực trạng tin tức về bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay (Khảo sát báo mạng điện tử Vietnamplus, Tài Nguyên&môi trường và Tuổi trẻ online từ tháng 1/2020 đến tháng 12/2020)
Thực trạng về những tin tức này sẽ được nhìn nhận dưới góc độ: Báo chí cụ thể là báo mạng điện tử tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của
Trang 18Đây là những trang báo mạng điện tử có uy tín hàng đầu Việt Nam, phản ánh mọi mặt đời sống xã hội trong nước và thế giới Với cách thức đưa tin khác nhau, đại diện cho những nhóm vấn đề, có đối tượng công chúng hướng tới khác nhau, việc khảo sát trên ba tờ báo này sẽ có rất nhiều những rất chứng phong phú và đa dạng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Khóa luận được thực hiện dựa trên lý luận học thuyết Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về báo chí truyền thông, lý luận báo chí học, lý luận xã hội học truyền thông đại chúng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Nghiên cứu các cuốn sách, văn
bản, nghị quyết, hội thảo, luận văn, luận án liên quan đến hoạt động truyền thông
về bảo tồn động vật hoang dã để hệ thống hóa những vấn đề lý luận, từ đó rút ra những luận điểm, luận chứng phù hợp với vấn đề nghiên cứu
Phương pháp phân tích nội dung: Phân tích các sản phẩm thông tin trên
3 tờ báo trong thời gian khảo sát 6 tháng để tìm hiểu về nội dung, hình thức, thống kê tần suất, mức độ xuất hiện của các tin bài để nhận diện thực trạng tin tức về bảo tồn động vật hoang dã ở Việt Nam
Phương pháp phỏng vấn sâu: dùng để phỏng vấn 4 phóng viên, nhà báo
ở các cơ quan báo chí khác nhau đã và đang viết về đề tài bảo tồn ĐVHD, 3 chuyên viên đến từ các tổ chức về ĐVHD ở Việt Nam gồm: WCS, SVW,
Trang 199
Wildhand để thu thập ý kiến của họ khi đánh giá về báo mạng điện tử Việt Nam trong việc bảo tồn ĐVHD
Phương pháp thống kê: Đây là công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình thu
thập, xử lý các số liệu thực tiễn về thực trạng tin tức về vấn đề này trên các báo
và ý kiến của các nhà báo, phóng viên, chuyên viên từ các cuộc phỏng vấn sâu
Phương pháp tổng hợp: Dựa trên các kết quả đã thu thập được tiến
hành tổng hợp, đánh giá, nhận xét các tin tức để đưa ra những đánh giá khách quan nhất cũng như các giải pháp mang tính thực tế để nâng cao hiệu quả tuyên truyền, chất lượng tin tức về vấn đề bảo tồn ĐVHD hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khoá luận
6.1 Ý nghĩa lý luận: Khóa luận là tài liệu tham khảo về mặt lý luận báo chí
truyền thông và là tài liệu nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến bảo tồn động vật hoang dã
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả của khóa luận sẽ là nguồn tư liệu
tham khảo về thực trạng đưa tin bảo vệ đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn động vật hoang dã nói riêng đối với các cơ quan nhà nước, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế, các cơ quan báo chí, các nhà nghiên cứu báo chí, sinh viên báo chí và những người có quan tâm tới hoạt động này
Chương 3: Đánh giá và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tin tức về bảo tồn động vật hoang dã trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay
Trang 2010
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ
TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Thực trạng
Trong từ điển Tiếng Anh Oxford định nghĩa “thực trạng” (reality) là
“trạng thái của những điều thực sự tồn tại, trái ngược với tưởng tượng hoặc
lý thuyết, ý tưởng về chúng, xảy ra một cách tự nhiên của các sự việc, hiện tượng” “Thực trạng” còn có nghĩa rộng hơn là “tất cả mọi thứ đã tồn tại, đang tồn tại hoặc sẽ tồn tại”1
Đối với tài liệu tiếng Việt, trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ
biên có viết “thực trạng” là “đúng với sự thật, có khác với tình hình nhìn thấy bên ngoài” 2 Còn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Long chủ biên cho rằng “thực
trạng” có nghĩa là “tình trạng có thật, trạng thái trước mắt”3
Như vậy, từ những khái niệm định nghĩa về “thực trạng” trên thế giới và ở
Việt Nam, ta có thể rút ra khái niệm khái quát nhất về “thực trạng” như sau: Thực trạng là những gì phản ánh đúng, chân thật và chính xác về những gì đã và đang xảy ra trong đời sống xã hội Những gì ta có thể cảm nhận được bằng các giác quan, trái ngược với trí tưởng tượng con người tự tạo ra trong tâm trí mình
1.1.2 Tin tức
Trong Tiếng Anh, “tin tức” (news) được hiểu theo nghĩa trình bày
thông tin mới, được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới “tin tức mô tả thế giới trong quá khứ và hiện tại Và nếu nó đề cập đến một sự kiện đã diễn ra từ lâu thì nó phải có liên kết đến hiện tại” 4
1 Oxford English Dictionary (2005), NXB Đại học Oxford
2 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt (tr974), NXB Đà Nẵng
3 Hoàng Long (2008), Từ điển Tiếng Việt (tr979), NXB Hồng Đức, Thanh Hóa
4 Imogen Groome (2017), Why is News called News?
https://metro.co.uk/2017/06/08/why-is-news-called-news-6694623/?ito=cbshare
Trang 2111
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “tin tức” với chức
danh của một danh từ có nghĩa là “điều được truyền đi, báo cho biết về sự việc, tình hình xảy ra, sự truyền đạt, phản ánh dưới các hình thức khác nhau, cho biết
về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó” 1 Theo nghĩa của một động từ thì “tin” có nghĩa là “ báo tin, là sự thật hoặc đúng sự thật” Còn nếu theo nghĩa của một tính từ thì “tin” là “đạt đến độ chính xác cao, trúng, đúng” 1
Trong Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam “tin” được nhận định như
sau: “Tin đơn vị cơ bản của thông tin báo chí, mạng lượng tin cơ bản về một sự kiện mới xảy ra được mọi người hoặc một số người quan tâm Tin được thông báo nhanh và ngắn gọn trên báo chí, đặc biệt báo ngày, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình (bao gồm cả tin viết, hình và nói) Có nhiều thể loại tin: tin ảnh (đưa tin bằng hình ảnh), tin báo chí, tin chính thức (tin do cơ quan – đơn vị chức năng thông tin thời sự được Nhà nước quy định đưa ra), tin chớp nhoáng (tin phát thanh, mang thông báo ngắn gọn nhất về một sự kiện mới)” 2
Xét dưới tiêu chí mà các biên tập viên và phóng viên chuyên nghiệp
dùng để xác định tin tức là gì có thể được tóm gọn lại như sau: “Có liên quan, hữu ích, gây được sự quan tâm Những tiêu chí đó được áp dụng rộng rãi nhưng mỗi nhà báo hay mỗi cơ quan báo chí đều sử dụng chúng theo một bối cảnh đặc thù để nhấn mạnh ý nghĩa theo cách riêng Cái bối cảnh ấy do chính công chúng tạo ra” 3
Từ những định nghĩa trên, ta có thể hệ thống và đưa ra khái niệm về
“tin tức” như sau: “Tin tức là những thông tin, sự kiện mới, có tính thời sự xảy
1 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt (tr974), NXB Đà Nẵng
2 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển quốc gia Việt Nam (2005), Từ điển Bách Khoa Việt Nam [ Bách khoa toàn thư Việt Nam, Bách khoa toàn thư Việt Nam] Tập 4 từ T- Z(tr345), NXB Từ
điển Bách Khoa
3 https://tuoitre.vn/tin-tuc-la-gi-224096.htm
Trang 2212
ra được nhiều người quan tâm Tin tức có thể được cung cấp qua nhiều phương tiện như truyền miệng, in ấn, bưu phẩm, báo đài,…”
1.1.3 Động vật hoang dã
Hiện nay, tại Việt Nam các học giả chưa đưa ra một khái niệm chính xác
về ĐVHD Do đó trong nội dung này, tác giả sẽ tham khảo và phân tích các từ điển trong nước và quốc tế nhằm đưa ra một khái niệm tương đối về ĐVHD
Trong Từ điển Tiếng Việt, không có một khái niệm cụ thể về “động vật hoang dã” mà chỉ có hai khái niệm riêng rẽ: “động vật” và “hoang dã” Theo
đó, “động vật là sinh vật có cảm giác và tự vận động được” và “hoang dã là
có tính chất tự nhiên của núi rừng, xa đời sống của xã hội loài người” 1
Theo từ điển Cambridge Advanced Learner’s Dictionary, 4th Edition thì
“ĐVHD” là những con vật sinh ra và lớn lên độc lập với loài người, thường sống trong những điều kiện hoàn toàn tự nhiên2 Trong cuốn Wildlife conservation evaluation: attributes, criteria and values, “ĐVHD” theo nghĩa truyền thống chỉ
những loài động vật chưa được thuần hóa, sống và phát triển trong những khu vực hoang dã hoàn toàn không có sự tác động của con người3
Bên cạnh đó, Điều 3 Luật đa dạng sinh học của Việt Nam năm 2008
cũng đưa ra khái niệm về “loài hoang dã” như sau: “Loài hoang dã là loài động vật, thực vật, vi sinh vật và nấm sinh sống và phát triển theo quy luật” 4
Từ những khái niệm này, có thể hiểu “ĐVHD” là từ chỉ những loài sinh vật có cảm giác và vận động được, sinh sống theo bản năng trong môi trường
tự nhiên, xa cách với đời sống xã hội của loài người
Thế giới ĐVHD rất phong phú và phân bố đa dạng trong các môi trường sống khác nhau Có nhiều cách để phân loại ĐVHD, tuy nhiên trong khuôn khổ của khóa luận, sử dụng cách phân loại dựa trên mức độ nguy cấp, quý hiếm và chia ĐVHD thành hai loại: ĐVHD thông thường và ĐVHD nguy
1 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt (tr974), NXB Đà Nẵng
2 IDM, & McIntosh, C (2018), Cambridge Advanced Learner’s Dictionary, Cambridge University
Press
3 Usher, M B (1986), “Wildlife conservation evaluation: attributes, criteria and
values”, London, New York: Chapman and Hall ISBN 978-94-010-8315-7
4 Quốc hội (2008), Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12, Hà Nội
Trang 2313
cấp, quý hiếm Theo đó, ĐVHD thông thường là các loài động vật sinh sống trong các môi trường tự nhiên khác nhau, số lượng cá thể còn nhiều trong tự nhiên và chưa bị đe dọa tuyệt chủng Trong khi đó, ĐVHD nguy cấp, quý hiếm là những loài động vật có số lượng cá thể sinh sống trong tự nhiên còn rất ít, có nguy cơ bị tuyệt chủng và thường có giá trị cao về mặt kinh tế, y tế, khoa học, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn hóa, lịch sử
1.1.4 Bảo tồn động vật hoang dã
Theo Từ điển tiếng Việt, bảo tồn nghĩa là giữ lại, không để cho mất đi
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Như vậy, “bảo tồn ĐVHD” có thể hiểu là hoạt động nhằm bảo
vệ và ngăn chặn sự biến mất của các loài ĐVHD1
Trong tài liệu thuật ngữ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IUCN (International Union for Conservation of Nature and Natural
Resources), bảo tồn là công tác bảo vệ, chăm sóc, quản lý và duy trì những hệ
sinh thái, môi trường sống, các loài ĐVHD và quần thể nằm bên trong hoặc bên ngoài môi trường tự nhiên, nhằm duy trì những điều kiện tự nhiên cho sự bền vững lâu dài 2 Theo khái niệm này, bảo tồn ĐVHD là bảo vệ, chăm sóc,
quản lý và duy trì các loài ĐVHD nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các loài và số lượng cá thể mỗi loài
Hiện nay, môi trường là vấn đề nóng trên toàn cầu và nhận được nhiều
sự quan tâm hơn bao giờ hết Trong đó, bảo tồn động vật hoang dã là một trong những chủ đề được quan tâm và bàn luận nhiều nhất Tính đến thời điểm năm 2019, có gần 1.556 loài động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc gần như tuyệt chủng cần được bảo vệ
Bên cạnh việc mất dần đi môi trường sống, thì nguyên nhân chủ yếu gây suy giảm số lượng các loài động vật trên Thế giới nói chung và Việt Nam
1 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng
2 IUCN, IUCN Glossary Definitions, Retrieved from https://www.iucn.org/
downloads/en_iucn glossary_definitions.pdf
Trang 241.1.5 Báo mạng điện tử
Từ khi ra đời đến nay, báo mạng điện tử đã dần khẳng định được vai trò to lớn của mình trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng với các loại hình báo chí khác Trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều tên gọi để chỉ loại hình báo chí hiện đại này như: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng điện tử (Cyber Newspaper), báo chí Internet (Internet Newspaper) Sau các tên gọi này, thuật ngữ “báo mạng điện tử” ra đời và trở thành tên gọi chính thức cho chuyên ngành về loại hình báo chí này tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trong cuốn “Báo mạng điện tử với những vấn đề cơ bản” của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, khái niệm báo mạng điện tử được nhắc đến là
“một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao” 1
Theo PGS.TS Dương Xuân Sơn đề cập trong cuốn sách “Các loại hình
báo chí truyền thông” thì báo mạng điện tử là “hình thức báo chí mới được hình thành từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao như một số nhân tố quyết định quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu” 2
1 PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang (2010), Báo mạng điện tử với những vấn đề cơ bản (tr67),
NXB Chính trị quốc gia
2 PGS.TS Dương Xuân Sơn (2014), Các loại hình báo chí truyền thông (tr234), NXB Thông tin và
truyền thông
Trang 25Còn Luật Báo chí số 103/2016/QH13 được Quốc hội sửa đổi vào ngày
05/04/2016 quy định: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử” 2 Trong khuôn khổ khóa luận này, tác giả sử dụng thuật ngữ
báo mạng điện tử trong cuốn sách “Báo mạng điện tử với những vấn đề cơ
bản” của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang :“Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong truyền tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao” 3
1.2 Đặc điểm của báo mạng điện tử
Thứ nhất, báo mạng điện tử cho phép cập nhật thông tin tức thời, thường xuyên và liên tục Với sự phát triển của công nghệ đặc biệt là mạng
Internet các nhà báo trực tuyến có thể dễ dàng xâm nhập sự kiện, nhanh chóng viết bài và gửi về tòa soạn thông qua hệ thống điện tử Với tốc độ đường truyền nhanh thậm chí các nhà báo có thể đưa tin cùng lúc với sự kiện xảy ra, ở bất cứ đâu, khi nào, ví dụ như khi tường thuật một trận bóng đá hay một cuộc họp báo,… Không chỉ tức thời, báo mạng còn cho phép các nhà báo thường xuyên cập nhật thông tin Điều này khác với báo giấy hoặc các loại hình báo khác ở chỗ nhà báo có thể đăng tải thêm thông tin bất cứ lúc nào mà không phải chờ đến giờ lên khuôn chương trình như các loại hình báo khác Đây cũng là tính phi định kì của báo mạng điện tử, đặc điểm này giúp cho báo
1 Chính phủ (2002), Nghị định số 51/2002 NĐ-CP ngày 26/04/2002, Chương 1, Điều 1
2 Luật Báo chí số 103/2016/QH13
3 PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang (2010), Báo mạng điện tử với những vấn đề cơ bản, NXB
Chính trị Quốc gia
Trang 2616
mạng dễ dàng vượt trội hơn so với các loại hình báo khác về tốc độ thông tin, lượng thông tin, đảm bảo tính thời sự và tạo ra sự thuận tiện cho độc giả
Thứ hai, báo mạng điện tử có tính đa phương tiện Báo mạng điện tử là
một loại hình tổng hợp, tích hợp nhiều công nghệ (multimedia) Trên một tờ báo mạng, thậm chí ngay trong một tác phẩm báo mạng có thể tích hợp cả báo viết, báo phát thanh và báo hình Khi đọc báo mạng độc giả có thể chủ động xem những tác phẩm mình quan tâm ở bất kì trang nào giống báo in Đồng thời cũng được trực quan những hình ảnh, video clip, nghe audio mà không
hề bị phụ thuộc vào các yếu tố thời gian và không gian Sự tích hợp này giúp cho báo mạng điện tử có được những yếu tố hấp dẫn của các loại hình báo khác, vì thế mà trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn
Thứ ba, báo mạng điện tử có tính tương tác cao Tính tương tác là một
trong những đặc điểm nổi bật của báo mạng điện tử Nhờ có những ưu thế nổi trội về công nghệ mà dường như tính tương tác trên báo mạng có vẻ cao hơn
so với các loại hình báo chí còn lại Không dừng lại ở sự tương tác giữa độc giả với tòa soạn, ở báo mạng điện tử chúng ta còn có thể thấy sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật trong tác phẩm báo chí Quá trình tương tác trên báo mạng điện tử nhanh chóng và thuận tiện hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác Ngay sau các tác phẩm báo chí đăng trên trang báo mạng điện tử đều có mục phản hồi (comment), ngoài ra còn có rất nhiều kênh tương tác như vote, mail, chatbox, diễn đàn trực tuyến… tiện cho độc giả đóng góp ý kiến của mình Điều này khó thấy trên báo hình, phát thanh hay báo giấy
Thứ tư, báo mạng điện tử có khả năng liên kết lớn Nhờ vào các siêu
liên kết (hyperlink), các từ khóa, web link,…Từ một bài báo, độc giả có thể
dễ dàng tìm kiếm những thông tin liên quan thông qua các liên kết để tìm hiểu sâu hơn các vấn đề quan tâm Hoặc từ một trang báo, có thể dễ dàng đi đến các web liên kết khác chỉ với một thao tác click chuột Khả năng liên kết của báo mạng điện tử thật sự mở ra một kho tàng thông tin vô hạn cho độc giả
Trang 2717
Thư năm, báo mạng điện tử có khả năng lưu trữ và tìm kiếm dễ dàng
Báo mạng điện tử cho phép lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học, với một lượng thông tin lưu trữ lớn Đồng thời với đó là khả năng tìm kiếm dễ dàng nhờ vào các mục tìm kiếm với các từ khóa được đính kèm trên mỗi trang báo mạng điện tử Có thể xem theo ngày, xem theo bài, hoặc theo chủ đề,… Nếu không có điều kiện đọc ngay lúc online độc giả báo mạng có thể lưu bài viết lại để đọc sau hoặc độc giả có thể đọc lại nhiều lần tùy thích mà thao tác hoàn toàn đơn giản Điều này với truyền hình hay phát thanh là vô cùng khó
1.3 Thực trạng vấn đề bảo tồn động vật hoang dã
1.3.1 Trên Thế giới
Theo báo cáo Sự sống trên hành tinh1, được thực hiện 2 năm một lần của Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) và Hiệp hội Động vật học London (ZSL), trung bình quần thể động vật có vú, chim, cá, lưỡng cư và
bò sát trên toàn cầu giảm 68% trong giai đoạn 1970 – 2016 Nghiên cứu đã theo dõi dữ liệu toàn cầu về 20.811 quần thể của 4.392 loài động vật có xương sống Những đối tượng được giám sát bao gồm các loài động vật đang bị đe dọa như gấu trúc, gấu Bắc Cực, cũng như các loài lưỡng cư và cá Số liệu mới nhất cho thấy ở trên toàn thế giới, các quần thể động vật hoang dã có xương sống đang giảm hơn 2/3 kể từ năm 1970
Khu vực Mỹ Latin và Caribe ghi nhận tình trạng đáng báo động nhất với mức giảm tới 94%, trong các quần thể động vật hoang dã có xương sống Các loài bò sát, cá và động vật lưỡng cư trong khu vực bị ảnh hưởng tiêu cực do việc khai thác quá mức hệ sinh thái, sự phân tán môi trường sống và dịch bệnh
Châu Phi và châu Á - Thái Bình Dương cũng trải qua sự sụt giảm nghiêm trọng các loại động vật hoang dã với con số lần lượt là 65% và 45% Châu Âu và Trung Á ghi nhận mức giảm 24%, Bắc Mỹ là 33% Những con số trên hình thành chỉ số sự sống trên hành tinh (LPI), nó giống như chỉ số chứng khoán về động vật hoang dã
1 Trung Hiếu (2020), Con người đang tàn phá thiên nhiên ở quy mô chưa từng thấy
https://zingnews.vn/con-nguoi-dang-tan-pha-thien-nhien-o-quy-mo-chua-tung-thay-post1129790.html
Trang 2818
Hình 1: Châu Phi là khu vực có mức sụt giảm số lượng động vật hoang dã
nhiều nhất thế giới (Nguồn Zing.vn)
Các chuyên gia cho biết chỉ số LPI là bằng chứng về sự tuyệt chủng lần thứ 6 của sự sống trên Trái Đất, với 1 triệu loài động vật đang gặp nguy hiểm do hoạt động của con người, theo báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 2019 Nạn phá rừng và chuyển đổi thành đất nông nghiệp để sản xuất thực phẩm cho con người
là nguyên nhân chính dẫn đến sự phá hủy đa dạng sinh học trên Trái Đất
Một báo cáo mới của các chuyên gia buôn bán động vật hoang dã Traffic đã đưa ra những con số khó xác định về quy mô buôn bán hổ trên toàn cầu 2.361 con hổ, sống hoặc chết, đã bị chính quyền 32 quốc gia và vùng lãnh thổ bắt giữ từ năm 2000 đến năm 2018 Như biểu đồ dưới đây cho thấy, không có xu hướng rõ ràng, đi xuống hay tăng lên, tuy nhiên, năm 2016 chứng kiến mức cao nhất trong khoảng thời gian 288 con hổ Động vật không phải lúc nào cũng được tìm thấy nguyên con (29%) mà thường chỉ là da của chúng (40%) hoặc các bộ phận khác, bao gồm cả xương (27%)1
Các vụ bắt giữ nhiều nhất được tiến hành ở Ấn Độ (463), nơi phát hiện
ra bằng chứng về tổng số 625 cá thể hổ bị buôn lậu Bình luận về kết quả nghiên cứu, Kanitha Krishnasamy, Giám đốc TRAFFIC khu vực Đông Nam
Trang 2919
Á cho biết: “Việc buôn bán ác độc này bằng chứng là số lượng da nguyên con, động vật nguyên con cả chết và sống liên tục tăng cao và xương là minh chứng cho nhu cầu liên tục đối với các bộ phận của Hổ Đã đến lúc lời nói phải được biến thành hành động để không làm Hổ mất thêm nữa ”1
198 262
123 97
Biểu 1: Biểu đồ cho thấy số lượng hổ bị buôn bán trái phép bị bắt giữ trên
toàn cầu từ năm 2000 đến năm 2018 (Nguồn: Statista)
Theo Báo cáo Sức sống hành tinh 2020 2được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới công bố, trong vòng chưa tới nửa thế kỷ, hai phần ba quần thể động vật có vú, chim, lưỡng cư, bò sát và cá trên toàn cầu đã giảm, phần lớn
là do môi trường bị phá hủy Đây cũng là nguyên nhân góp phần lây lan các dịch bệnh liên quan đến động vật, như Covid-19 Ông Marco Lambertini,
Tổng giám đốc WWF quốc tế chia sẻ: "Báo cáo Sức sống hành tinh 2020 đã nhấn mạnh sự phá hủy thiên nhiên ngày càng tăng của chúng ta đang không
1 Martin Armstrong (2019 ), Trafficking: The Alarming Rate of Tiger Seizures
https://www.statista.com/chart/19103/global-tiger-seizures/
2 WWF (2020), Báo cáo Sức sống Hành tinh: Hai phần ba các quần thể động vật hoang dã đã giảm từ năm 1970 https://vietnam.panda.org/?364761/Bao-cao-suc-song-hanh-tinh-2020
Trang 3020
chỉ hủy diệt động vật hoang dã mà cả sức khỏe con người cũng như tất cả các khía cạnh của cuộc sống của chúng ta Chúng ta không thể bỏ qua các bằng chứng về chỉ số suy giảm nghiêm trọng quần thể các loài động vật hoang dã Đây là chỉ số cảnh báo môi trường thiên nhiên và là môi trường sống của chúng ta đang bị dọa nghiêm trọng Hành tinh chúng ta đang phát tín hiệu
đỏ, cảnh báo lỗi hệ thống Từ các loài cá ở đại dương và sông ngòi đến loài ong vốn có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, sự suy giảm ở động vật hoang dã ảnh hưởng trực tiếp đến dinh dưỡng, an ninh lương thực
và sinh kế của hàng tỷ người”, Tổng giám đốc WWF cảnh báo
Ông nói thêm: "Trong bối cảnh đại dịch toàn cầu, hơn bao giờ hết, các quốc gia cần phải phối hợp và hành động để cùng chặn đứng và đảo ngược
xu hướng mất đa dạng sinh học và quần thể các loài hoang dã vào cuối thập
kỷ này Sự sống còn của chúng ta ngày càng phụ thuộc vào việc này"
1.3.2 Ở Việt Nam
Việt Nam là nước có nền đa dạng sinh học cao trên thế giới, tuy nhiên,
mức độ đe dọa và nguy cơ tuyệt chủng đang ở mức báo động “Theo Sách đỏ của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN): Nếu như năm 1996 chỉ
có 25 loài động vật của Việt Nam ở mức nguy cấp (EN), thì tính đến tháng 09/2016, con số này đã lên tới 110 loài Số lượng cá thể của các loài quan trọng đã giảm đến mức báo động, nhất là các loài thú lớn và một số loài linh trưởng như: hổ, voi, vượn, voọc, sao la…”1 “Cá thể tê giác cuối cùng của Việt Nam được tuyên bố là đã bị chết trong Vườn Quốc gia Cát Tiên vào năm
2010 - “một bi kịch quốc gia” như ông Trần Văn Thành, Giám Đốc vườn
Quốc gia Cát Tiên, nhận định
1 Hoàng Thị Thanh Nhàn (19/2/2017), “Bảo tồn các loài hoang dã nguy cấp ở Việt Nam”, Báo
Nhân dân điện tử, http://www.nhandan.com.vn/khoahoc/ da-nguy-cap-o-viet-nam.html
Trang 31item/32100102-bao-ton-cac-loai-hoang-21
Tại Hội nghị quốc tế 1về chống buôn bán trái pháp luật các loài động vật, thực vật hoang dã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 11/2016, Phó Chủ tịch
nước Đặng Thị Ngọc Thịnh cho biết: “Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo
vệ đa dạng sinh học, bảo vệ các loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp Việt Nam cũng là quốc gia sớm tham gia các Công ước Liên hợp quốc về đa dạng sinh học; Công ước về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp…Việt Nam ưu tiên thành lập các lực lượng chuyên trách thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này như: Kiểm lâm, cảnh sát môi trường, hải quan, bộ đội biên phòng, quản lý thị trường ”
Tính đến nay, Việt Nam đã có 164 khu bảo tồn rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển và khu bảo tồn vùng nước nội địa với tổng diện tích 2,2 triệu ha là sinh cảnh quan trọng của các loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm Hiện nay trên cả nước đã có rất nhiều trung tâm cứu hộ, bảo tồn ĐVHD được đánh giá đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế Đây là những “ngôi nhà thiên nhiên” giúp cho các loài động vật hồi phục được tập tính, phản xạ tự nhiên cũng như hoà nhập lại với môi trường sống sau một thời gian dài bị nuôi nhốt2
Những “Ngôi nhà thiên nhiên” tiêu biểu đầu tiên phải kể đến là Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam (Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc) của Tổ chức Động vật Châu Á Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam đi vào hoạt động từ tháng 4/2008, có tổng diện tích 1,2 ha, được đầu tư trên 3,3 triệu USD, có thể chăm sóc 200 cá thể gấu cùng một lúc
Từ những năm 1960, Việt Nam đã xây dựng, thành lập các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên nhằm tạo môi trường, sinh cảnh cho động vật
1 VTV News (2016), Hội nghị quốc tế lần thứ ba về chống buôn bán trái pháp luật các loài động
Trang 3222
hoang dã sinh sống, đó là nỗ lực lớn của Việt Nam Thậm chí, khi các khu bảo tồn có nguy cơ khó bảo vệ được động vật hoang dã, Việt Nam đã cố gắng hết sức để tổ chức di dời các loài động vật hoang dã đến những vùng sinh cảnh tốt hơn, như vụ di dời đàn voi ở Tánh Linh (Bình Thuận) năm 2002 hay
ở Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu) năm 1993 Việt Nam đã thành lập Ban chỉ đạo liên ngành về thực thi pháp luật loài hoang dã của Việt Nam (Việt Nam - WEN) và sự hợp tác với các nước Asean Việt Nam đã hết sức nỗ lực trong việc bắt giữ một số lượng lớn các vụ vận chuyển trái phép mẫu vật loài động vật hoang dã có nguồn gốc từ nước ngoài vào Việt Nam, khi từ năm
2000 đến nay đã bắt giữ trên 50 vụ buôn bán trái phép mẫu vật hổ, hơn 18 tấn ngà voi, gần 100.000 tấn tê tê, hàng trăm ký sừng tê giác Nước ta hiện có khá nhiều trung tâm cứu hộ động vật hoang dã đơn loài như Trung tâm cứu hộ linh trưởng ở Cúc Phương (Ninh Bình), Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Cát Tiên (Lâm Đồng); cứu hộ rùa, hay tê tê (đều ở Cúc Phương), gấu ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Tuy nhiên các trung tâm này chỉ là cứu hộ động vật hoang
dã đơn loài, hoạt động có thời hạn và do các tổ chức quốc tế tài trợ1
Thực trạng cho thấy số lượng các loài có nguy cơ tuyệt chủng toàn cầu
có phân bố ở Việt Nam hiện rất nhiều Theo dữ liệu từ Danh lục đỏ IUCN năm 2020, tổng cộng có 6.640 loài sinh vật đã được đánh giá, trong đó 771 loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng, chiếm 16,28% tổng số loài đã được đánh giá (bảng 1) Con số này đã tăng hơn so với tỷ lệ 13% ở năm 2012 Như vậy có thể thấy rằng số lượng loài động vật cần được bảo tồn ở Việt Nam là rất lớn và có thể xem đây là một thách thức không hề nhỏ đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam2
1 Khổng Loan (2012), Việt Nam trong cuộc chiến bảo vệ động vật hoang dã,
https://tuoitre.vn/viet-nam-trong-cuoc-chien-bao-ve-dong-vat-hoang-da-520800.htm
2 Trần Văn Bằng (2020), Đa dạng sinh học ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức bảo tồn,
https://vjst.vn/vn/tin-tuc/3184/da-dang-sinh-hoc-o-viet-nam thuc-trang-va-thach-thuc-bao-ton.aspx
Trang 33* Các bậc xếp hạng theo IUCN cũng tương tự như Sách đỏ Việt Nam
CR: rất nguy cấp; EN: nguy cấp; VU: sẽ nguy cấp; NT: gần bị đe dọa
Bảng 1: Bảng thống kê số lượng loài đang bị đe dọa được đánh giá theo
IUCN
Theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN), ở Việt Nam, số loài ĐVHD bị đe dọa không chỉ tăng về số lượng, mà còn tăng cả về mức độ
đe dọa Quần thể loài bị đe dọa toàn cầu đang giảm về số lượng, nhiều loài bị
đe dọa trên quy mô toàn cầu không cao nhưng ở Việt Nam lại có mức độ rất lớn Do mất sinh cảnh và thức ăn bị ô nhiễm, Hạc cổ trắng, một loài chim quý
Trang 3424
hiếm không có tên trong danh sách đỏ của IUCN, đã trở thành loài sắp nguy cấp Cũng theo IUCN, một số ĐVHD còn tồn tại ở nhiều nước nhưng bị coi là tuyệt chủng ngoài tự nhiên ở Việt Nam Thực tế diễn ra đã thể hiện rõ những biến động lớn về đa dạng sinh học của Việt Nam so với nhiều vùng lãnh thổ
Các nhà nghiên cứu nhận xét, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc suy giảm ĐDSH của Việt Nam là tình trạng săn bắt, buôn bán ĐVHD trái phép không ngừng gia tăng Từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới buôn bán ĐVHD bất hợp pháp toàn cầu Ban đầu, hoạt động buôn bán ĐVHD ở Việt Nam hướng vào đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của Trung Quốc Những năm gần đây, khi mức sống của người dân được cải thiện, Việt Nam không chỉ còn là mắt xích trong đường dây trung chuyển mà đã trở thành quốc gia tiêu thụ ĐVHD Nhiều loài ĐVHD bị săn bắt ráo riết do nhiều người dân tin rằng chúng có công dụng bồi bổ sức khỏe, tăng cường sinh lực và chữa các bệnh nan y
Do hoạt động buôn bán ĐVHD phát triển mạnh, nhiều cảng biển của Việt Nam đã trở thành nơi tiếp nhận những chuyến hàng vận chuyển sản phẩm ĐVHD có giá trị lớn trước khi đưa vào Trung Quốc Trong năm 2017,
đã có 185 trường hợp vi phạm với tang vật bị thu giữ lên tới 8 tấn ngà voi và
143 kg sừng tê giác; 4 tháng đầu năm 2018, cơ quan Hải quan cũng đã tịch thu gần 6 tấn vảy tê tê vận chuyển trái phép vào Việt Nam (EVN 2018)
Trong những năm gần đây nhiều bằng chứng cũng cho thấy các sản phẩm động vật như sừng tê giác và sừng của thú móng guốc có nguồn gốc từ châu Phi thường xuyên được đưa vào Việt Nam để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Theo TRAFFIC, trong 3 năm từ 2007 – 2010, có 657 Sừng tê giác xuất nhập khẩu hợp pháp từ Nam Phi vào Việt Nam Báo cáo của tổ chức WWF đánh giá, Việt Nam là một trong những quốc gia thực thi đáng lo ngại nhất, với thẻ màu đỏ đối với loài Tê Giác và Hổ Theo đó, Việt Nam là quốc
Trang 35Ở thị trường trong nước, hầu hết các loài động vật hoang dã được tiêu thụ trong các nhà hàng đặc sản hoặc được sử dụng làm nguyên liệu bào chế thuốc Đông y Nhu cầu tiêu thụ động vật hoang dã được là lớn nhất ở những thành phố lớn (như TP.Hồ Chí Minh và Hà Nôi), nơi tập trung nhiều doanh nhân cũng như viên chức giàu có Các tỉnh như Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Hà Tĩnh, Nghệ An, Gia Lai, Kon Tum là những nơi khai thác Động vật hoang dã lớn Đường quốc lộ 1A là tuyến đường vận chuyển động vật hoang dã nhiều nhất Việt Nam
Hình 2: Các tỉnh, thành phố có số vụ buôn bán trái pháp luật ĐVHD lớn nhất
năm 2019 (Nguồn: WCS Vietnam)
Theo báo cáo của USAID (2018), với đặc thù về truyền thống văn hóa
và thói quen tiêu dùng của người Việt Nam, các sản phẩm ĐVHD thường được sử dụng cho các mục đích làm thuốc cổ truyền, làm quà tặng, các sản
Trang 3626
phẩm có giá trị tâm linh (may mắn, trừ tà) Báo cáo cũng cho thấy đa số người mua sản phẩm ĐVHD biết đó là trái pháp luật nhưng vẫn làm, do không thấy hậu quả nghiêm trọng và thực thi pháp luật vẫn còn lỏng lẻo
Tuy nhiên, xu hướng tiêu dùng sản phẩm ĐVHD đang có chiều hướng thay đổi, do những lo ngại về các nguy cơ lây truyền mầm bệnh từ ĐVHD sang người Trong giai đoạn đầu khi dịch COVID-19 mới bùng phát, trong tháng 3/2020, một khảo sát của WWF được thực hiện với 5.000 người đến từ Hongkong, Nhật Bản, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam cho thấy tại Việt Nam:
- 88% người được hỏi cực kỳ hoặc rất lo lắng về đại dịch
- 93% người được hỏi ủng hộ những hành động của chính phủ để đóng cửa các khu chợ buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp và thiếu kiểm soát
- 82% người được hỏi trả lời rằng họ sẽ không mua sản phẩm ĐVHD từ những khu chợ bất hợp pháp và thiếu kiểm soát trong tương lai
Hình 3: Khả năng sẽ mua sản phẩm từ động vật hoang dã từ chợ bán động
vật hoang dã trong tương lai (Nguồn: WWF)
Những vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐVHD tại Việt Nam ngày càng trở nên cấp bách Tín hiệu đáng mừng là công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và ĐVHD nói riêng đã được Chính phủ nhìn nhận và hoàn thiện khung
Trang 3727
pháp lý bao gồm: Luật Thủy sản năm 2017 (hiệu lực năm 2019); Luật Lâm nghiệp 2017 (hiệu lực năm 2019); Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo năm 2015; Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Luật hình sự sửa đổi năm 2009, Chương 17 có quy định xử phạt đối với tội săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của loại động vật đó
Cột mốc quan trọng nhất cho sự nghiệp bảo tồn đa dạng sinh học Việt Nam là Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 Luật Đa dạng sinh học được đánh giá
là rất tiến bộ, có tầm nhìn, hệ thống và tiếp cận đầy đủ các cam kết và chuẩn mực quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học Đây là khung luật đầu tiên của Việt Nam quy định về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học Luật đa dạng sinh học có riêng Chương 4 (từ điều 37
đến điều 49) quy định về “bảo vệ động vật, thực vật hoang dã”
Nhiều kế hoạch hành động bảo tồn cho nhóm loài đang có nguy cơ tuyệt chủng cao đã được đưa ra, như kế hoạch bảo tồn rùa biển, voi, hổ, linh trưởng, thú ăn thịt nhỏ…Và nhiều văn bản pháp luật liên quan đến công tác thực thi pháp luật, bảo tồn đa dạng sinh học như: Thông tư số 40/2013/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước CITES; Quyết định số 11/2013/QĐ-TTg ngày 24/ 01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán mẫu vật một số loài động vật hoang dã thuộc các Phụ lục của Công ước CITES; Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng đã đề cập cụ thể tới các mức xử phạt hành chính đối với các hành vi liên quan tới ĐVHD Quyết định số 539/QĐ-TTg, ngày 16/4/2014 phê duyệt Chương trình Quốc gia về bảo tồn hổ giai đoạn
Trang 3828
2014-2022, với mục tiêu “Bảo vệ, bảo tồn hổ, sinh cảnh và con mồi của hổ, góp phần ngăn chặn sự suy giảm, từng bước phục hồi, cải thiện và tăng số lượng hổ
tự nhiên đến năm 2022 theo mục tiêu đã được xác định tại Chương trình bảo tồn
hổ toàn cầu mà Việt Nam đã cam kết tham gia thực hiện”; Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/1/2019 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; Quyết định 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 hướng dẫn áp dụng Bộ luật hình sự về các tội vi phạm về bảo vệ ĐVHD Cụ thể hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ ĐVHD và Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật hình
sự Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch tổng thể đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020 và định
hướng đến năm 2030
Trong những năm gần đây, Việt Nam đang trở thành một nhân tố quyết định trong việc đấu tranh, ngăn chặn và triệt phá đường dây tội phạm về ĐVHD toàn cầu Chính phủ Việt Nam đã dành nhiều quan tâm hơn đến vấn
đề này, dẫn đến công tác giám sát chặt chẽ của các cơ quan thực thi pháp luật, sửa đổi Bộ luật hình sự cho phù hợp và tham gia sâu rộng hơn vào hợp tác quốc tế Tháng 9 năm 2016, một tuần trước Hội nghị các nước thành viên Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) lần thứ 17, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ban hành Chỉ thị số 28/CT-TTg về một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài ĐVHD trái pháp luật
Theo chỉ thị này, Chính phủ đã nhận thức “Tại một số địa phương hoạt động chế tác và bày bán các sản phẩm ĐVHD như: ngà voi và sừng tê giác còn diễn biến phức tạp, thách thức nỗ lực thực thi pháp luật” Và để thắt chặt quy định của pháp luật về bảo vệ ĐVHD, Chính phủ Việt Nam đã cam kết “rà soát, kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động buôn bán ngà voi, sừng tê giác trái pháp luật; tập trung kiểm tra các làng nghề, cơ sở chế biến, cửa hàng bán đồ
Trang 39ra, trong đó nhấn mạnh cấm nhập khẩu ĐVHD vào Việt Nam
Ngày 6/4/2020, Văn phòng Chính phủ tiếp tục có công văn số 2665/VPCP-NN gửi Bộ NN&PTNT, Bộ Thông tin và Truyền thông về việc tăng cường các biện pháp ngăn chặn và xử lý các hành vi phát tán các thông tin, video clip về các hành vi săn bắt, giết thịt trái phép ĐVHD trên không gian mạng
Ngày 23/7/2020, Thủ tướng ra Chỉ thị 29/2020/CT-TTg về một số giải pháp cấp bách quản lý ĐVHD, trong đó đã nhấn mạnh đấu tranh, triệt phá nạn vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ trái pháp luật các loài động vật hoang dã thông qua: (i) sửa đổi, bổ sung chế tài xử phạt hành vi tiêu thụ động vật hoang dã trái pháp luật, (ii) kiên quyết loại bỏ các khu vực chợ, tụ điểm mua bán động vật hoang dã trái pháp luật, (iii) xử lý nghiêm các hành vi săn, bắt, mua, bán, vận chuyển, giết mổ, tiêu thụ, tàng trữ, quảng cáo, xâm hại động vật hoang dã trái pháp luật, nhất là động vật hoang dã thuộc lớp thú, chim, bò sát trong môi trường tự nhiên - vì đây là các loài có nguy cơ mang các vi-rút lây từ động vật sang người với các điều kiện an toàn sinh học nghèo nàn2
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII cũng khẳng định cần tăng cường xây dựng các chiến dịch, chương trình tuyên truyền bảo vệ các loài động vật nguy cấp quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng như hổ, tê giác, gấu, tê tê ; tổ
1 Chính phủ (2016), Chỉ thị Một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài ĐVHD trái pháp luật
2 Chính phủ (2020), Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 23/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách quản lý động vật hoang dã
Trang 4030
chức các hội nghị, hội thảo; đặt các pano, áp phích ở các cơ quan, công sở và những nơi công cộng ; đưa nội dung tuyên truyền về bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo tồn các loài hoang dã, nguy cấp quý hiếm vào các nội dung sinh họat của các cơ quan, đơn vị; phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí; mở các chuyên trang, chuyên mục trên các báo điện tử, trang thông tin điện tử với những hình thức phong phú nhằm tuyên truyền phổ biến kiến thức về bảo vệ động, thực vật hoang dã, bảo vệ tài nguyên và môi trường, tạo dư luận xã hội lên án nghiêm khắc đối với các hành vi xâm hại động, thực vật hoang dã1
1.4 Những thách thức trong vấn đề bảo tồn động vật hoang dã
Công tác bảo tồn ĐVHD ngày càng đóng vai trò quan trong và đã trở thành một phần mở rộng của xã hội, kinh tế, chính trị, đồng thời gắn liền với các chiến dịch nâng cao nhận thức như một phần của nền kinh tế bền vững Ở Việt Nam, bảo tồn ĐVHD có thể tính từ khi Chính phủ thành lập Vườn quốc gia Cúc Phương (1962), mở đầu cho một hệ thống vườn quốc gia và các rừng đặc dụng ở Việt Nam Sự hình thành nên hệ thống pháp luật liên quan đến ĐVHD về sau khẳng định hệ thống chính trị của Việt Nam đã đưa bảo tồn ĐVHD là một vấn đề quốc gia, và gắn liền nó với sự phát triển kinh tế Tuy vậy trong bối cảnh phát triển như hiện nay, bảo tồn ĐVHD ở Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức, đòi hỏi sự chung tay của cả xã hội
Thứ nhất, thách thức trong việc giữ ổn định hệ sinh thái hiện có để đảm bảo điều kiện tồn tại và phát triển của các loài sinh vật Mặc dù Việt Nam đã
công bố Chiến lược quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học, quy hoạch hệ thống
1 Bảo Châu (2016), Đẩy mạnh công tác tuyên truyền thay đổi hành vi không sử dụng các sản phẩm
từ động, thực vật hoang dã nguy cấp quý hiếm giao-tw/day-manh-cong-tac-tuyen-truyen-thay-doi-hanh-vi-khong-su-dung-cac-san-pham-tu-dong- thuc-vat-hoang-da-nguy-cap-quy-88983