Untitled TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN HỌC PHẦN KINH TẾ ĐẦU TƯ Đề bài Vai trò của nguồn vốn trong nước đối với sự phát triển của các quốc gia đang phát triển Phân tích sự dịch chuyển trong cơ cấu ng[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
HỌC PHẦN KINH TẾ ĐẦU TƯ
Đề bài: Vai trò của nguồn vốn trong nước đối với sự phát triển của các quốc
gia đang phát triển Phân tích sự dịch chuyển trong cơ cấu nguồn vốn trong nước tại
Việt Nam giai đoạn 2010-2020
Nhóm: 5
L ớp tín chỉ: Kinh tế đầu tư_10
Hà N ội – 2022
Trang 2THÔNG TIN THÀNH VIÊN NHÓM 5
1 Nguyễn Thị Châu Anh Kinh tế phát triển 63C 11211032
2 Lê Thùy Linh Kinh tế phát triển 63C 11213196
3 Trần Phương Thanh Kinh tế phát triển 63C 11216808
4 Dương Nguyễn Thanh Thảo Kinh tế phát triển 63C 11215361
5 Nguyễn Trọng Phúc Kinh tế phát triển 63C 11214706
6 Đỗ Đức Minh Kinh tế phát triển 63C 11213787
Trang 3M ỤC LỤC
I Các nguồn vốn trong nước và vai trò của các nguồn vốn này đối với sự phát
triển của các quốc gia đang phát triển 1
1 Các nguồn vốn trong nước 1
Nguồn vốn Nhà Nước 1
2 Vai trò của nguồn vốn trong nước đối với sự phát triển của các quốc gia đang phát triển 1
II Phân tích sự dịch chuyển trong cơ cấu nguồn vốn trong nước tại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 qua bảng số liệu về Cơ cấu nguồn vốn trong nước tại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 2
III Thực trạng của việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong nước của nước ta hiện nay Đánh giá, nhận xét và đưa ra 1 số khuyến nghị 7
1 Thực trạng của việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong nước của nước ta hiện nay Đánh giá, nhận xét 7
1.1 Huy động nguồn vốn trong nước 7
1.1.1 Vốn nhà nước 7
1.1.2 Vốn dân cư & tư nhân 13
1.2 Sử dụng nguồn vốn trong nước 14
1.2.1 Vốn nhà nước 14
1.2.2 Vốn dân cư & tư nhân 20
2 Kiến nghị các giải pháp để nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn vốn trong nước 25
2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động nguồn vốn trong nước 25
2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong nước 26
2.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhà nước 26
2.2.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn dân cư và tư nhân 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 41
I Các nguồn vốn trong nước và vai trò của các nguồn vốn này đối với sự phát triển của các quốc gia đang phát triển
1 Các nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội Vốn trong nước có vai trò quyết định, bởi lẽ nó chi phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong nước Nguồn vốn trong nước bao gồm:
Ngu ồn vốn Nhà Nước
Ngân sách Nhà Nước: Ngân sách Nhà nước là một bảng tổng hợp các khoản thu và các khoản chi của Nhà nước trong một năm tài chính theo dự toán ngân sách đã duyệt ( thông thường một năm tài chính được tính từ 1/1-31/12)
Vốn trong các doanh nghiệp Nhà Nước: Đây là nguồn lực vật chất to lớn nhất của Nhà nước, nguồn vốn này do các doanh nghiệp Nhà nước quản lý
Vốn tài sản công, tài sản quốc gia: Nguồn tài sản công ở dạng tiềm năng
là tài sản Nhà nước do các cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, cơ quan Đảng, đoàn thể quản lý
Nguồn vốn tư nhân
Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân là khoản vốn mà chủ doanh nghiệp tư nhân đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp
sẽ do chủ doanh nghiệp tự đăng ký Chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ đăng
ký chính xác tổng số vốn đầu tư
Nguồn vốn dân cư
Đây là nguồn vốn tích kiệm trong các hộ gia đình dưới dạng tiền hoặc các tài sản có giá : vàng, bạc, đá quý, đồ cổ chưa được huy động vào quá trình sản xuất
2 Vai trò của nguồn vốn trong nước đối với sự phát triển của các quốc gia đang phát triển
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm
tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội Vốn trong nước có vai trò quyết định, bởi lẽ nó chi phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong nước Trong lịch sử phát triển các nước và trên phương diện lý luận chung, bất kỳ nước nào cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉ là tạm thời, chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng đề ra của quốc gia Tính quyết định của nguồn vốn trong nước được thể hiện ở nhiều khía cạnh:
• Nguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP toàn xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế
Trang 52
• Nguồn vốn đầu tư trong nước đóng vai trò định hướng cho việc thay đổi
cơ cấu kinh tế, cân bằng thị trường hàng hóa, giúp cho nền kinh tế quốc gia tăng
trưởng, phát triển toàn diện, đồng đều
• Nguồn vốn đầu tư trong nước có vai trò đảm bảo sự phát triển toàn diện, không lệch lạc giữa các vùng miền của nền kinh tế, góp phần giúp nền kinh tế tăng trưởng, phát triển một cách bền vững
• Nguồn vốn trong nước góp phần kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho tăng
trưởng và phát triển kinh tế
• Nguồn vốn trong nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đạt một trình độ nhất định, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như tăng tính hiệu quả, nhanh chóng của việc sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, tạo nền tảng vững chãi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế
• Sự lớn mạnh, ổn định nguồn lực vốn trong nước giúp hạn chế những mặt tiêu cực của nguồn lực nước ngoài tới nền kinh tế, đồng thời tạo dựng một khung xương vững chắc cho nền kinh tế, chống lại những biến động từ thị trường kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
II Phân tích sự dịch chuyển trong cơ cấu nguồn vốn trong nước tại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 qua bảng số liệu về Cơ cấu nguồn vốn trong nước tại Việt Nam giai đoạn 2010-2020
Trang 63
Nguồn: Niên giám thống kê, 2021
Cơ cấu vốn đầu tư trong tổng đầu tư toàn xã hội dịch chuyển tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng vốn đầu tư từ khu vực nhà nước (từ mức trung bình 34,25% giai đoạn 2010-2015 xuống còn 27% giai đoạn 2016-2020), tăng tỷ trọng vốn đầu tư ngoài nhà nước, nhất là đầu tư của khu vực tư nhân trong nước
Trang 74
Nguồn: Niên giám thống kê, 2021
Theo số liệu từ Tổng cục thống kê, cụ thể:
Năm 2010, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện phân theo loại hình kinh tế ước tính đạt 1044,9 nghìn tỷ đồng, bằng 38,14% GDP Trong đó; vốn khu vực kinh tế Nhà nước đạt 364,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 34,9% cơ cấu tổng vốn đầu tư toàn xã hội Trong vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước, vốn đầu tư công đạt 205,6 nghìn tỷ đồng,
Trang 8Năm 2012, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện phân theo loại hình kinh tế ước tính đạt 1274,2 nghìn tỷ đồng, tăng 9,83% so với năm trước và bằng 31,28% GDP Trong
đó, vốn khu vực kinh tế Nhà nước đạt 459,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,1% cơ cấu tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tăng 2,7% so với 2011 Trong vốn đầu tư của khu vực kinh
tế Nhà nước, vốn đầu tư công đạt 267,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 58,2% cơ cấu nguồn vốn khu vực Nhà nước và tăng 0,7% so với 2011, vốn của các doanh nghiệp Nhà nước
và nguồn vốn khác đạt 192,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,8% và giảm 0,7% so với 2011 Năm 2013, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện phân theo loại hình kinh tế ước tính đạt 1389 nghìn tỷ đồng, tăng 9,01% so với năm trước và bằng 31,05% GDP Trong
đó, vốn khu vực kinh tế Nhà nước đạt 493,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,5% cơ cấu tổng vốn đầu tư toàn xã hội và giảm 0,6% so với 2012 Trong vốn đầu tư của khu vực kinh
tế Nhà nước, vốn đầu tư công đạt 263,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,3% cơ cấu nguồn vốn khu vực Nhà nước và giảm 4,9% so với 2012, vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác đạt 230,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 46,7% và tăng 4,9% so với
đó, vốn khu vực kinh tế Nhà nước đạt 556,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 31,7% tổng cơ cấu vốn đầu tư xã hội và giảm 2,2% so với 2014 Trong vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước, vốn đầu tư công đạt 290,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 52,2% cơ cấu nguồn vốn
Trang 96
khu vực Nhà nước và tăng 1,2% so với 2014, vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác đạt 266,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 47,8% và giảm 2,8% so với 2014 Năm 2016, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện phân theo loại hình kinh tế ước tính đạt 1926,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,7% so với năm 2015 và bằng 34,17% GDP Trong
đó, vốn khu vực kinh tế Nhà nước đạt 587,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,5% tổng cơ cấu vốn đầu tư xã hội và giảm 1,2% so với 2015 Trong vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước, vốn đầu tư công đạt 309,03 nghìn tỷ đồng, chiếm 52,6% cơ cấu nguồn vốn khu vực Nhà nước và tăng 0,4% so với 2015, vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác đạt 278,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 47,4% và giảm 0,4% so với 2015 Năm 2017, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện phân theo loại hình kinh tế ước tính đạt 2186,6 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5% so với năm 2016 và bằng 34,74% GDP Trong
đó, vốn khu vực kinh tế Nhà nước đạt 616,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,2% tổng cơ cấu vốn đầu tư xã hội và giảm 2,3% so với 2016 Trong vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước, vốn đầu tư công đạt 316,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 51,3% cơ cấu nguồn vốn khu vực Nhà nước và giảm 1,3% so với 2016, vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác đạt 299,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 48,7% và tăng 1,3% so với 2016 Năm 2018, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện phân theo loại hình kinh tế ước tính đạt 2426,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với năm 2017 và bằng 34,62 GDP Trong đó, vốn khu vực kinh tế Nhà nước đạt 630,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,0% tổng cơ cấu vốn đầu tư xã hội và giảm 2,2% so với 2017 Trong vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước, vốn đầu tư công đạt 364,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 57,8% cơ cấu nguồn vốn khu vực Nhà nước và tăng 6,5% so với 2017, vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác đạt 265,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 42,2% và giảm 6,5% so với 2017 Năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện phân theo loại hình kinh tế ước tính đạt 2670,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với năm 2018 và bằng 34,65% GDP Trong
đó, vốn khu vực kinh tế Nhà nước đạt 643,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,1% tổng cơ cấu vốn đầu tư xã hội và giảm 2,1% so với 2018 Trong vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước, vốn đầu tư công đạt 380,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 59,2% cơ cấu nguồn vốn khu vực Nhà nước và tăng 1,4% so với 2018, vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác đạt 262,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,8% và giảm 1,4% so với 2018 Năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện phân theo loại hình kinh tế ước tính đạt 2803,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2019 và bằng 34,84% GDP Trong đó, vốn khu vực kinh tế Nhà nước đạt 734,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,2% tổng cơ cấu vốn đầu tư xã hội và tăng 2.1% so với 2019 Trong vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước, vốn đầu tư công đạt 503,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 68,3% cơ cấu nguồn vốn khu vực Nhà nước và tăng 9,1% so với 2019, vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác đạt 233,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 31,7% và giảm 6,1% so với 2019
Trang 107
Đánh giá, nhận xét:
Trong giai đoạn 2010 - 2020, vốn đầu tư thực hiện khu vực kinh tế nhà nước có
xu hướng biến động , tăng giảm tỷ trọng trong giai đoạn 2010 - 2020 từ 34,9% xuống còn khoảng 26,2%
Trong đó, giai đoạn 2010 - 2020, năm 2020 vốn của các doanh nghiệp Nhà nước
và nguồn vốn khác đạt 233,2 nghìn tỷ đồng, tăng tới 46,9 % so với năm 2010 Cơ cấu của vốn các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác trong tổng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước chiếm tỷ trọng thấp nhất , tuy nhiên tăng giảm không đồng đều (từ 2010-2012 giảm 1,8%, từ 2012-2014 tăng 7,2%, từ 2014-2016 giảm 1,6%, từ 2016-
2017 tăng 1,3%, từ 2017-2020 giảm 17%) , nhìn chung có xu hướng giảm Điều này phản ánh thực tế gia tăng chi tiêu công của Nhà nước cho phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua
Mặc dù tỷ lệ đóng góp vào ngân sách, tạo việc làm và góp phần thúc đẩy tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước những năm gần đây có giảm (gắn với giảm số lượng doanh nghiệp), song vẫn giữ tỷ lệ không nhỏ Xu hướng giảm tỷ trọng như trên
là phù hợp với xu hướng chung của nền kinh tế thế giới và xuất phát từ quá trình tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp nhà nước những năm qua, cùng với sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân nội địa và việc mở rộng đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế
Tốc độ tăng vốn đầu tư công ghi nhận mức tăng cao kỷ lục trong suốt 1 thập kỷ qua nhờ thực hiện hàng loạt các giải pháp, tháo gỡ vướng mắc cũng như đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư công Dữ liệu được Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố cho thấy, tính trong giai đoạn 2010 - 2020, năm 2020 vốn đầu tư công đạt 503,4 nghìn tỷ đồng, tăng tới 144,84% so với năm 2010
Cơ cấu của vốn đầu tư công trong tổng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước chiếm
tỷ trọng cao nhất, tuy nhiên khá biến động (từ 2010-2012 đều tăng và tăng 1,8%, từ 2012-2014 giảm và giảm 7,2%, từ 2014-2016 tăng 1,6%, từ 2016-2017 giảm 1,3%, từ 2017-2020 tăng 17%) , nhưng nhìn chung có xu hướng tăng Điều này phản ánh thực
tế gia tăng chi tiêu công của Nhà nước cho phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua
III Th ực trạng của việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong nước của nước ta
hi ện nay Đánh giá, nhận xét và đưa ra 1 số khuyến nghị
1 Th ực trạng của việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong nước của nước ta
hi ện nay Đánh giá, nhận xét
1.1 Huy động nguồn vốn trong nước
1.1.1 Vốn nhà nước
Vốn ngân sách nhà nước
Trang 118
Nguồn lực từ ngân sách nhà nước (NSNN) luôn đóng vai trò quan trọng để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Thu NSNN có nhiều tín hiệu tích cực, nguồn thu chuyển dịch theo hướng bền vững, giảm dần sự phụ thuộc vào các nguồn thu kém ổn định Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục
Trong những năm trở lại đây, cùng với sự tăng trưởng nói chung của nền kinh tế quy mô và việc hoàn thiện thể chế, chính sách thu ngân sách, tổng thu ngân nhà nước không ngừng được gia tăng nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau:
- Thu thuế, phí, lệ phí
+ Thuế là khoản thu bắt buộc của tổ chức kinh tế và cá nhân phải nộp gồm thuế trực thu (thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp…) và thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng khi mua sắm, chi tiêu hàng hóa, dịch vụ)
+ Phí là khoản thu của Nhà nước nhằm duy trì một số dịch vụ công (án phí, phí tham quan, phí bảo trì đường bộ…)
+ Lệ phí là khoản thu để thực hiện một số thủ tục về hành chính Ví dụ: lệ phí công chứng, hộ khẩu, địa chính, hải quan… Các loại phí và lệ phí chỉ phải đóng khi sử dụng dịch vụ phải trả phí, lệ phí
- Thu từ các đơn vị sự nghiệp công ví dụ như trường học công, bệnh viện công, viện nghiên cứu, trung tâm thể thao… Hiện nay, thu của các đơn vị này đang chuyển dần sang cơ chế giá dịch vụ
- Các khoản vay viện trợ không hoàn lại (như phát hành công trái, trái phiếu chính phủ, các khoản vay ODA hoặc vay ưu đãi của chính phủ…)
- Nguồn thu khác: Lợi tức góp vốn từ tổ chức kinh tế, thu hồi vốn từ tổ chức kinh tế, bán và cho thuê tài sản nhà nước, đóng góp tự nguyện
Cả lý thuyết và thực tiễn đểu chỉ ra rằng, khi tài chính doanh nghiệp và tài chính hộ gia đình mạnh thì khả năng thu thuế của doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng (thông qua người dân đi mua sắm hàng hóa), thu thuế thu nhập cá nhân tăng lên Thực tế cho thấy thuế, phí, lệ phí chiếm tới khoảng 84-85% thu ngân sách nhà nước Do đó, thu nhập dân cư và tài chính hộ gia đình có vai trò cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với thu ngân sách nhà nước Vì thế, làm thế nào để tăng cường hay “phình to” tài chính hộ gia đình và tài chính doanh nghiệp là vấn đề có ý nghĩa lớn đối với Chính phủ
Trang 129
Nguồn: Thu thập và tính toán theo số liệu Bộ Tài Chính công bố
Tổng thu NSNN đạt bình quân 23,56% GDP trong giai đoạn 2011-2015 và đạt 25,32% GDP trong giai đoạn 2016-2019 Xét theo số tuyệt đối, tổng thu NSNN thực hiện đều vượt khá so với dự toán Quốc hội quyết định (năm 2016 vượt khoảng 93 nghìn
tỷ đồng; năm 2017 vượt khoảng 81 nghìn tỷ đồng; năm 2018 vượt hơn 105 nghìn tỷ đồng, năm 2019 ước vượt 138,2 nghìn tỷ đồng)
Trang 1310
Cơ cấu thu NSNN có sự chuyển dịch theo hướng bền vững hơn, tăng tỷ trọng nguồn thu nội địa, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn thu từ tài nguyên khoáng sản (dầu thô) và thu từ hoạt động xuất - nhập khẩu
Tỷ trọng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) trong tổng thu NSNN tăng từ 67,5% trong giai đoạn 2011-2015 lên 81,04% trong giai đoạn 2016-2019 Đây là kết quả khá
ấn tượng khi dự báo khả năng đều vượt mục tiêu kế hoạch đề ra Tỷ trọng thu nội địa
so với tổng thu NSNN tăng liên tục qua các năm trong giai đoạn 2011 - 2019, phần lớn nhờ vào số thu từ khu vực sản xuất - kinh doanh đạt khá Tỷ trọng số thu từ khu vực kinh doanh trong tổng thu nội địa từ sản xuất - kinh doanh chiếm trung bình khoảng 76% Có thể thấy rằng, nhờ việc thực hiện các ưu đãi thuế, hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp được tạo điều kiện thuận lợi hơn, qua đó gián tiếp đóng góp ngược trở lại cho NSNN
Tỷ trọng thu dầu thô trong giai đoạn 2016 - 2019 giảm còn khoảng 4% tổng thu NSNN so với mức trung bình 13,4% của giai đoạn 2011 - 2015 và 19,96% của giai đoạn
2006 - 2010 Thu từ dầu thô giảm do giá dầu thô trong giai đoạn vừa qua ở mức thấp và
nỗ lực cơ cấu nền kinh tế thông qua việc giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, trong đó có dầu thô
Tỷ trọng thu cân đối từ hoạt động xuất - nhập khẩu trong tổng thu NSNN giảm từ 20,06% trong giai đoạn 2006 - 2010 xuống còn 17,7% trong giai đoạn 2011 - 2015 và 14,5% trong giai đoạn 2016 - 2019 Nguyên nhân là do Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện cắt giảm thuế quan theo lộ trình
Do sự hoàn thiện thể chế kinh tế, với sự ra đời của Hiến pháp 2013, ban hành nhiều bộ luật và đạo luật nhằm cải cách thể chế có ý nghĩa quan trọng đồng thời chủ động hội nhập thế giới (đã ký kết hàng chục Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương thế hệ mới,…) đã giúp nền kinh tế nước ta phát triển và bước vào giai đoạn ổn định
Bên cạnh những mặt tích cực thì ngân sách nhà nước cũng còn nhiều hạn chế như:
Công tác triển khai dự toán còn chậm trễ, tỷ lệ giải ngân thấp, công tác quản lý, thực hiện giám sát ở các cấp còn nhiều hạn chế
Công tác thẩm định chậm trễ, chưa đảm bảo yếu tố chất lượng, năng lực Công tác giải phóng mặt bằng chậm, chi phí đền bù lớn, quản lý và sử dụng đất đai chậm được khắc phục ảnh hưởng đến tiến độ và giải ngân nguồn vốn
Tính trượt giá chưa có quy định thống nhất là nguyên nhân kéo dài thời gian lập, thẩm định, phê duyệt dự án
Mặc dù Việt Nam đang giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn thu từ dầu thô
và nguồn thu từ hoạt động xuất - nhập khẩu, nhưng trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế sâu rộng, giá dầu biến động trái chiều làm cho nguồn thu từ dầu thô khó dự báo, tạo áp lực cho việc huy động nguồn lực bền vững cho NSNN
Cơ cấu thu thuế chưa có sự cân đối hợp lý giữa các khoản thuế trực thu
và thuế gián thu Hiện nay, nguồn thu NSNN từ thuế dựa chủ yếu vào các sắc thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng Mức độ động viên từ thuế giá trị gia tăng
ở mức khá cao đã bù đắp được sự giảm thu từ một số khoản thu khác như thu từ
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 1411
thuế nhập khẩu, thu từ dầu thô Trong khi đó mức độ động viên từ thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể dầu thô) so với mức độ động viên từ thuế giá trị gia tăng thấp hơn nhiều, do điều chỉnh giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm cạnh tranh thuế với các nước trong khu vực
Tín dụng đầu tư phát triển:
Hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước thông qua VDB:
VDB là một đơn vị cho vay chính sách phi lợi nhuận, với số vốn điều lệ 10.000
tỷ đồng Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu Nhà nước
Từ khi thành lập đến nay, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) có vai trò quan trọng trong triển khai chính sách tín dụng mục tiêu quốc gia Quy mô tín dụng đầu tư Nhà nước thực hiện qua VDB ngày càng tăng và trực tiếp hỗ trợ thực hiện các mục tiêu quốc gia và địa phương phù hợp trong từng giai đoạn phát triển, nhất là trong hỗ trợ vốn cho một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật và năng lực sản xuất của nền kinh tế, góp phần thu hút đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn, các lĩnh vực y tế, giáo dục, nhà ở, bảo vệ môi trường…
Vốn doanh nghiệp nhà nước:
Nguồn vốn ở DNNN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư toàn xã hội, được xác định là vai trò chủ đạo trong việc phát triển kinh tế, quá trình CNH-HĐH ở nước ta
Từ năm 2012, nguồn vốn chủ sở hữu có chiều hướng tăng nhẹ Năm 2012, chỉ tiêu này tăng 26% so với năm 2011 và có xu hướng tiếp tục tăng vào năm 2013 ,tổng vốn đầu tư của DNNN tăng 104,2% trong 9 tháng đầu năm 2013
Tính đến năm 2015, doanh nghiệp nhà nước chiếm 70% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn Nhà nước, thế nhưng chỉ đóng góp khoảng 30% tăng trưởng GDP Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các tập đoàn, tổng công ty đang nắm giữ những vị trí then chốt trong nền kinh tế như: ngân hàng, năng lượng, cơ khí, hóa chất…
Đến hết năm 2020, cả nước còn gần 500 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn và gần 200 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối Khu vực doanh nghiệp nhà nước mặc dù giảm đáng kể về số doanh nghiệp, nhưng hiện vẫn là khu vực thu hút vốn khá lớn với 9,05 triệu tỷ đồng, chiếm 27,2%, tăng 48,9% (trong
đó khu vực doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thu hút 4,55 triệu tỷ đồng, chiếm
Trang 15Tương tự, mức đóng góp ngân sách Nhà nước của nhóm doanh nghiệp này cũng dẫn đầu toàn thị trường với khoảng 28% tổng số thuế và các khoản phải nộp ngân sách hàng năm Như năm 2020, các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước đã nộp tổng cộng 241.728 tỷ đồng tiền thuế và các khoản phát sinh nộp ngân sách
Tuy nhiên, Bộ kế hoạch và đầu tư cho biết hoạt động sản xuất kinh doanh của nhóm doanh nghiệp Nhà nước vẫn chưa tương xứng với nguồn lực được nắm giữ Một số doanh nghiệp Nhà nước quy mô lớn có kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp, nợ nần, thua lỗ, thất thoát lớn Như năm 2020, có 11/73 tập đoàn kinh tế, tổng công ty lỗ lũy kế hơn 11.464 tỷ đồng Đối với hệ thống ngân hàng thương mại Nhà nước, hạn chế chủ yếu là quy mô vốn và tỷ lệ an toàn vốn còn thấp so với các ngân hàng thương mại trong khu vực và trên thế giới
Cơ quan quản lý cũng đánh giá khả năng cạnh tranh, đặc biệt là cạnh tranh quốc
tế của nhóm doanh nghiệp Nhà nước còn thấp
Ngoài ra, việc thực hiện các dự án đầu tư mới của doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian qua không được thúc đẩy Trong đó, 5 năm gần nhất, có rất ít dự án, công trình mới của nhóm doanh nghiệp này được khởi công, hầu như các doanh nghiệp chỉ tiếp tục thực hiện các dự án dở dang hoặc xử lý các dự án còn tồn đọng từ giai đoạn trước
Nguyên nhân do:
• Đầu tư dàn trải không tập trung vào chuyên môn chính của mình, hoạt động không hiệu quả so với khu vực tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
• Do được hưởng nhiều ưu đãi nên không bắt buộc có tài sản đảm bảo dễ dẫn đến đổ vỡ dây chuyền và làm mất khả năng thanh toán
• Cơ chế lao động bất hợp lý, nhất là cán bộ hành chính thiếu kinh
nghiệm làm việc và năng lực
• Việc thực hiện tổ chức các hoạt động kinh doanh chưa đảm bảo tính đồng bộ thống nhất gây khó khăn, lúng túng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
• Đặc thù của phân cấp đầu tư của Việt Nam là phân cấp đồng bộ và phân cấp theo địa giới hành chính, nghĩa là phân cấp cùng các chức năng, nhiệm vụ nhất định đối với từng cấp quản lý nhà nước theo địa giới hành chính mà chưa chú ý tới đặc thù về quy mô, trình độ phát triển, các yếu tố tự nhiên của từng địa phương, cũng như đặc thù về phạm vi, hiệu quả của một số dịch vụ công Cùng với hệ thống quản lý đầu tư còn nhiều bất cập, đầu tư theo phong trào đã diễn ra rầm rộ, dẫn đến vấn đề
“tỉnh hóa các cảng biển”, “tỉnh hóa khu công nghiệp”, “tỉnh hóa các khu kinh tế”,
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 161.1.2 Vốn dân cư & tư nhân
Vốn dân cư
Nguồn vốn huy động trong dân cư thực tế là phần vốn được trích (nếu là ngân hàng huy động) hay được người dân đưa ra đầu tư dựa trên số tiền tiết kiệm Lượng tiền tiết kiệm trong dân cư phục vụ cho hoạt động đầu tư còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ nhưng đây là nguồn vốn linh hoạt, dễ tiếp cận và dễ dàng huy động cho các công trình đầu tư ngắn hạn
Tiết kiệm của hộ gia đình rơi vào khoảng 35% trên tổng tiết kiệm Tuy nhiên con
số này ko ổn định qua các năm và có xu hướng giảm Năm 2010, tỷ lệ tiết kiệm của Việt Nam được IMF ước lượng chỉ đạt khoảng 29,8% GDP Trong khi đó, nhu cầu đầu tư tăng mạnh, tỷ lệ đầu tư lên cao nhất đạt 43,1% GDP vào năm 2007 Giai đoạn
2011 - 2015, ngoại trừ năm 2011 đang nối tiếp xu hướng của giai đoạn trước với đầu
tư cao thì từ năm 2012 - 2015 nền kinh tế chuyển sang một giai đoạn mới, cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư hơn, tỷ lệ tiết kiệm/GDP gia tăng, bình quân đạt 31,26%, trong khi tỷ lệ đầu tư/GDP bình quân đạt 31,04% Báo cáo cũng cho thấy người tiêu dùng Việt Nam là người có xu hướng tiết kiệm cao trên thế giới (79%) và họ đã thay đổi thói quen chi tiêu trong thời gian qua để hạn chế chi phí phát sinh trong cuộc sống của mình
Theo số liệu thống kê từ cuộc Khảo sát mức sống dân cư, do Tổng cục Thống kê thực hiện, năm 2014 tiền tiết kiệm trong dân cư khoảng 843 nghìn tỷ đồng (theo giá hiện hành), năm 2016 là 1.126 nghìn tỷ đồng và năm 2018 tăng vọt lên khoảng 1.818 nghìn tỷ đồng Trong đó, hai năm 2018 và 2019 tiết kiệm bình quân trên đầu người đạt mức cao nhất trong cả giai đoạn lần lượt là 2.111 nghìn đồng và 2.279 nghìn đồng mặc dù hai năm này tỷ lệ lạm phát không cao năm 2018 tỷ lệ lạm phát là 3,54% và năm 2019 là 2,79% Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, quy mô nguồn vốn này tăng với tốc độ bình quân trong giai đoạn 2015 - 2018 đạt 18,1%/năm Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 9-2021, tổng số dư tiền gửi của dân cư tại các tổ chức tín dụng là hơn 5,29 triệu tỷ đồng, tăng 2,92% so với cuối năm 2020 bất chấp mặt bằng lãi suất huy động liên tục đi xuống trong 2 năm gần đây
Bên cạnh đó, tiền tiết kiệm, theo tập quán của người dân Việt Nam, thì thường sẽ mua vàng hoặc ngoại tệ để tích trữ Tại thời điểm năm 2014, chỉ tính trên số lượng vàng xuất nhập khẩu mấy năm qua, không bao gồm lượng vàng trong dân đã tích lũy
từ trước thì lượng vàng trong dân có khoảng 300 – 500 tấn Nguồn lực này là rất lớn
và để huy động được lượng lớn vàng này nhiều chuyên gia đã đề xuất việc phát hành
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 1714
chứng chỉ gửi vàng, số vàng huy động sẽ được sử dụng làm tài sản thế chấp cho các ngân hàng hay tổ chức tài chính nước ngoài để vay ngoại tệ với lãi suất thấp Từ đó, đưa vốn vào đầu tư, phục vụ cho các dự án sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế -
xã hội của quốc gia Đặc biệt, theo Bộ Tài chính, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế xã hội của VN những năm tới rất lớn, nhưng dự kiến đến tháng 7.2017 có thể không còn được vay vốn ODA mà phải chuyển sang sử dụng nguồn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường với lãi suất cao Bởi vậy, việc nghiên cứu giải pháp huy động
có hiệu quả nguồn lực vàng trong dân cho phát triển kinh tế là rất cấp bách trong điều kiện hiện nay Nếu một phần lượng vàng này tách khỏi cất trữ, chuyển hóa thành tiền, đưa vào lưu thông sẽ đem lại lượng vốn lớn cho nền kinh tế
Vốn tư nhân
Theo Tổng cục Thống kê, Số doanh nghiệp thành lập mới bình quân trong giai đoạn 2016-2020 trên phạm vi cả nước đạt 128,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 62,8% so với bình quân giai đoạn 2011-2015 Theo khu vực kinh tế, khu vực dịch vụ có số doanh nghiệp thành lập mới hằng năm đạt cao nhất với 90,9 nghìn doanh nghiệp, chiếm 70,9% số doanh nghiệp thành lập mới bình quân giai đoạn 2016-2020; khu vực công nghiệp và xây dựng 35,2 nghìn doanh nghiệp, chiếm 27,5%; khu vực nông lâm, nghiệp và thủy sản hơn 2 nghìn doanh nghiệp, chiếm 1,6% Bình quân giai đoạn 2016-
2019, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 9,9%/năm Năm 2020 do ảnh hưởng của dịch Covid-19, số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm 2,3% so với năm 2019 nên giai đoạn 2016-2020 số doanh nghiệp thành lập mới tăng 7,3%/năm
Quy mô vốn đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân có sự gia tăng liên tục, tỷ trọng vốn đầu tư khu vực tư nhân đã tăng lên 42,75% trong giai đoạn 2016-2020 Đến năm
2020, khu vực kinh tế tư nhân chiếm đến 42,81% Nguyên nhân do quá trình tái cơ cấu đầu tư công qua việc giảm dần tỷ lệ đầu tư công đã tác động đến cơ cấu vốn đầu
tư toàn xã hội; do đó, tỷ trọng vốn đầu tư công có xu hướng giảm xuống, vốn đầu tư
tư nhân có xu hướng tăng lên trong tổng vốn đầu tư Về mặt giá trị, vai trò của khu vực tư nhân là quan trọng trong cả đóng góp vào số lượng tổng đầu tư trong nước và khả năng phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực
1.2 Sử dụng nguồn vốn trong nước
1.2.1 Vốn nhà nước
Thực trạng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước:
Thực tiễn những năm qua cho thấy, đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước vào các chương trình, dự án có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước
Giai đoạn 2016-2020, Kế hoạch Đầu tư công trung hạn đã được thực hiện với tổng mức vốn gần 2 triệu tỷ đồng, nhưng đã góp phần huy động vốn đầu tư xã hội đạt 9,2 triệu tỷ đồng Điều này khẳng định tính chất “vốn mồi”, dẫn dắt và lan tỏa của đồng vốn đầu tư công, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế ở mức cao của nước
ta giai đoạn 5 năm qua Năm 2020-2021, với những diễn biến phức tạp của đại dịch
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 1815
Covid-19, đầu tư công càng phát huy được vai trò quan trọng Để hoàn thành kế hoạch tăng trưởng giai đoạn 2021-2025, việc nâng cao chất lượng nguồn vốn đầu tư công là một nhiệm vụ cấp thiết và không thể không thực hiện
Hiệu quả đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà nước
Đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà nước tác động sâu sắc đến rất nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, do vậy, cần có cách tiếp cận toàn diện và bao quát để xem xét, đánh giá về hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà nước
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2020 là năm kết thúc Kế hoạch đầu tư công giai đoạn 5 năm 2016-2020, cũng là Kế hoạch đầu tư công trung hạn đầu tiên được lập theo Luật Đầu tư công năm 2014, trong bối cảnh chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid-19, đầu tư công đã có sự khác biệt rất lớn so với các năm trước, đó là từ nguồn vốn “mồi” chuyển thành nguồn lực chính để thúc đẩy phục hồi kinh tế trong đại dịch Covid-19
Điều đáng mừng là trong giai đoạn 2016-2020, nguồn vốn đầu tư công được tập trung bố trí cho các dự án hạ tầng chiến lược, thiết yếu, quan trọng, then chốt, như: đường bộ, sân bay, bến cảng, các công trình thủy lợi đầu mối, điện, thông tin liên lạc, kết cấu hạ tầng các khu đô thị, khu công nghiệp, bệnh viện, trường học, văn hóa thể thao, các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020 cũng đã ưu tiên đầu tư cho miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng
thường xuyên bị thiên tai, bão lũ và các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu, phòng, chống, khắc phục tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, sự cố ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung; ưu tiên bố trí vốn các dự án quan trọng, cấp bách, liên kết vùng, có tính chất lan tỏa, tạo động lực thu hút vốn đầu tư khu vực tư nhân nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, nguồn vốn ngân sách trung ương (NSTW) giai đoạn 2016-2020 bố trí cho các vùng, như: Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 27%, vùng miền núi phía Bắc là 24%, Đồng bằng sông Cửu Long 17%, Đồng bằng sông Hồng 13%, Đông Nam Bộ 12% và Tây Nguyên 7%
Đặc biệt là hiệu quả đầu tư công từng bước được cải thiện, cơ bản khắc phục được tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, manh mún; tỷ lệ dự án hoàn thành đạt khá và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm, góp phần huy động một số lượng lớn vốn đầu tư toàn xã hội; số dự án khởi công mới từng năm trong giai đoạn 2016-
2020 giảm dần Cụ thể, giai đoạn 2016-2020, số dự án sử dụng vốn NSTW triển khai trong kỳ còn khoảng 11.100 dự án, giảm một nửa so với giai đoạn 2011-2015; trong
đó, dự án hoàn thành trong giai đoạn 2016-2020 là 7.354 dự án, bằng 66,2% tổng số
dự án (số dự án chuyển tiếp từ giai đoạn 2011-2015 hoàn thành trong giai đoạn
2016-2020 là 4.547 dự án, dự án khởi công mới hoàn thành ngay trong giai đoạn 2016-2016-2020
là 2.807 dự án), khởi công mới 4.208 dự án Số dự án khởi công mới từng năm trong giai đoạn 2016-2020 giảm dần Số vốn bố trí bình quân cho một dự án kế hoạch năm sau cao hơn năm trước, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)