Untitled BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN — *** BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN KINH TẾ ĐẦU TƯ ĐỀ BÀI ” Xu hướng chuyển dịch FDI trên thế giới? Phân tích các điều kiện mà Việt Nam cần chuẩ[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
— -*** -
BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN KINH TẾ ĐẦU TƯ
ĐỀ BÀI : ” Xu hướng chuyển dịch FDI trên thế giới? Phân tích các điều kiện mà
Việt Nam cần chuẩn bị để thích ứng với xu hướng dịch chuyển này”
Hà Nội , tháng 10 năm 2022
Trang 2Bảng nhận xét thành viên nhóm 5 và đánh giá công việc
Họ và tên Mã sinh viên Phần trăm công
việc
Đánh giá hoàn thành công việc 1.Nguyễn Thị Anh Thư
Trang 3MỤC LỤC
1.Xu thế đầu tư toàn cầu hiện tại và tầm nhìn tương lai 5 2.Tăng trưởng FDI ở các nước đang phát triển chậm dần 7
3 Xu hướng đầu tư FDI của các tập đoàn đa quốc gia toàn cầu 9
4 Ảnh hưởng của các biến cố lớn đến dòng vốn FDI toàn cầu 11 III Phân tích các điều kiện mà Việt Nam cần chuẩn bị để thích ứng với xu hướng dịch chuyển này 13 1.Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2021 tại Việt Nam 13 1.1.Tác động của FDI vào tăng trưởng kinh tế 14 1.2.Tác động của FDI vào chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 14 1.3 Tác động đến tiến bộ xã hội: phát triển và tạo việc làm cho nguồn nhân lực 16 1.4 Tác động đến phát triển khoa học – công nghệ: nâng cao trình độ công nghệ, nhưng còn
2 Các chính sách, hướng đi, hành động cần có để thích ứng với xu hướng thế giới về FDI 17 2.1 Các biện pháp để thu hút nguồn vốn FDI 17 2.1.1 Các điều kiện cần chuẩn bị để phát triển môi trường đầu tư ở Việt Nam 18 2.1.2 Một số chính sách cụ thể để cải thiện môi trường đầu tư 24 2.2 Giảm thiểu các hạn chế do nguồn vốn FDI 27
Trang 4NỘI DUNG
I Tổng quan về FDI
FDI là nguồn vốn quan trọng không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đối với các nướccông nghiệp phát triển Theo báo cáo của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế),các quốc gia nhận được nhiều dòng vốn FDI nhất trên toàn thế giới trong quý 1 năm 2022
là Trung Quốc (101 tỷ USD), Hoa Kỳ (67 tỷ USD) và Australia (59 tỷ USD)
Mục đích hàng đầu của FDI, khác với ODA, chính là mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư.Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư (lợi tức), nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuậnthích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả; nói cách khác, thu nhập của nhà đầu
tư này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả kinh doanh Chủ đầu tư có quyền tự quyết địnhđầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi, cũng như tự dolựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư…
Theo mục tiêu đầu tư thì FDI có 2 dạng là đầu tư theo chiều dọc và đầu tư theo chiềungang Hai hình thức này khác nhau ở thị trường tiêu thụ sản phẩm: nếu như thị trườngcủa đầu tư theo chiều ngang là nước nhận đầu tư thì đầu tư theo chiều dọc chỉ lấy nướctiếp nhận đầu tư là cơ sở sản xuất, còn sản phẩm sau đó được xuất khẩu sang nước kháchoặc nhập ngược trở lại nước đi đầu tư
Theo phương thức đầu tư – có 2 dạng là đầu tư mới (greenfield investment) và mua lại vàsáp nhập (M&A hay brownfield investment) Đầu tư mới là việc nhà đầu tư nước ngoàidịch chuyển nguồn lực sang một quốc gia khác và hình thành nên một cơ sở sản xuất kinhdoanh mới Còn ở dạng M&A thì nhà đầu tư nước ngoài thực hiện việc mua lại một phầnhay toàn bộ doanh nghiệp đã tồn tại ở quốc gia khác, hoặc sáp nhập một phần hay toàn bộ
Trang 5doanh nghiệp của mình với doanh nghiệp ở quốc gia khác Kết quả của M&A là khôngtạo ra cơ sở sản xuất kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư.
Mỗi hình thức FDI đều có những thuận lợi và khó khăn nhất định đối với các bên thamgia Vì vậy, việc lựa chọn hay áp dụng hình thức nào phụ thuộc vào điều kiện cụ thể củacác bên ở thời điểm đầu tư Thông thường các nước đang phát triển trong thời gian đầutiếp nhận FDI thì doanh nghiệp liên doanh và đầu tư mới là những hình thức chủ yếuđược áp dụng
2 Lợi và hại của FDI
FDI luôn mang tính hai mặt Một mặt, chủ đầu tư tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tàinguyên kinh doanh vào nước nhận vốn, nên nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghềmới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay nhiều vốn Các nướcnhận đầu tư không chỉ thu hút vốn mà còn học hỏi được kinh nghiệm quản lý, trình độkhoa học, tiếp cận máy móc hiện đại và xa hơn là chuyển giao công nghệ sản xuất Ta cóthể điều này qua trường hợp của Samsung, với định hướng xây dựng cơ sở lớn nhất thếgiới của tập đoàn, Samsung đã xây dựng Trung tâm Nghiên cứu phát triển lớn với 2.000
kỹ sư được tuyển dụng tại Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp thu và hấpthụ công nghệ Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI còn làm tăng việc làm, hỗ trợ đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao Điển hình như việc các doanh nghiệp FDI tại Việt Namđang hoạt động tại những lĩnh vực công nghiệp sử dụng nhiều lao động địa phương (thuêlao động địa phương với quy mô lớn để phục vụ cho quá trình sản xuất của họ) Vì vậy,nguồn vốn này có tác dụng cực kì to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu tư, đặc biệt là với các nướcđang phát triển
Song mặt khác, vốn FDI vẫn để lại cho các quốc gia hút vốn, nhất là với các nước đangphát triển những hậu quả nặng nề FDI có xu hướng chạy sang các nước có nguồn laođộng trẻ, giá rẻ để thu về nhiều lợi nhuận hơn, chính vì vậy sẽ gia tăng tình trạng thấtnghiệp ở một số nước Đồng thời, các chính sách trong nước có thể bị thay đổi, ưu ái chocác doanh nghiệp nước ngoài để thu hút vốn đầu tư mạnh mẽ, gây hại trực tiếp cho cácdoanh nghiệp trong nước, cũng như khiến nước nhận đầu tư dễ bị phụ thuộc vào sự pháttriển của các doanh nghiệp FDI Ngoài ra, nhiều nước đang phát triển đang phải hứngchịu là việc đánh đổi môi trường tự nhiên lấy lợi ích kinh tế, khi các chính sách nới lỏngcho doanh nghiệp FDI lại là tác nhân khiến những doanh nghiệp này gây ô nhiễm môitrường, ảnh hưởng tới chính trị và xã hội
II Xu hướng chuyển dịch FDI trên thế giới
Trang 6Dòng vốn FDI trên toàn cầu đã hồi phục trở lại mức trước đại dịch vào năm ngoái, đạt 1,6nghìn tỷ USD Các giao dịch xuyên quốc gia và tài trợ dự án quốc tế đặc biệt mạnh mẽ,được khuyến khích bởi các điều kiện tài chính lỏng lẻo và thúc đẩy cơ sở hạ tầng Tuynhiên, sự phục hồi của đầu tư mới trong ngành công nghiệp vẫn còn ít ỏi, đặc biệt là ởcác nước đang phát triển.
Sự tăng trưởng chậm lại của hiệu quả đầu tư thực tế có thể sẽ kéo dài vào năm 2022 Hậuquả của cuộc chiến ở Ukraine với cuộc khủng hoảng tài chính, nhiên liệu và lương thựcđang diễn ra, cùng với đại dịch COVID-19 và thay đổi khí hậu, đang gây áp lực lên toàncầu, đặc biệt là với các quốc gia đang phát triển Ước tính tăng trưởng toàn cầu trong năm
đã giảm một điểm phần trăm Một nguy cơ đáng kể là động lực thu hồi vốn trong đầu tưquốc tế sẽ bị đình trệ sớm, cản trở nỗ lực thúc đẩy tài chính cho phát triển bền vững
1.Xu thế đầu tư toàn cầu hiện tại và tầm nhìn tương lai
FDI phục hồi mạnh mẽ vào năm 2021 Dòng vốn FDI toàn cầu vào năm 2021 là 1,582nghìn tỷ USD, tăng 64% so với mức đặc biệt thấp vào năm 2020, năm chịu ảnh hưởngnặng nề từ dịch COVID-19 Sự phục hồi cho thấy động lực phục hồi đáng kể với sự bùng
nổ của thị trường M&A và tốc độ tăng trưởng tài chính dự án quốc tế nhanh chóng do cácđiều kiện tài chính lỏng lẻo và các gói kích thích cơ sở hạ tầng lớn
Vào năm 2020 và 2021, những nước nhận được nguồn vốn FDI cao nhất vẫn là
Mỹ và Trung Quốc giữ nguyên vị trí so với 2020 Nguồn vốn FDI khổng lồ mà chỉ Mỹ và
Trang 7Trung Quốc (bao gồm Hồng Kông) nhận
được là 548 tỷ USD, tức chiếm 34,6% dòng
vốn FDI toàn cầu Có thể thấy sau ảnh hưởng
nặng nề của đại dịch, đầu tư vào hai quốc gia
này đã quay lại đà tăng trưởng một cách
mạnh mẽ
Vào năm 2021, thứ hạng của các nước
nhận nhiều vốn FDI nhất đã thay đổi đáng kể
so với 2020, tuy nhiên đa phần các nước
trong top 20 năm trước vẫn nằm trong danh
sách này; loại lệ đáng nói có thể kể đến Nam
Phi khi nguồn FDI nhận được tại nước này
tăng trưởng vượt bậc từ 3 tỷ USD ở 2020 lên
tới 41 tỷ USD ở 2021
Khi nhắc tới FDI, chúng ta thường chủ yếu
nói về sự chuyển dịch vốn từ nước phát triển
tới nước đang phát triển Tuy nhiên, đa số các
quốc gia nhận nhiều FDI nhất là nướcphát triển
Về góc độ đầu ra dòng chảy ra của FDI,
Mỹ vẫn là chủ nhà đầu tư FDI lớn nhấtthế giới qua nhiều năm, với 403 tỷ USDđược rót ra từ nước này trong năm
2021 Bảng xếp hạng các nước chủ nhàđầu tư FDI cho thấy nhiều sự biến động,
do sự phục hồi về kinh tế ở nhiều nước,đặc biệt là Vương quốc Anh và PhầnLan, khi từ mức FDI âm ở năm 2020 đãtrở lại những nước chủ đầu tư FDI lớnnhất toàn cầu ở 2021
Trang 8Các yếu tố khác sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến FDI vào năm 2022 Sự bùng nổ của
COVID-19 ở Trung Quốc, gây ra việc tái cách ly xã hội ở những khu vực đóng vai trò quan trọngtrong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC), có thể tiếp tục làm giảm đầu tư mới trong các ngànhtập trung về GVC Dự kiến tăng lãi suất ở các nền kinh tế lớn đang chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ của lạm phát sẽ làm chậm lại các hoạt động M&A, và làm giảm tốc độ tăng trưởngcủa tài chính dự án quốc tế Tâm lý thị trường tài chính tiêu cực và các dấu hiệu suy thoái
có thể đẩy nhanh sự giảm sút FDI
Tuy nhiên, vẫn có một số yếu tố gây ổn định lại Các gói hỗ trợ công lớn được áp dụngcho đầu tư cơ sở hạ tầng, với thời gian thực hiện kéo dài nhiều năm, có thể hỗ trợ cungcấp tài chính cho dự án trên quốc tế Các giao dịch tài chính M&A của các doanh nghiệp
đa quốc gia (MNE) vẫn chưa giảm nhiệt Hơn nữa, dựa vào cơ cấu của dòng vốn FDInăm 2021, các số khu vực tiếp nhận vốn lớn, đặc biệt là châu Âu, vẫn ở mức tương đốithấp
Tuy nhiên, về tổng thể, đà tăng trưởng năm 2021 khó có thể được duy trì Dòng vốn FDItoàn cầu vào năm 2022 có thể sẽ đi xuống, trong trường hợp tốt nhất là giữ nguyên Cáchoạt động dự án mới đã thể hiện dấu hiệu của sự lo ngại rủi ro giữa các nhà đầu tư đangtăng dần Dữ liệu sơ bộ cho Q1 2022 cho thấy số lượng dự án đầu tư mới giảm 21% vàcác giao dịch tài chính dự án quốc tế giảm 4%
2.Tăng trưởng FDI ở các nước đang phát triển chậm dần
Dòng vốn FDI vào các nền kinh tế đang phát triển tăng chậm hơn so với các khu vực pháttriển nhưng vẫn tăng 30%, đạt 837 tỷ USD Sự gia tăng chủ yếu là kết quả của hoạt độngtăng trưởng mạnh mẽ ở châu Á, sự phục hồi một phần ở châu Mỹ Latinh và Caribe, vàphát triển ở ở châu Phi Tỷ trọng của các nước đang phát triển trong dòng chảy FDI toàncầu vẫn chỉ là 53%
2.1 Khu vực các quốc gia đang phát triển châu Á
Bất chấp làn sóng COVID-19 liên tiếp xảy ra, nguồn FDI vào các nước châu Á đang pháttriển đã tăng năm thứ ba liên tiếp lên mức cao nhất mọi thời đại là 619 tỷ USD, nhấnmạnh khả năng phục hồi của khu vực Đây là khu vực nhận FDI lớn nhất, chiếm 40%dòng vốn trực tiếp toàn cầu
Trang 9Trong năm 2021, FDI nhận được ở cả khu vực có xu hướng tăng lên, trừ ở Nam Á (Hình5) Tuy nhiên, dòng vốn vào vẫn mang tính tập trung cao Sáu nền kinh tế (Trung Quốc,Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, Ấn Độ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
và Indonesia) chiếm hơn 80% vốn FDI vào khu vực
Ở các nước châu Á đang phát triển, đầu tư vào các lĩnh vực liên quan đến mục tiêu pháttriển bền vững (SDG) đã tăng đáng kể Giá trị tài trợ dự án quốc tế trong các lĩnh vực nàytăng 74% lên 121 tỷ đô la, với năng lượng tái tạo trở thành thu hút sự quan tâm Giá trịcủa các dự án trong ngành này tăng 123%, lên 77 tỷ USD, từ 34 tỷ USD vào năm 2020.Cùng xu hướng này, vốn FDI vào Việt Nam năm 2021 đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020 Theo Tổng cục thống kê, vốn đăng ký cấp mới có 322 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 3,21 tỷ USD, tức tăng 37,6% về số dự án, nhưng giảm hơn một nửa về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước Nổi bật là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 2,19 tỷ USD, chiếm phần áp đảo trong tổng vốn đăng ký cấp mới (68,2%); và ngành đứng thứ 2 là kinh doanh bất động sản đạt số vốn gần 600 triệu USD, chiếm 18,7%; các ngành còn lại chỉ chiếm 13,1%
Bước sang năm 2022, dòng vốn FDI vào Việt Nam được kỳ vọng sẽ khởi sắc trở lại nhờ những chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn và chủ trương mở cửa trở lại nền kinh tế sau hai năm đóng cửa bởi dịch bệnh Covid-19, cũng như vì Việt Nam nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng ít hơn bởi cuộc xung đột Nga - Ukraine Các chính sách mở cửa biên giới được áp dụng từ sớm đã tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đến và làm việc tại Việt Nam; trong khi đó nước láng giềng Trung Quốc vẫn duy trì chính sách “Zero
Trang 10COVID." Điều này thúc đẩy làn sóng dịch chuyển của doanh nghiệp quốc tế sang các nước trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.
2.2 Các khu vực đang phát triển khác
● Dòng vốn FDI vào châu Phi đạt 83 tỷ USD, từ 39 tỷ USD vào năm 2020 Hầu hếtcác nước tiếp nhận vốn đều ghi nhận mức tăng trong lượng FDI
● FDI vào Mỹ Latinh và Caribe tăng 56% lên 134 tỷ USD Hầu hết các quốc giatrong khu vực này đều chứng kiến dòng tiền hồi phục, chỉ tại một số ít quốc giavẫn còn tiếp tục suy giảm
● Dòng vốn FDI chảy vào các nền kinh tế nhỏ yếu tăng 15% lên 39 tỷ USD Dòngvốn đến các nước kém phát triển nhất (LDC), các nước đang phát triển không giápbiển (LLDC) và các quốc đảo nhỏ đang phát triển (SIDS) cộng lại chỉ chiếm 2,5%tổng số thế giới vào năm 2021, giảm so với 3,5% vào năm 2020
3 Xu hướng đầu tư FDI của các tập đoàn đa quốc gia toàn cầu
3.1.Sự phục hồi của FDI năm 2021 một phần được thúc đẩy bởi lợi nhuận kỷ lục của MNE
Sự phục hồi FDI năm 2021 đã mang lại tăng trưởng ở tất cả các khu vực Tuy nhiên, gần3/4 mức tăng FDI toàn cầu là ở các nước phát triển, nơi dòng vốn vào đạt 746 tỷ USD -cao hơn gấp đôi so với mức năm 2020 Sự gia tăng chủ yếu là do các giao dịch M&A vàmức lợi nhuận giữ lại cao của các MNE Do đó, những điều này đã dẫn đến các dòng tàichính nội bộ khá lớn và những biến động lớn về FDI tại các nước chủ đầu tư lớn Mức lợinhuận giữ lại cao trong năm 2021 là kết quả của lợi nhuận MNE kỷ lục Lợi nhuận của5.000 doanh nghiệp lớn nhất đã tăng gấp đôi Lợi nhuận cao, đặc biệt là ở các nước pháttriển do giải phóng nhu cầu bị hạn chế do đại dịch chi phí tài chính thấp và sự hỗ trợ đáng
kể của chính phủ
Mặc dù có lợi nhuận cao, nhưng nhu cầu của các MNE cho việc đầu tư vào các tài sảnsản xuất mới ở nước ngoài vẫn thấp Trong khi tài chính cho các dự án quốc tế địnhhướng vào cơ sở hạ tầng tăng 68% và M&A xuyên biên giới tăng 43% vào năm 2021, sốlượng đầu tư mới chỉ tăng 11%, vẫn thấp hơn 1/5 so với mức trước đại dịch Giá trị củacác thông báo về đầu tư mới nói chung đã tăng 15% lên 659 tỷ đô la nhưng vẫn khôngđổi ở các nước đang phát triển ở mức 259 tỷ đô la - trì trệ ở mức thấp nhất từng được ghinhận Đây là một điều đáng lo ngại, vì các khoản đầu tư mới vào ngành công nghiệp rấtquan trọng đối với triển vọng phát triển và tăng trưởng kinh tế
Giá trị hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các MNE từ các nền kinh tế đang phát triển
Trang 11tăng 18%, lên 438 tỷ USD Các nước Châu Á đang phát triển vẫn là nguồn đầu tư chínhngay cả trong thời kỳ đại dịch Vốn FDI từ khu vực này tăng 4% lên 394 tỷ đô la, đónggóp vào gần một phần tư dòng chảy FDI toàn cầu vào năm 2021 Mặc dù đầu tư ra nướcngoài tổng thể từ các nước đang phát triển tăng lên, nhưng các tập đoàn có trụ sở chínhtrong khu vực này đã thực hiện ít thương vụ mua lại hơn vào năm 2021 Mua bán M&Axuyên biên giới đã giảm xuống từ 35% đến 45 tỷ USD Hoạt động mua lại của các MNE
có trụ sở chính tại Đông Á (chủ yếu là Trung Quốc) đã giảm mạnh, từ 44 tỷ USD năm
2020 xuống chỉ còn 6,3 tỷ USD
3.2.Khác biệt trong FDI từ MNE truyền thống và MNE kỹ thuật số
So sánh 100 MNE hàng đầu truyền thống của UNCTAD với bảng xếp hạng cập nhật của
100 MNE kỹ thuật số hàng đầu cho thấy xu hướng đầu tư hoàn toàn trái ngược nhau.Doanh thu của các MNE kỹ thuật số (như Alphabet (công ty mẹ của Google và Youtube),Facebook, Amazon, etc) đã tăng nhanh gấp 5 lần so với doanh số của top 100 MNEtruyền thống trong 5 năm qua, và đại dịch đã tạo ra một sự thúc đẩy lớn MNE truyềnthống tham gia nhiều hơn vào đầu tư mới và các MNE kỹ thuật số nhiều hơn vào M&A.Các MNE kỹ thuật số là FDI nhẹ, cần đầu tư tương đối ít vào tài sản vật chất để tiếp cậnthị trường nước ngoài Sản xuất quốc tế của cả các MNE lớn và kỹ thuật số đã tăngtrưởng liên tục, mặc dù ở các tốc độ khác nhau
Xem xét cụ thể hành vi đầu tư của các MNE kỹ thuật số, mặc dù họ đầu tư tương đối íthơn thông qua các dự án đầu tư mới, nhưng khi họ đầu tư vào các dự án này, thì tiềmnăng đóng góp vào việc phát triển nền kinh tế kỹ thuật số rất mạnh mẽ Ngoài các điểm
hỗ trợ logistics và sales (chiếm 42% các dự án đầu tư vào lĩnh vực xanh của những tậpđoàn này), các MNE kỹ thuật số thiết lập các văn phòng dịch vụ chuyên nghiệp (24%),trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) (14%) và cơ sở hạ tầng cho internet (10%).Tiềm năng chuyển giao công nghệ và phát triển nhân lực từ các MNE kĩ thuật số là rấtlớn, tuy nhiên chỉ hơn một phần ba các dự án của các MNE kỹ thuật số là ở các nướcđang phát triển
4 Ảnh hưởng của các biến cố lớn đến dòng vốn FDI toàn cầu
4.1.Dịch COVID-19
Sự bùng phát và lây lan của Coronavirus (Covid-19) đã ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốnFDI toàn cầu Tác động lên FDI đã tập trung ở những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhấtbởi dịch bệnh, mặc dù cú sốc về cầu và tác động kinh tế do gián đoạn chuỗi cung ứngcũng đã ảnh hưởng đến triển vọng đầu tư ở các quốc gia khác Tác động đến FDI tậptrung ở những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch bệnh, mặc dù những cú sốc
Trang 12tiêu cực về nhu cầu và tác động kinh tế của sự gián đoạn chuỗi cung ứng sẽ ảnh hưởngđến triển vọng đầu tư ở các quốc gia khác.
Hơn 2/3 các doanh nghiệp đa quốc gia trong Top 100 của UNCTAD đã đưa ra các báocáo về tác động của Covid-19 đối với hoạt động kinh doanh của họ Nhiều doanh nghiệpcòn làm giảm tốc độ chi tiêu vốn ở các khu vực bị ảnh hưởng Ngoài ra, lợi nhuận thấphơn - cho đến nay, 41 đã đưa ra cảnh báo lợi nhuận - sẽ chuyển thành thu nhập tái đầu tưthấp hơn (một thành phần chính của FDI)
Trung bình, 5000 MNE hàng đầu, chiếm tỷ trọng đáng kể trong FDI toàn cầu, đã chứngkiến sự điều chỉnh giảm của ước tính thu nhập năm 2020 là 9% do Covid-19 Bị ảnhhưởng nặng nề nhất là ngành công nghiệp ô tô (-44%), hàng không (-42%) và ngành nănglượng và vật liệu cơ bản (-13%) Lợi nhuận của MNE có trụ sở tại các nền kinh tế mớinổi có nhiều rủi ro hơn lợi nhuận của MNE ở các nước phát triển: hướng dẫn về lợi nhuậncủa MNE ở các nước đang phát triển đã được điều chỉnh giảm 16%
Tuy nhiên, vào năm 2021, lợi nhuận của MNE đã được phục hồi đáng kể, thậm chí ở mức
kỉ lục như đã được nêu phía trên, góp phần thúc đẩy sự phục hồi của nguồn vốn FDI Tuynhiên, nhiều chuyên gia y tế vẫn đưa ra cảnh báo rằng các chính phủ cần cẩn trọng vớinguy cơ COVID-19 bùng phát trở lại
4.2.Cuộc xung đột Nga - Ukraine
Cuộc xung đột Nga - Ukraine và phản ứng quốc tế sau đó đã gây thêm một cú sốc và giánđoạn tiêu cực cho nền kinh tế thế giới, với hậu quả tức thì đối với FDI và các dòng vốnkhác Tuy nhiên, tác động trực tiếp lên dòng vốn FDI toàn cầu là hạn chế, vì vai trò củaNga với tư cách là nước tiếp nhận và chủ đầu tư FDI là không quá lớn, theo số liệu thống
kê về FDI của OECD Ngay cả trước tháng 2 năm 2022, nguồn vốn FDI hướng vào và ranước ngoài từ Nga chỉ chiếm khoảng 1-1,5% tổng nguồn vốn FDI toàn cầu; tuy nhiên sựkiện này dự kiến sẽ có tác động ngay lập tức đến dòng vốn FDI vào Nga Các chủ đầu tưFDI từ các quốc gia OECD vẫn chiếm một phần đáng kể trong khoản đầu tư vào Nga.Các ngành thương mại, khai khoáng và sản xuất là những ngành thu hút FDI chính ở Ngahiện nay
Ảnh hưởng của cuộc xung đột này không gây ảnh hưởng quá lớn tới dòng chày FDI toàncầu qua sự chuyển dịch của nguồn vốn này vào và ra hai quốc này, nhưng cuộc khủnghoảng năng lượng nó gây ra có thể có những hệ quả sâu sắc Báo cáo mới của World
Bank Tác động của Chiến tranh ở Ukraine đối với Thương mại và Đầu tư Toàn cầu cho
thấy thương mại thế giới sẽ giảm một phần trăm, làm giảm GDP toàn cầu chỉ dưới mộtphần trăm Các nước xuất khẩu hàng công nghiệp như Việt Nam, Thái Lan và Mexico
Trang 13đều giảm mạnh, đặc biệt là trong các lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng Các nhà xuấtkhẩu ròng cây trồng, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil và Ấn Độ, và nhiên liệu hóa thạch,chẳng hạn như Nigeria và các nước ở Trung Đông, đều ghi nhận mức xuất khẩu tăng, làmgiảm bớt những tác động tiêu cực của chiến tranh Các ảnh hưởng từ cuộc chiến thể hiện
rõ ở các mặt của nền kinh tế như thị trường hàng hóa, mạng lưới hậu cần, chuỗi cungứng, FDI và các lĩnh vực du lịch, dự kiến sẽ gây ảnh hưởng sâu sắc tới đầu tư toàn cầu
4.3.Biến đổi khí hậu
Rủi ro phát sinh từ tác động vật lý của biến đổi khí hậu ngày càng ảnh hưởng đến các cơ
sở trên toàn thế giới trong các ngành công nghiệp, bao gồm cả việc đầu tư trực tiếp nướcngoài Ví dụ như do trận lũ lịch sử ở Đông Nam Á vào 2011, Toyota Motor - với 8% sảnlượng toàn cầu ở Thái Lan - chứng kiến sản lượng bị ảnh hưởng tại ba nhà máy ở nướcnày nặng nề; Honda Motor đã buộc phải từ bỏ dự báo thu nhập trong năm, tạm dừng hoạtđộng tại Thái Lan - chiếm 4,6% sản lượng toàn cầu - trong nhiều tháng, phế liệu hơn1.000 chiếc xe ngập nước chưa được chuyển đi kịp thời, đồng thời ngừng sản xuất tại mộtnhà máy ở Malaysia Ngoài ra, tình trạng thiếu nước khiến đóng một nhà máy Coca-Cola
ở Ấn Độ đóng cửa, hay rủi ro do mực nước biển dâng ảnh hưởng đến một số khoản đầu
tư cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ở Pakistan càng cho thấy rõ ảnh hưởng của biến đổi khíhậu
"Người ta dự đoán rằng Nam Á và Đông Nam Á là những khu vực toàn cầu sẽ bị ảnhhưởng nhiều nhất bởi mực nước biển dâng toàn cầu - bởi lũ lụt và tác động của ngập lụt"
- Lisa Guppy, nhân viên Điều phối khu vực châu Á và Thái Bình Dương về thảm họa,xung đột và các vấn đề nhân đạo với Chương trình Môi trường Liên hợp quốc đã phátbiểu
Một nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu với lên FDI được phát hành bởiNature Communications cho thấy các MNE có xu hướng né tránh đặt cơ sở ở các quốcgia có mức độ rủi ro chịu tác động vật lý từ biến đổi khí hậu hơn Các công ty xem xétcác vị trí trong các khu vực dễ bị ảnh hưởng bởi các rủi ro khí hậu vật lý sẽ phải chịu chiphí của các sự kiện liên quan đến khí hậu nếu chúng xảy ra Các quyết định của các công
ty về việc đặt các cơ sở ở nước ngoài bao gồm việc cân nhắc các đặc điểm của nước sởtại (ví dụ: sức hấp dẫn của thị trường và các yếu tố đầu vào) và năng lực của chính cáccông ty Để vượt qua gánh nặng về nước ngoài và tăng cường khả năng cạnh tranh dàihạn của mình, các doanh nghiệp nước ngoài có thể thận trọng hơn đối với các rủi ro ởnước sở tại, bao gồm cả rủi ro khí hậu
Những nỗ lực toàn cầu nhằm giảm carbon cho các nền kinh tế trên thế giới có ý nghĩaquan trọng đối với dòng chảy nguồn vốn FDI Giảm thiểu rủi ro biến đổi khí hậu cũng
12
Trang 14mang lại cơ hội cho cả chủ đầu tư FDI và nước thu hút FDI Với tốc độ diễn ra của biếnđổi khí hậu và thời tiết cực đoan trong tương lai, các quốc gia châu Á và đặc biệt là ViệtNam cần có chính sách hợp lý để ngăn chặn ảnh hưởng của hiện tượng này nếu khôngmuốn làm chùn chân các nhà đầu tư FDI.
III Phân tích các điều kiện mà Việt Nam cần chuẩn bị để thích ứng với xu hướng dịch chuyển này
FDI là một trong những yếu tố năng động nhất trong luồng các nguồn lực quốc tế, nó làmột gói các tài sản hữu hình và vô hình và là chất xúc tác cho đầu tư và các năng lựctrong nước Theo một báo cáo của World Bank, FDI đặc biệt mang lại lợi ích cho cácnước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ,nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động, tăng năng suất, tạo ra thu nhập cho các doanhnghiệp địa phương, và tạo ra những công việc được trả lương cao hơn
Tuy nhiên, hiệu quả của FDI tùy thuộc một phần rất lớn vào vai trò quản lý của nhà nước
ở các nước nhận vốn Lợi dụng mặt tích cực của FDI, nhiều nước đã mở rộng việc tiếpnhận đầu tư để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá ở nước mình Vấn đề đặt ra là phảibiết vận dụng mềm dẻo, linh hoạt, nguyên tắc cùng có lợi, lựa chọn phương án thiết thực,
để khai thác nguồn lực quốc tế có hiệu quả
1.Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2021 tại Việt Nam
Tính đến ngày 20/12/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2020 (28,53 tỷ USD)
Tính chung trong cả năm 2021, khu vực ĐTNN xuất siêu gần 28,5 tỷ USD kể cả dầu thô
và xuất siêu trên 26,7 tỷ USD không kể dầu thô Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu 25,5 tỷ USD
1.1.Tác động của FDI vào tăng trưởng kinh tế
● Nguồn vốn FDI đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Một trong những nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của GDP là tốc độ tăngvốn FDI thực hiện hàng năm
13