Khóa luận tốt nghiệp: Vai trò của ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Đặng Thu Hiền
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Tú Uyên
Trang 2MỤC LỤC
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 0
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 0
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
I Tổng quan về thị trường chứng khoán 3
1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán 3
1.1.1 Khái niệm về chứng khoán: 3
1.1.2 Các quan điểm về TTCK 4
1.2 Phân loại thị trường chứng khoán 6
1.2.1 Căn cứ vào sự luân chuyển các luồng vốn 6
1.2.2 Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường 6
1.2.3 Căn cứ vào phương thức giao dịch 7
1.2.4 Căn cứ vào đặc điểm các loại hàng hoá lưu hành trên thị trường chứng khoán 7
1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán 8
1.3.1 TTCK góp phần thúc đẩy việc tích luỹ và tập trung vốn 8
1.3.2 TTCK phản ánh hiệu quả hoạt động của nền kinh tế 8
1.3.3 TTCK tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế 8
II Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán9 2.1 Các khái niệm 9
2.1.1 Định nghĩa ngân hàng thương mại 9
2.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 9
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 9
Trang 32.1.4 Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại 10
2.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán 10
2.2.1 Mô hình hoạt động 10
2.2.2 Nghiệp vụ của ngân hàng thương mại trên TTCK 12
III Mối quan hệ giữa ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán 23
3.1 Hoạt động của NHTM tạo ra hàng hoá cho TTCK 23
3.2 Vai trò trung gian chứng khoán của các ngân hàng thương mại 24
3.3 Điều chỉnh cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán 24
3.4 Vai trò của ngân hàng thương mại trong việc cung cấp thông tin trên thị trường chứng khoán 24
3.5 Vai trò của ngân hàng thương mại về định chế quản lý thị trường chứng khoán 25
IV Điều kiện cần thiết để ngân hàng thương mại hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam 25
4.1 Điều kiện pháp lý 25
4.2 Uy tín, tiềm lực tài chính, quy mô và chất lượng hoạt động 26
4.3 Công nghệ ngân hàng 28
4.4 Trình độ nhân sự 28
Chương II: 30
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 30
I Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam 30
1.1 Sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam 30
1.2 Hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam 31
Trang 41.2.2 Nguyên tắc đấu giá: 31
1.2.3 Nguyên tắc công khai 32
1.3 Các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán 32
1.3.1 Giai đoạn đầu (2000-2005) 32
1.3.2 Giai đoạn năm 2006-2007 32
1.3.3 Giai đoạn 2008- nửa đầu năm 2009 33
1.3.4 Giai đoạn nửa cuối năm 2009 đến nay: 33
II Thực trạng các nghiệp vụ của NHTM trên TTCK Việt Nam 34
2.1 Khái quát về các ngân hàng thương mại Việt Nam 34
2.2 Tình hình hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán 36
2.2.1 Hoạt động phát hành chứng khoán 36
2.2.2 Kinh doanh chứng khoán 40
2.2.3 Hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán 44
2.2.4 Hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu 45
2.2.5 Hoạt động môi giới chứng khoán 48
2.2.6 Hoạt động tư vấn, đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán 49
2.2.7 Về thực hiện vai trò ngân hàng giám sát 52
2.2.8 Về góp vốn thành lập công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán 53 III Đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM 53
3.1 Những thành tựu đạt được 53
3.1.1 Hoạt động phát hành chứng khoán tạo nguồn cung hàng hoá quan trọng cho TTCK 53
3.1.2 Hoạt động kinh doanh chứng khoán đã được triển khai khá tốt, góp phần tạo hiệu quả cho thị trường, và thực hiện đa dạng hoá hoạt động của các NHTM 54
3.1.3 Hoạt động tư vấn, môi giới chứng khoán phát triển khá mạnh 55
Trang 53.1.4 Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán tạo cơ sở phát triển hàng hoá cho thị trường, và hỗ trợ nhà phát hành huy động vốn 55
3.2 Hạn chế và nguyên nhân 56
3.2.1 Hạn chế trong việc phát huy vai trò của NHTM đối với sự phát triển của TTCK 56 3.2.2 Nguyên nhân 58
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI PHÁT HUY VAI TRÒ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 62
I Định hướng phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 62
II Định hướng phát triển NHTM Việt Nam 63 III Một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển của TTCK ở Việt Nam 64
3.1 Giải pháp vĩ mô 65
3.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về ngân hàng, tạo khuôn khổ pháp lý khuyến khích NHTM tham gia hoạt động chứng khoán 65 3.1.2 Thực hiện các biện pháp phát triển TTCK 66 3.1.3 Tiếp tục tiến hành cổ phần hoá các NHTMNN nhằm đổi mới phương thức tạo vốn, thay đổi phương thức quản lý điều hành, góp phần lành mạnh hoá và minh bạch hoá tình hình tài chính của các NHTM 66 3.1.4 Xây dựng và phát triển một số NHTM theo mô hình tập đoàn kinh tế đa năng 67 3.1.5 Đẩy mạnh thị trường OTC với nòng cốt là hoạt động của các
Trang 63.1.6 Tiếp tục khuyến khích phát triển các công ty quản lý quỹ do các
NHTM tự thành lập hoặc liên doanh với nước ngoài 68
3.2 Giải pháp vi mô 68
3.2.1 Tăng cường tiềm lực tài chính của các NHTM 68
3.2.2 Nâng cao trình độ nhân sự 69
3.2.3 Hiện đại hoá và quốc tế hoá công nghệ ngân hàng 69
3.2.4 Nâng cao chất lượng hoạt động của các NHTM 70
3.2.5 Xây dựng mô hình hoạt động của NHTM trên thị trường chứng khoán 71
3.2.6 Kết hợp hoạt động của NHTM với hoạt động của công ty chứng khoán thuộc ngân hàng thương mại 72
IV Một số kiến nghị 73
4.1 Đối với UBCKNN 73
4.1.1 Phối hợp với NHNN xây dựng cơ chế tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển 73
4.1.2 Thực hiện điều hành TTCK theo nguyên tắc liên thông 74
4.2 Đối với các NHTM 74
4.2.1 Có chiến lược thích hợp phát triển các dịch vụ phi ngân hàng 74 4.2.2 Chủ động, tích cực phối hợp giữa các NHTM với TTCK 74
4.2.3 Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro 74
4.2.4 Nâng cao năng lực tài chính 75
4.2.5 Đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ liên quan đến TTCK 76
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 7NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà Nước
TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Quy mô vốn điều lệ hiện nay và dự kiến của một số ngân hàng cổ phần 38 Bảng 2: Giá trị vốn hoá cổ phiếu ngân hàng 38 Bảng 3: Lợi nhuận trước thuế của một số ngân hàng trong năm 2009 39 Biểu đồ 1: Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn/tổng dư nợ phân theo nhóm ngân hàng 60
Trang 9
LỜI NÓI ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Đi vào hoạt động từ tháng 7/2000, đến nay, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, bước đầu góp phần hình thành một mô hình thị trường vốn tương đối toàn diện, tạo lập và vận hành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Tầm quan trọng có tính tất yếu của thị trường chứng khoán đã thu hút sự tham gia của không chỉ các cá nhân nhà đầu tư, mà còn của các tổ chức, trong đó, có các định chế tài chính mà cụ thể là hệ thống Ngân hàng thương mại
Với tiềm lực kinh tế lớn mạnh trong nền kinh tế, các Ngân hàng thương mại
có vai trò quan trọng và quyết định đến sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên, trong thời gian qua, sự tham gia và tác động của loại hình tổ chức tín dụng này trên thị trường chứng khoán vẫn chưa thực sự rõ nét và hiệu quả Điều này được thể hiện cụ thể như các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại liên quan đến chứng khoán vẫn còn đơn giản, mang tính chất thăm dò, thử nghiệm, chưa
kể một số nghiệp vụ vẫn chưa được thực hiện, nhiều ngân hàng vẫn chưa khẳng định được vị thế của mình trên thị trường chứng khoán do những nguyên nhân từ phía cơ sở pháp lý, cũng như từ chính các ngân hàng thương mại
Xuất phát từ thực trạng và yêu cầu phát triển thị trường chứng khoán trong
mối liên hệ với các Ngân hàng thương mại trong thời gian tới, đề tài: “Vai trò của
Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam” đã được lựa chọn nghiên cứu
II Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu nhằm những mục đích chính sau:
Làm rõ thực trạng của những nghiệp vụ trực tiếp và gián tiếp được thực hiện bởi các Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Đánh giá về những đóng góp tích cực cũng như những hạn chế của Ngân
Trang 10 Tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa vai trò của Ngân hàng thương mại trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các Ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán trực thuộc các Ngân hàng thương mại và hoạt động của các tổ chức này trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Các NHTM tại Việt Nam
Thời gian: 25/1 đến 15/5/2010
IV Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu
V Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận được trình bày theo 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về Thị trường chứng khoán và hoạt động của
Ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động của các ngân hàng thương mại trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
Chương III: Giải pháp thúc đẩy các Ngân hàng thương mại phát huy vai trò
trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhân đây, tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới sự giúp đỡ nhiệt tình, tận tâm của Ths Nguyễn Tú Uyên trong quá trình hoàn thành khoá luận Do thời gian có hạn, nguồn tài liệu hạn chế, khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự ý kiến đóng góp, bổ sung để khoá luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2010
Sinh viên thực hiện Đặng Thu Hiền
Trang 11Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Tổng quan về thị trường chứng khoán
1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
Chứng khoán là hàng hoá của thị trường chứng khoán Đó là những tài sản
tài chính dài hạn vì nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu có thể bán nó để thu tiền về
Chứng khoán thường được chia thành 4 nhóm chính: Cổ phiếu, Trái phiếu, các công cụ chuyển đổi, và các công cụ phái sinh
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc
bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần Cổ phiếu có thể được phát hành vào lúc thành lập công ty hoặc lúc công ty cần thêm vốn để mở rộng
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành
(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ trái phiếu (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm
giữ nó, tuỳ theo lựa chọn và những điều kiện nhất định, có thể đổi nó lấy một chứng khoán khác Thông thường có: cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổi thành cổ phiếu thường, trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phiếu thường
Chứng khoán phái sinh là một loại chứng khoán được sinh ra từ một chứng
khoán gốc và giá cả của nó phụ thuộc vào giá cả của chứng khoán gốc Có các loại chứng khoán phái sinh cơ bản là:
Quyền mua cổ phần là quyền ưu tiên mua trước dành cho các cổ đông
1Đào Lê Minh (2002), Những vấn đề cơ bản về Chứng khoán và Thị trường Chứng khoán, Nhà xuất bản
Trang 12hiện hữu của một công ty cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong một đợt phát hành cổ phiếu phổ thông mới, tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty, tại một mức giá xác định, thấp hơn mức giá chào mời ra công chúng và
trong một thời hạn nhất định
Chứng quyền là một loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyền
được mua một số lượng xác định một loại chứng khoán khác, thường là cổ phiếu thường, với một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định Quyền này được phát hành khi tổ chức lại các công ty hoặc khi công ty muốn khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua các trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi có những điều kiện kém thuận lợi Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có được một lựa chọn đối
với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường
Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó, một người mua và một
người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định, tại một
thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay
Hợp đồng tương lai là một thoả thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ
mua hoặc bán một hàng hoá nào đó tại một thời hạn xác định trong tương lai theo
một mức giá đã định trước
Hợp đồng quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được
mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khối
lượng nhất định hàng hoá tại một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định
1.1.2 Các quan điểm về TTCK
Một trong những kênh dẫn vốn quan trọng, làm cầu nối giữa bên cần vốn
và bên có vốn trong nền kinh tế đó là thông qua các trung gian tài chính theo nguyên tắc tín dụng, trong đó, quan trọng nhất là hệ thống ngân hàng Đây được coi
là kênh dẫn vốn gián tiếp Một hình thức khác mà ở đó, người có vốn có thể có điều kiện chuyển vốn của mình trực tiếp vào sản xuất thông qua nguyên tắc đầu tư, đó là khi dòng vốn được lưu chuyển thông qua thị trường chứng khoán chứ không phải hệ thống ngân hàng
Trang 13Sơ đồ về Thị trường tài chính
Có nhiều quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán
Quan điểm thứ nhất cho rằng thị trường chứng khoán và thị trường vốn là khác nhau vì công cụ của thị trường chứng khoán ngoài các chứng khoán dài hạn còn có các giấy tờ ghi nợ ngắn hạn (các tín phiếu kho bạc nhà nước có thời hạn 3 tháng hoặc 6 tháng)
Quan điểm thứ 2 cho rằng thị trường vốn và thị trường chứng khoán là thống nhất với nhau Ngày nay, ở các nước có nền kinh tế phát triển, Thị trường chứng khoán (TTCK) được quan niệm là một thị trường có tổ chức và hoạt động có điều khiển, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn giữa những người phát hành chứng khoán và mua chứng khoán hoặc kinh doanh chứng khoán
Tóm lại, thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó, người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời, qua đó, thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán
Trang 14Các công cụ trên thị trường chứng khoán bao gồm: Cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, trái phiếu chính quyền địa phương, các hợp đồng vay thế chấp…
1.2 Phân loại thị trường chứng khoán
1.2.1 Căn cứ vào sự luân chuyển các luồng vốn
Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường chứng khoán sơ cấp và thị trường chứng khoán thứ cấp
Thị trường chứng khoán sơ cấp:
Thị trường chứng khoán sơ cấp còn gọi là thị trường phát hành chứng khoán Đây là nơi mua bán những chứng khoán mới phát hành lần đầu ra công chúng Như vậy, thị trường chứng khoán sơ cấp thực hiện chức năng quan trọng nhất của TTCK, đó là chức năng kinh tế: mang nguồn tiền nhàn rỗi đến cho người cần sử dụng, đưa nguồn tiết kiệm vào công cuộc đầu tư, tạo ra hàng hoá cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thị trường thứ cấp:
Thị trường thứ cấp còn được gọi là thị trường cấp 2, là nơi giao dịch, mua bán các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Nếu như việc phát hành chứng khoán ở thị trường sơ cấp nhằm thu hút vốn đầu tư cho các đơn vị phát hành thì việc giao dịch ở thị trường thứ cấp không góp phần làm tăng thêm một đồng vốn huy động nào mà nhằm đảm bảo tính thanh khoản của các cổ phiếu được phát hành Thị trường thứ cấp giúp các nhà đầu tư muốn mua một cổ phiếu nào đó
có thể mua được và muốn bán cổ phiếu nào đó cũng có thể bán được
1.2.2 Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
TTCK được chia thành thị trường tập trung và phi tập trung
Thị trường tập trung (Còn gọi là thị trường chứng khoán chính thức hay thị trường chứng khoán có tổ chức)
Đây là thị trường chứng khoán tập trung, hoạt động đúng theo các quy định của pháp luật Các loại chứng khoán đã được đăng ký được giao dịch, mua bán tại các sở giao dịch chứng khoán bằng các động tác đấu giá
Thị trường phi tập trung (OTC):
Trang 15Đây là thị trường không có địa điểm tập trung những người môi giới, những người kinh doanh chứng khoán như ở Sở giao dịch chứng khoán, không có khu vực giao dịch cụ thể, hoạt động giao dịch diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, vào thời điểm và tại chỗ mà những người có nhu cầu mua bán chứng khoán gặp nhau
1.2.3 Căn cứ vào phương thức giao dịch
TTCK được chia làm 2 loại: Thị trường giao ngay và thị trường tương lai:
Thị trường giao ngay:
Thị trường giao ngay là thị trường giao dịch, mua bán theo giá của ngày hôm đó, còn việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày, tuỳ theo mỗi TTCK qui định riêng số ngày này
Thị trường tương lai:
Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo những hợp đồng mà giá cả được thoả thuận ngay trong ngày giao dịch, nhưng việc thanh toán
và giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất định ở tương lai
1.2.4 Căn cứ vào đặc điểm các loại hàng hoá lưu hành trên thị trường chứng khoán
TTCK được chia làm 3 loại: Thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ có nguồn gốc chứng khoán
Thị trường cổ phiếu:
Thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch, mua bán các loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Những cổ phiếu ưu đãi gồm các loại: cổ phiếu ưu đãi không nộp lãi, cổ phiếu ưu đãi tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi tham dự chia phần, cổ phiếu
ưu đãi không tham dự chia phần, cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi được, cổ phiếu ưu đãi
có thể bồi hoàn được
Thị trường trái phiếu:
Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch, mua bán các loại trái phiếu khác nhau, như: trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty
Thị trường các công cụ có nguồn gốc chứng khoán:
Thị trường các công cụ có nguồn gốc chứng khoán là thị trường giao dịch,
Trang 161.3 Vai trò của thị trường chứng khoán
Sự phát triển của TTCK cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của nó đối với nền kinh tế
1.3.1 TTCK góp phần thúc đẩy việc tích luỹ và tập trung vốn
Thực tế, đa số các dự án đầu tư cần lượng vốn lớn và thời gian tín dụng dài mới có thể đem lại lợi nhuận lớn Tuy nhiên các kênh tín dụng khác, như kênh tín dụng ngân hàng lại không thể đáp ứng triệt để nhu cầu này do không thể chuyển hoá vốn quá mức, dẫn đến tăng tỉ lệ các khoản vay khó đòi, đe doạ an toàn của các ngân hàng Khi này, thị trường chứng khoán là nơi tạo nguồn vốn trung và dài hạn quan trọng Trên thị trường sơ cấp, vốn được chuyển trực tiếp từ người có vốn sang người cần vốn thông qua việc phát hành lần đầu các loại chứng khoán Trong khi
đó, thị trường thứ cấp tạo điều kiện cho các khoản đầu tư sinh lợi thông qua việc mua đi, bán lại các chứng khoán, mà đồng thời vẫn đảm bảo nguồn vốn dài hạn thường xuyên và ổn định cho các doanh nghiệp Như vậy, thị trường chứng khoán còn là nơi hỗ trợ hệ thống ngân hàng trong hoạt động cấp tín dụng của mình
1.3.2 TTCK phản ánh hiệu quả hoạt động của nền kinh tế
Được xem là phong vũ biểu của nền kinh tế, chỉ số chứng khoán rất nhạy cảm đối với những thay đổi của thị trường Giá trị cổ phiếu của công ty tỷ lệ thuận với lợi nhuận mà công ty đạt được Vì vậy, chỉ số chung của thị trường chứng khoán phản ánh mức tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó trong thời gian ngắn, trung
Trang 17II Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Định nghĩa ngân hàng thương mại
Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá X thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997, sửa đổi, bổ sung ngày 15 tháng 6 năm 2004 định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”
2.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Nhìn chung, Ngân hàng thương mại (NHTM) có 3 chức năng cơ bản: Chức năng trung gian tài chính, chức năng tạo tiền, và chức năng sản xuất, trong đó, chức năng trung gian tài chính là quan trọng nhất Thực hiện chức năng này, ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian khi thực hiện các nghiệp vụ bao gồm nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và nhiều hoạt động môi giới khác Ngoài ra, NHTM còn có chức năng tạo tiền, tức là chức năng gia tăng khối lượng tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế; và chức năng sản xuất, tức là việc huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo ra sản phẩm và các dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế
2.1.3 Cơ cấu tổ chức
Tuỳ theo hình thức sở hữu mà ngân hàng thương mại có cơ cấu tổ chức khác nhau, trong đó có hai loại hình ngân hàng tiêu biểu: Ngân hàng thương mại quốc doanh và ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại quốc doanh: là ngân hàng thương mại trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ Ở Việt Nam hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh hiện có Ngân hàng công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long, và Ngân hàng Chính sách-Xã hội
Trang 18 Ngân hàng thương mại cổ phần: là loại ngân hàng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần Hiện tại và trong tương lai, loại hình ngân hàng này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống ngân hàng
Ngoài ra còn có: Ngân hàng thương mại liên doanh, Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài
2.1.4 Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
Chương III-Luật các tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm:
Hoạt động huy động vốn
Hoạt động cấp tín dụng
Hoạt động dịch vụ thanh toán
Hoạt động ngân quỹ
Các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền
tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ uỷ thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng
2.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán
2.2.1 Mô hình hoạt động
Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường Mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán
ở mỗi nước đều có những đặc điểm riêng, tuỳ theo đặc điểm của hệ thống tài chính
và sự cân nhắc lợi hại của những người làm công tác quản lý nhà nước
Có thể khái quát thành 3 mô hình cơ bản hiện nay:
NHTM hoạt động theo mô hình ngân hàng đa năng toàn phần
Trong mô hình này, không có bất cứ sự tách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán Các NHTM đa năng cho phép cung cấp đầy đủ các dịch vụ: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm Mô hình này được áp
Trang 19dụng tại cộng hoà liên bang Đức, ngoài ra còn ở các nước thuộc Bắc Âu, Hà Lan, Thuỵ Sĩ và Áo
Mô hình ngân hàng đa năng toàn phần cho phép các NHTM tận dụng triệt để các lợi thế về nhân lực, vật lực để cung cấp các dịch vụ tổng hợp cho khách hàng Việc đa dạng hoá các dịch vụ tài chính cũng cho phép các NHTM đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, san sẻ rủi ro giữa các lĩnh vực đầu tư, tăng khả năng chống đỡ của các NHTM trước các biến động kinh tế Tuy vậy, hoạt động ngân hàng đa năng cũng bộc lộ một số hạn chế như không phát triển thị trường cổ phiếu vì các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu Đồng thời, các ngân hàng cũng dễ gây lũng đoạn thị trường, và các biến động trên thị trường chứng khoán, nếu có, sẽ ảnh hưởng mạnh tới hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không tách biệt giữa hai loại hình kinh doanh này
NHTM hoạt động theo mô hình ngân hàng đa năng một phần
Trong mô hình này, các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập các công ty con, có tư cách pháp nhân độc lập, do vậy, loại bỏ được nhược điểm của mô hình đa năng toàn phần, tạo ra sự độc lập tương đối giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán Mô hình đa năng một phần được
áp dụng tại vương quốc Anh, Canada, Úc Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm
là tạo ra sự chồng chéo về tổ chức trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
NHTM hoạt động theo mô hình chuyên doanh
Mô hình này thể hiện sự phân biệt có tính pháp lý giữa hai ngành ngân hàng
và chứng khoán Hoạt động kinh doanh chứng khoán do các công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi ro cho
hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước, đáng chú ý là Mỹ, Nhật Bản, Canada, Hàn quốc
Tuy nhiên, mô hình chuyên doanh tỏ ra không còn phù hợp trước xu thế phát triển của các tổ chức tài chính, trong đó, có các ngân hàng thương mại theo
Trang 20chuyển sang áp dụng mô hình đa năng một phần bằng cách nới lỏng các điều kiện
để cho phép các NHTM tham gia thị trường chứng khoán, đặc biệt, khi mô hình ngân hàng chuyên doanh gặp khó khăn sau khủng hoảng tài chính 2008-2009 vừa qua làm ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 của Hoa Kỳ là Leman Brother sụp đổ dẫn đến các ngân hàng đầu tư còn lại phải nhanh chóng chuyển đổi từ mô hình chuyên doanh sang mô hình đa năng một phần
2.2.2 Nghiệp vụ của ngân hàng thương mại trên TTCK
Tổ chức trung gian tài chính trong đó có các NHTM đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển và nâng cao tính hiệu quả của thị trường thông qua các hoạt động của họ trên TTCK
Tuy nhiên, NHTM là tổ chức nhận tiền gửi trong đó bộ phận tiền gửi thường chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn Phần lớn những người gửi tiết kiệm trong ngân hàng là các cá nhân, hộ gia đình Khi tham gia sâu rộng trên TTCK, khả năng ngân hàng bị vỡ nợ và phá sản rất dễ xảy ra nếu TTCK đi xuống Điều này không chỉ tác động tiêu cực tới cá nhân, hộ gia đình và gây ra sự náo động trong dân chúng mà còn ảnh hưởng xấu đến sự ổn định và phát triển của thị trường tài chính cũng như của nền kinh tế quốc gia Vì vậy, chính phủ các nước luôn kiểm soát hoạt động của các NHTM hết sức chặt chẽ
Theo quy định của hầu hết quốc gia, trên TTCK, các NHTM được phát hành chứng khoán, thực hiện hoạt động ngân quỹ và tham gia cung cấp trực tiếp các dịch
vụ an toàn được đảm bảo liên quan đến TTCK như hoạt động lưu kỹ, thanh toán bù trừ chứng khoán, hoạt động giám sát, hoạt động cho vay, mua và cầm cố chứng khoán Ngoài ra, đối với những hoạt động rủi ro cao như kinh doanh chứng khoán
có tính an toàn thấp, bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, các NHTM phải lập CTCK thành viên mới được phép tham gia vào hoạt động này
Nghiệp vụ trực tiếp của NHTM trên TTCK
<a> Nghiệp vụ huy động vốn trên thị trường chứng khoán
Trang 21Nhằm huy động vốn trung hạn (3 năm, 5 năm hay 10 năm) và dài hạn (trên
10 năm), các NHTM có thể phát hành các loại cổ phiếu và trái phiếu
Huy động vốn dài hạn bằng phát hành trái phiếu
Với nhu cầu dài hạn trên 10 năm, việc huy động tiền gửi hay phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn là không mấy khả thi Khi này, NHTM có thể phát hành trái phiếu Trái phiếu do NHTM phát hành có thể coi là một loại trái phiếu công ty Bằng việc phát hành trái phiếu bán cho các nhà đầu tư, NHTM thu về được một khối lượng nguồn vốn dài hạn dưới hình thức nợ vay Như vậy, khi phát hành khi phát hành trái phiếu, nguồn vốn hoạt động của NHTM tăng lên Tuy nhiên, phát hành trái phiếu không làm tăng vốn chủ sở hữu mà chỉ làm tăng nợ dài hạn của ngân hàng
Huy động vốn dài hạn bằng phát hành trái phiếu chuyển đổi
Trái phiếu chuyển đổi là một loại chứng khoán bao hàm 2 giá trị: giá trị của trái phiếu cùng với giá trị của việc lựa chọn chuyển đổi thành cổ phiếu tại một mức giá thỏa thuận trước trong tương lai
Trong một số điều kiện, huy động vốn thông qua phát hành Trái phiếu chuyển đổi (TPCĐ) có nhiều ưu điểm vượt trội đối với doanh nghiệp phát hành, đồng thời hấp dẫn với nhà đầu tư Với doanh nghiệp phát hành, ưu điểm nổi bật của TPCĐ là huy động được vốn với chi phí thấp hơn: lãi suất của phần trái phiếu trong phát hành TPCĐ thường thấp hơn là lãi suất khi phát hành trái phiếu thông thường Một số doanh nghiệp có đánh giá tín dụng thấp, nhưng có tiềm năng tăng trưởng cao sẽ có khả năng phát hành TPCĐ ở gần mức lãi suất thị trường nhờ độ hấp dẫn
về cơ hội chuyển đổi thành cổ phiếu tăng trưởng Trong một số trường hợp, doanh nghiệp không thể tăng nợ theo cách thông thường vì tỷ lệ nợ của công ty đã quá cao; khi này, phát hành TPCĐ có thể là một lựa chọn nhằm đa dạng hóa kênh huy động vốn Ngoài ra, người mua TPCĐ sẽ chỉ được hưởng một tỷ lệ lãi suất cố định cho đến thời hạn cho phép chuyển đổi Trong thời gian này, lợi nhuận của công ty chỉ được dành cho cổ đông hiện hữu, không bao gồm người mua TPCĐ
Trang 22 Huy động vốn dài hạn bằng phát hành cổ phiếu
Cổ phiếu nói chung là chứng nhận đầu tư vào công ty cổ phần Các ngân hàng thương mại cổ phần cũng là một dạng công ty cổ phần, do đó, có thể phát hành
cổ phiếu để huy động vốn cổ phần
<b> Nghiệp vụ ngân quỹ
Trong hoạt động ngân quỹ, các NHTM thường đầu tư ngắn hạn vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, dự phòng và tích trữ Các chứng khoán thường được lựa chọn cho mục đích này là trái phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được, trái phiếu chính phủ
Hoạt động ngân quỹ là cầu nối quan trọng giữa thị trường tín dụng và thị trường chứng khoán Khi thị trường tín dụng trầm lắng, một bộ phận vốn trên thị trường tín dụng sẽ dịch chuyển sang thị trường chứng khoán thông qua hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM, ngược lại, khi nhu cầu tín dụng tăng, các NHTM sẽ bán chứng khoán để tăng lượng vốn cho hoạt động tín dụng Như vậy, vốn không bị ứ đọng và tính thanh khoản được đảm bảo
TTCK mở ra cơ hội cho hoạt động ngân quỹ của NHTM phát triển, qua đó, các NHTM có thể duy trì tính thanh khoản, và đảm bảo khả năng thanh toán cũng như tích trữ của mình Tuy nhiên, hoạt động ngân quỹ đòi hỏi sự sẵn có của các công cụ có tính thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp, và tính ổn định của thị trường Đôi khi, sự thiếu ổn định của TTCK đã ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán của các tổ chức tín dụng và qua đó, có ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tín dụng
<c> Nghiệp vụ đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán
Đăng ký chứng khoán, lưu ký chứng khoán, bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán là các dịch vụ hỗ trợ giao dịch chứng khoán mà các NHTM có thể trực tiếp cung cấp trên TTCK bao gồm ở cả thị trường chính thức và thị trường phi chính thức
Giao dịch chứng khoán tại các Sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK), thị trường phi tập trung, và thị trường các chứng khoán phái sinh…đều là hình thức giao dịch có tổ chức giữa nhiều bên mua bán với nhau Để luôn đảm bảo nghĩa vụ
Trang 23thực hiện hợp đồng cũng như sự an toàn cho tất cả các bên tham gia mua bán, giảm thiểu chi phí giao dịch, hình thức giao dịch có tổ chức đòi hỏi việc thanh toán tiền
và chuyển giao chứng khoán cũng phải được thực hiện một cách có tổ chức Khi giao dịch chứng khoán đã được xác nhận thực hiện, việc chuyển giao chứng khoán
và thanh toán tiền sẽ được thực hiện theo hình thức chuyển khoản trên các tài khoản chứng khoán và tiền thông qua các bút toán ghi sổ, thay vì chuyển giao vật chất trực tiếp như trong hình thức giao dịch tự phát Để làm được điều này, chứng khoán niêm yết hay đăng ký giao dịch trên TTCK cần phải giữ tập trung và bất động hoá ở một nơi Chính đòi hỏi này đã dẫn đến sự ra đời của loại hình dịch vụ đăng ký, lưu
ký chứng khoán, bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán để hỗ trợ cho việc thực hiện và hoàn tất các giao dịch chứng khoán trên các thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức
Các tổ chức cung cấp dịch vụ đăng ký, lưu ký chứng khoán, bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán thường là các ngân hàng lưu ký (NHTM được phép lưu ký chứng khoán), các CTCK, được gọi chung là các tổ chức lưu ký Các tổ chức thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán là các ngân hàng thanh toán
Đối với các NHTM, tận dụng được cơ sở vật chất kỹ thuật, thực hiện hoạt động đăng ký, lưu ký, bảo quản chứng khoán và đảm nhận thanh toán hộ các nhà đầu tư qua hệ thống thanh toán bù trừ cũng mang lại cho họ nhiều lợi ích Các NHTM có thể thêm thu nhập, tăng khả năng giám sát và đảm bảo tính an toàn trong các giao dịch chứng khoán
<d> Hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu
Cho vay cầm cố cổ phiếu là việc ngân hàng cung cấp tín dụng cho khách hàng dựa trên việc cầm cố các cổ phiếu (niêm yết hoặc chưa niêm yết) mà người khách đó nắm giữ thay vì cầm cố bất động sản hay động sản như trước đây Hoạt động này giúp ngân hàng tăng dư nợ cho vay một cách an toàn vì cổ phiếu đó có tính thanh khoản cao hơn các tài sản kể trên Ngoài ra, nghiệp vụ này được thực hiện còn nhằm đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng, phân tán rủi ro và tăng thu nhập
ổn định cho ngân hàng
Trang 24Nhờ nghiệp vụ này của các NHTM, người sở hữu chứng khoán có thể dùng khoản chứng khoán của mình thế chấp ở ngân hàng và vay vốn để lại tiếp tục đầu tư chứng khoán, vốn của họ không bị ứ đọng mà luôn được linh hoạt luân chuyển Điều này làm cho tốc độ chu chuyển vốn của toàn xã hội tăng lên và làm tăng khả năng cầu về chứng khoán của các nhà đầu tư cả trên thị trường tập trung cũng như OTC Từ đó, hoạt động cho vay cầm cố chứng khoán của NHTM có tác dụng kích thích tăng trưởng giao dịch chứng khoán trên TTCK
<e> Hoạt động ngân hàng giám sát
Bên cạnh các hoạt động trên, các NHTM còn trực tiếp thực hiện nghiệp vụ ngân hàng giám sát cho các quỹ đầu tư chứng khoán
Để bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư, mỗi quỹ đầu tư công chúng khi thành lập và đi vào hoạt động đều phải được giám sát bởi một ngân hàng độc lập với công
ty quản lý quỹ Ngoài việc lưu giữ toàn bộ tài sản của quỹ, ngân hàng giám sát có trách nhiệm kiểm tra, giám sát thường xuyên để đảm bảo hoạt động của công ty quản lý quỹ là phù hợp với quy định của pháp luật và điều lệ quỹ Mọi hoạt động thu chi của quỹ đều phải thực hiện qua ngân hàng giám sát
Hoạt động của các NHTM trên TTCK không chỉ bó hẹp ở những nghiệp vụ
mà ngân hàng được trực tiếp thực hiện, mà họ còn mở rộng hoạt động của mình bằng cách thành lập CTCK độc lập để được tham gia vào những nghiệp vụ khác trên thị trường
Nghiệp vụ gián tiếp của NHTM trên TTCK
<a> Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán
Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của NHTM trên thị trường chứng khoán được diễn ra cả ở thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Trên thị trường sơ cấp, nhờ có tiềm lực tài chính mạnh và khả năng sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư dài hạn, các NHTM có thể đóng vai trò nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu chính phủ, vốn đòi hỏi tầm nhìn đầu tư trung và dài hạn
Trên thị trường thứ cấp, nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán được thực hiện qua các hình thức sau:
Trang 25 Kinh doanh cổ phiếu, trái phiếu: thực chất là hoạt động chiết khấu, tạo
thanh khoản cho thị trường
Sản phẩm phái sinh: các NHTM có thể thực hiện các sản phẩm phái sinh
như: hoán đổi, kỳ hạn, quyền chọn, hợp đồng tương lai đối với các trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường Sự kết hợp giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán
sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh (đầu cơ), và bảo hiểm rủi ro, đồng thời tăng tính thanh khoản của thị trường
Ngoài ra, bản thân các ngân hàng cũng lập ra Công ty chứng khoán (CTCK) trực thuộc và đổ vốn cho những đơn vị này kinh doanh chứng khoán Nhờ có ưu thế
về thông tin và tiềm lực tài chính, các CTCK trực thuộc ngân hàng này có lợi thế hơn hẳn khi tham gia TTCK
<b> Nghiệp vụ phân phối và bảo lãnh:
Tại một số thị trường lớn trên thế giới, các trung gian tài chính trong đó có các NHTM đóng vai trò quan trọng với tư cách là đại lý sơ cấp hoặc bảo lãnh phát hành
Nhưng thị trường chứng khoán là nơi chứa đựng nhiều rủi ro Do lo ngại sự bất ổn định của thị trường chứng khoán có thể có tác động xấu cho hoạt động của các NHTM cũng như cho nền kinh tế quốc dân nên luật pháp nhiều nước đã giới hạn hoạt động này của các NHTM Các ngân hàng chỉ được phép thực hiện bảo lãnh phát hành đối với những chứng khoán có tính thanh khoản cao như trái phiếu chính phủ Còn hoạt động bảo lãnh phát hành đối với những chứng khoán có chất lượng thấp hơn như trái phiếu và cổ phiếu công ty thì do các CTCK, công ty con của các NHTM đảm nhận
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc hỗ trợ tổ chức phát hành huy động vốn bằng cách nhận mua số chứng khoán phát hành và phân phối cho các nhà đầu tư
Theo Luật chứng khoán số 70/2006/QH11: Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại, hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng
Trang 26 Vai trò của tổ chức bảo lãnh nói chung
Tư vấn cho tổ chức phát hành
Giúp tổ chức phát hành chuẩn bị tài liệu pháp lý để nộp cơ quan quản lý
Bảo hiểm rủi ro
Phân phối chứng khoán
Các hình thức bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh chắc chắn: Tổ chức bảo lãnh nhận mua toàn bộ số chứng khoán mới phát hành theo giáo thoả thuận với tổ chức phát hành và bán ra cho công chúng Nếu không tiêu thụ hết, tổ chức bảo lãnh phải mua số chứng khoán còn lại
Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: Tổ chức bảo lãnh trong khả năng của mình
Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: Áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thưởng và chào bán cho các cổ đông cũ trước khi chào bán cho các nhà đầu tư bên ngoài Tổ chức bảo lãnh sẵn sàng mua những quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng
Trang 27 Quy trình bảo lãnh phát hành chứng khoán
Trong hình thức đại lý, bảo lãnh phát hành, tổ chức cung cấp dịch vụ này được nhận một mức phí nhất định Phí này thường được xác định bằng một tỷ lệ % trên khối lượng chứng khoán được phân phối Tỷ lệ này phụ thuộc vào quy định của pháp luật, vào tính chất của đợt phát hành, loại hình bảo lãnh và phụ thuộc quan hệ giữa tổ chức phát hành và tổ chức bảo lãnh Nói chung, phí bảo lãnh phát hành có thể thay đổi từ một vài % với hơn 10% lượng vốn huy động
Trên thực tế, không phải quốc gia nào cũng cho phép các NHTM được thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành Chẳng hạn, ở Đức, các NHTM được phép tham gia kinh doanh chứng khoán, và như vậy, các ngân hàng cũng được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành Trong khi đó, ở nhiều nước khác, các NHTM không được thực hiện nghiệp vụ này Ở Mỹ, theo luật Glass-Steagall 1933, các NHTM chỉ được phép tham gia bảo lãnh phát hành chứng khoán do chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành Đến những năm 80, một số NHTM lớn của Mỹ đã được FED cho phép thực hiện nghiệp vụ trên đối với các chứng khoán có độ rủi ro
Trang 28cao hơn như chứng khoán do các doanh nghiệp phát hành J.P Morgan là ngân hàng đầu tiên của Mỹ được quyền bảo lãnh phát hành trái phiếu công ty Ở nhiều nước khác, bảo lãnh phát hành là đặc quyền của các công ty chứng khoán Các NHTM muốn được thực hiện nghiệp vụ này phải thành lập CTCK, một loại công ty con của các tổ chức đó
<c> Môi giới chứng khoán:
Môi giới chứng khoán là việc CTCK làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng Nghề môi giới xuất hiện cùng với sự xuất hiện của TTCK và thường được xem là đặc quyền của các CTCK Tuy nhiên, trên thị trường tài chính hiện nay, nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng, nhiều ngân hàng cũng
đã cung cấp cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác Trong nhiều trường hợp, các ngân hàng mua lại một công ty môi giới đang hoạt động (như Bank
of America mua Robertso Stephens Co.), hoặc thành lập liên doanh với một công ty môi giới Sự tham gia ngày càng nhiều hơn của các NHTM trong hoạt động môi giới làm tăng tính cạnh tranh, và qua đó, làm giảm chi phí giao dịch, cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới
Để có thể thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, các NHTM phải có
đủ các điều kiện cần thiết theo yêu cầu của Luật Chứng khoán, bao gồm: yêu cầu về vốn pháp định, yêu cầu về giấy phép hành nghề đối với giám đốc và các nhân viên môi giới, yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật và phải được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cấp giấy phép hoạt động môi giới
Trên thị trường chứng khoán, hoạt động môi giới chứng khoán bao gồm môi giới lập giá (market makers), môi giới thông thường (brokers) và môi giới hai
đô la (“two dollars” broker)
Môi giới lập giá là hình thức môi giới mà trong đó nhà môi giới phải duy trì một thị trường liên tục đối với loại chứng khoán được phụ trách Để làm được điều đó, nhà môi giới lập giá phải thực hiện hai nhiệm vụ: môi giới chứng khoán hưởng hoa hồng, và kinh doanh chứng khoán Nhà môi giới lập giá không được cạnh tranh với các nhà đầu tư trong việc mua hoặc bán chứng khoán Điều này có
Trang 29nghĩa là, khi có người mua hoặc người bán, nhà môi giới phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước
Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của nhà môi giới lập giá được thực hiện khi chỉ có người mua hoặc chỉ có người bán Khi đó, nhà môi giới phải đóng vai trò là người bán hoặc người mua chứng khoán Trong trường hợp khác, thị trường có cả người mua và người bán, song xuất hiện khoảng chênh lệch giá giữa bên bán và bên mua mà không thể dàn xếp, nhà môi giới phải mua chứng khoán của người bán và bán lại cho người mua Thiệt thòi của nhà môi giới có thể được đền bù
từ hoa hồng của các bên bán và bên mua chứng khoán
Môi giới thông thường chỉ thực hiện đơn chức năng Họ có thể là môi giới phần mua hoặc môi giới phần bán chứng khoán Môi giới hai đô la hay còn gọi là môi giới độc lập chính là các nhà môi giới làm việc cho chính họ và hưởng hoa hồng theo thương vụ Họ chuyên thực hiện lệnh cho các công ty thành viên khác của sở giao dịch khi có quá nhiều lệnh cần phải giải quyết, mà các nhân viên của các công ty môi giới không thể làm xuể Lúc đó, các CTCK sẽ hợp đồng với nhà môi giới độc lập để thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho loại môi giới này một khoản tiền nhất định Ban đầu, các nhà môi giới độc lập được trả cứ hai đô la cho một lô tròn chứng khoán (100 cổ phần), nên người ta gọi là môi giới hai đô la
Tỷ lệ hoa hồng môi giới được xác định bằng một tỷ lệ % nhất định trên tổng giá trị giao dịch Luật pháp từng nước quy định khác nhau về phí môi giới Một số nước vẫn duy trì tỷ lệ hoa hồng cố định như: Thái Lan (0.5%), Indonexia (0.5%), Trung Quốc (1.5%), ở một số nước khác như: Anh, Mỹ, tỷ lệ hoa hồng được tính trên cơ sở thương lượng giữa các NHTM và các CTCK cung cấp dịch vụ với các nhà đầu tư
<d> Tư vấn đầu tư chứng khoán
Trên TTCK, không phải nhà đầu tư nào cũng có thông tin đầy đủ và chính xác về doanh nghiệp và chứng khoán của doanh nghiệp mà mình muốn đầu tư Các nhà đầu tư cá nhân thường gặp khó khăn về vấn đề xử lý các thông tin liên quan đến doanh nghiệp và các báo cáo tài chính liên quan Các NHTM, với lợi thế chuyên
Trang 30môn hoá, và nguồn thông tin phong phú, đáng tin cậy, có thể dễ dàng hơn trong vấn
đề này, từ đó, cung cấp cho các nhà đầu tư dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc CTCK cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán
Có hai hình thức tư vấn là tư vấn trực tiếp và tư vấn gián tiếp Hình thức tư vấn trực tiếp được thực hiện khi các NHTM phân tích, xử lý các tình huống đầu tư của chính khách hàng, từ đó có những khuyến nghị trực tiếp về hoạt động đầu tư đó và nhận một khoản lệ phí tư vấn thoả thuận Bên cạnh đó, các NHTM có thể thực hiện chức năng tư vấn gián tiếp bằng cách chia sẻ các thông tin của mình thông qua việc phát hành các báo cáo phân tích trên các tạp chí, báo chuyên đề Việc phát hành các tài liệu này làm tăng uy tín và tạo thu nhập cho các NHTM
<e> Quản lý các danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện quản lý theo uỷ thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán, và vì quyền lợi của nhà đầu tư Trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư, các tổ chức tài chính phải đảm bảo tách biệt giữa tài sản của khách hàng với tài sản của mình Việc mua, bán, nắm giữ các chứng khoán chỉ được thực hiện khi có sự uỷ thác hoặc theo lệnh của khách hàng
Tuỳ theo mức độ tín nhiệm của các trung gian tài chính mà các khách hàng
có thể uỷ quyền một phần hoặc uỷ quyền toàn bộ việc quản lý tài sản của mình cho
họ Định kỳ hoặc theo yêu cầu của khách hàng, các trung gian tài chính phải gửi các bản sao kê về tình hình tài sản trong danh mục cho khách hàng, đồng thời, không được tiết lộ các thông tin về tài sản của khách hàng, ngoại trừ trường hợp cần thiết
Trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư, các tổ chức tài chính này sẽ nhận được lệ phí quản lý tài sản từ khách hàng, đồng thời nâng cao uy tín và tạo điều kiện phát triển các hoạt động, dịch vụ khác, như lưu ký, thanh toán và tư vấn đầu tư chứng khoán
<f> Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu
Trang 31tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ Các loại hình quỹ đầu tư tồn tại dưới các hình thức phong phú như: Quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư cổ phiếu, quỹ đầu tư hỗn hợp…Sự xuất hiện đa dạng các loại hình quỹ đầu tư với các loại hình chứng chỉ quỹ đầu tư có các mức độ rủi ro khác nhau đã tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho các nhà đầu tư, từ đó, tăng tính hấp dẫn của thị trường chứng khoán Các quỹ này được uỷ thác cho các công ty quản lý quỹ đầu tư
Các công ty quản lý quỹ là pháp nhân, phải được cấp phép để hoạt động và chịu sự quản lý của UBCK Các NHTM muốn thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu
tư chứng khoán thường phải thành lập công ty thành viên Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán mang lại thu nhập đáng kể cho các công ty quản lý quỹ dưới dạng phí và các khoản thưởng theo kết quả hoạt động của quỹ, đồng thời giúp các NHTM duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng của mình
III Mối quan hệ giữa ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán
3.1 Hoạt động của NHTM tạo ra hàng hoá cho TTCK
Để phát triển TTCK, điều thiết yếu là cần phát triển “cung” và “cầu” hàng hoá cho thị trường Trong đó, “cung” hàng hoá thực chất liên quan tới hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán của các tổ chức kinh tế trên thị trường, và ngân hàng thương mại là một trong số đó
Việc cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước hay cho phép các ngân hàng cổ phần được đăng ký niêm yết và phát hành cổ phiếu ra công chúng dưới nhiều hình thức như: chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, đối tác chiến lược, phát hành cổ phiếu thưởng, phát hành cổ phiếu trả cổ tức, phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động, phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO)…đã tạo ra nguồn cung chứng khoán quan trọng và thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư
Trang 323.2 Vai trò trung gian chứng khoán của các ngân hàng thương mại
Không phải nhà kinh doanh nào cũng có thể gặp ngay được những đối tượng cần mua chứng khoán để cả hai cùng thực hiện việc mua bán với nhau Cũng như không phải bất cứ người dân nào muốn đầu tư vào chứng khoán cũng có thể nhanh chóng đủ hiểu biết, đủ thông tin để tìm được cho mình nơi mua loại chứng khoán thích hợp Vì vậy, trên thị trường xuất hiện những người trung gian với công việc là giúp người mua và người bán gặp nhau theo đúng yêu cầu của cả hai bên Khác với người môi giới thông thường, các trung gian chứng khoán giữ vai trò chủ động trong việc thương lượng chứng khoán, thay thế thân chủ để cam kết mua bán chứng khoán với giá định sẵn do chính trung gian chứng khoán lựa chọn Vai trò chủ yếu của nhà trung gian chứng khoán là: kinh doanh, môi giới, và bảo lãnh chứng khoán
Ngoài các nghiệp vụ trên, người trung gian chứng khoán còn có các nghiệp
vụ phụ trợ như: tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, giao dịch mua bán chịu chứng khoán…
3.3 Điều chỉnh cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Các định chế tài chính trung gian đồng thời là nguồn cung sơ cấp và thứ cấp trên thị trường chứng khoán
Trên thị trường sơ cấp, khi các định chế này đi vào hoạt động cũng có nhu cầu tăng vốn bằng con đường huy động dưới hình thức phát hành cổ phiếu và trái phiếu
Trên thị trường thứ cấp: Khi các ngân hàng nhận làm dịch vụ bảo lãnh họ cam kết sẽ mua toàn bộ số cổ phiếu của một đợt phát hành nào đó của công ty cổ phần, để rồi sau đó bán lại các cổ phiếu cho những ai muốn đầu tư vào công ty cổ phần
đó Lúc này, ngân hàng sẽ tiến hành giao dịch trên thị trường thứ cấp tạo ra nguồn cung thứ cấp Mặt khác, thông qua CTCK con của mình, các ngân hàng cũng có thể kinh doanh chứng khoán, góp phần điều tiết cung cầu chứng khoán trên thị trường
3.4 Vai trò của ngân hàng thương mại trong việc cung cấp thông tin trên thị trường chứng khoán
Trên thị trường chứng khoán, thông tin là yếu tố vô cùng quan trọng, đôi khi quyết định sự thành công hay thất bại của nhà đầu tư trên thị trường Càng có nhiều
Trang 33thông tin về doanh nghiệp, niềm tin của nhà đầu tư về một quyết định đầu tư sáng suốt với cổ phiếu của doanh nghiệp càng cao
Ngày nay, thông tin về chứng khoán và những diễn biến trên thị trường là vô cùng phong phú, và NHTM là một trong những kênh cung cấp thông tin hữu hiệu, thông qua các CTCK thuộc ngân hàng mình Để tìm hiểu các thông tin từ tin tức, kiến thức, trao đổi, đánh giá, thông số tài chính, đến những thông tin chuyên sâu và tập trung hơn như kết quả giao dịch, thông tin về công ty niêm yết, những người quan tâm có thể truy cập trang điện tử của các công ty chứng khoán này
3.5 Vai trò của ngân hàng thương mại về định chế quản lý thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là thị trường nhạy cảm và ẩn chứa nhiều rủi ro, chính vì thế, cần được quản lý nghiêm ngặt và chặt chẽ Thông qua các hoạt động như: hoạt động ngân hàng giám sát, hoạt động quản lý danh mục đầu tư, hay quản
lý quỹ đầu tư chứng khoán,…,các ngân hàng thương mại đã góp phần cùng các tổ chức tài chính khác quản lý sự hoạt động của các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, nhằm đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của thị trường
IV Điều kiện cần thiết để ngân hàng thương mại hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Những phân tích trên cho thấy NHTM giữ vị trí và vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của TTCK Tuy nhiên, để sự tham gia này của NHTM được bền vững, sâu rộng và ngày càng hiệu quả hơn nữa, các NHTM cần phải đáp ứng các điều kiện căn bản sau:
4.1 Điều kiện pháp lý
TTCK luôn chứa đựng những yếu tố rủi ro và phức tạp, tuy nhiên thu hút sự tham gia của rất nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế Chính vì vậy, các hoạt động trên thị trường này cũng cần được kiểm soát chặt chẽ dưới những quy định pháp lý rõ ràng Sự tham gia của các NHTM trên TTCK cũng không thể nằm ngoài tác động của những quy định này
Trang 34Như đã đề cập trong phần các mô hình hoạt động của NHTM trên TTCK, mỗi nước đều có những quy định khác nhau về việc ngân hàng có được tham gia hay không, và tham gia ở mức độ nào trong lĩnh vực chứng khoán Tuy nhiên, các nước theo mô hình chuyên doanh cũng đã nới lỏng các điều kiện để ngân hàng có thể hoạt động TTCK theo mô hình đa năng một phần
Tại Việt Nam, hoạt động của các NHTM trên TTCK chịu sự điều tiết của nhiều luật khác nhau: Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng…và nhiều văn bản pháp luật khác
Việc có các quy định rõ ràng về hoạt động của NHTM trên TTCK sẽ tạo cơ
sở thuận lợi cho sự tham gia sâu rộng hơn của NHTM, giúp làm tăng lòng tin của công chúng đầu tư đối với TTCK cũng như đối với các ngân hàng Song, cơ sở pháp
lý quá phức tạp, thiếu hoàn thiện lại là yếu tố cản trở các NHTM phát huy vai trò của mình trên TTCK Tuỳ theo mức độ phát triển của TTCK, mỗi quốc gia sẽ xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp để đảm bảo cho thị trường phát triển ổn định
4.2 Uy tín, tiềm lực tài chính, quy mô và chất lƣợng hoạt động
Để có thể hoạt động hiệu quả trên TTCK, uy tín của các ngân hàng là một nhân tố vô cùng quan trọng Nguyên tắc hoạt động trung gian của TTCK đòi hỏi các giao dịch trên TTCK phải được thực hiện thông qua một trung gian tài chính Vì vậy, khách hàng luôn phải tìm được một người đại diện có uy tín để thực hiện hoạt động đầu tư của mình Các ngân hàng có uy tín trên thị trường, mà dựa vào đó, các CTCK con sẽ có thể chóng thu hút được các nhà đầu tư có nguyện vọng được tiến hành giao dịch, tư vấn đầu tư hay môi giới…Hơn thế nữa, những ngân hàng xây dựng được uy tín tốt sẽ có thể dễ dàng hơn trong việc huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán trên thị trường
Song uy tín của ngân hàng lại được quyết định bởi tiềm lực tài chính, quy mô
và chất lượng hoạt động của ngân hàng
Khi tham gia trên TTCK, ngoài việc trang bị cho cơ sở kỹ thuật, chi phí đào tạo, chi phí khác, các NHTM cũng phải đáp ứng mức vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật đối với từng hoạt động trên thị trường, cụ thể như một số nghiệp vụ sau:
Trang 35 Mức vốn điều lệ của các doanh nghiệp trong nghiệp vụ chào bán cổ phiếu
cổ phiếu ra công chúng là từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị trên sổ
kế toán; đồng thời, hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán.2
Mức vốn điều lệ của các doanh nghiệp trong nghiệp vụ chào bán trái phiếu ra công chúng là mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ
kế toán; đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm
Vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán, trong đó có các công ty chứng khoán con của các NHTM3
:
Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam
Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam
Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam
Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam
Để thành lập công ty chứng khoán con, các NHTM cần đảm bảo hoạt động kinh doanh có lãi, có nợ quá hạn dưới 5% tổng dư nợ cho vay.4
Ngoài ra, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cũng là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng tài chính đảm bảo an toàn cho các hoạt động của ngân hàng, được tính bằng vốn chủ sở hữu của ngân hàng chia cho tổng tích sản có điều chỉnh rủi ro (là tổng của nợ đã có điều chỉnh rủi ro và vốn) Theo thông lệ trên thế giới thì CAR nằm trong khoảng từ 8% đến 13% là tốt nhất cho các ngân hàng
Khi hệ số rủi ro của các khoản vay (như cho vay chứng khoán) tăng lên sẽ làm cho tổng tích sản của các ngân hàng tăng, làm CAR của ngân hàng nhỏ lại Nếu nhỏ hơn 8% sẽ vi phạm quy định của Ngân hàng Nhà nước
Quy mô hoạt động của ngân hàng cũng là một yếu tố cần được quan tâm Quy mô hoạt động của ngân hàng càng lớn, càng đem lại niềm tin cho các khách hàng Tuy nhiên, khi quy mô quá lớn, mức độ gánh chịu rủi ro cũng rất lớn; trong khi đó, những ngân hàng có quy mô nhỏ khó có thể đảm bảo khả năng cạnh tranh
2
Trang 36Bên cạnh đó, chất lượng và hiệu quả hoạt động là một nhân tố quan trọng tạo nên uy tín cho NHTM Nếu chất lượng hoạt động không tốt, như tỷ lệ nợ quá hạn cao, hiệu suất hoạt động và khả năng thu hồi vốn thấp thì tiềm lực tài chính và uy tín của ngân hàng sẽ nhanh chóng bị giảm sút Vì vậy, để đảm bảo uy tín, các NHTM không phải chỉ có vốn lớn mà còn phải đảm bảo chất lượng hoạt động tốt thông qua các chỉ tiêu tài chính đáp ứng theo yêu cầu
Như vậy, để có thể tham gia và hoạt động hiệu quả trên TTCK, các NHTM phải đảm bảo uy tín của mình, thể hiện qua tiềm lực tài chính, quy mô hoạt động và chất lượng kinh doanh
4.4 Trình độ nhân sự
Ngoài các nhân tố kể trên, để có thể tiến hành các hoạt động trên thị trường chứng khoán, NHTM cần thiết phải có đội ngũ nhân lực vững vàng về trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức, trong đó, quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ cán bộ nghiệp vụ
Đối với hoạt động phát hành chứng khoán của các NHTM, một trong những vấn đề mà nhà đầu tư quan tâm đó là việc người quản lý ngân hàng có thể hiện được khả năng quản trị điều hành nhằm sử dụng vốn của các cổ đông hiệu quả được hay không Vì vậy, Luật pháp Việt Nam hầu hết quy định tiêu chuẩn đối với đội ngũ quản lý các ngân hàng đều phải đảm bảo đạo đức nghề nghiệp, có hiểu biết về hoạt động ngân hàng thông qua việc sở hữu bằng Đại học hoặc trên Đại học về một trong các chuyên ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật; hoặc đã có kinh nghiệm làm việc hoặc điều hành trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính,…
Trang 37Đối với các hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng trên TTCK, đội ngũ nhân viên phải có kiến thức, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực chứng khoán cũng như mức độ tín nhiệm để thực hiện những nghiệp vụ cần thiết, giúp khách hàng đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả nhất Một số nghiệp vụ như môi giới chứng khoán, nhân viên được yêu cầu phải có giấy phép hành nghề
Qua phân tích trên cho thấy, trong nền kinh tế hội nhập, sự tác động lẫn nhau của các thành phần kinh tế, các định chế tài chính là tất yếu khách quan Trong thực
tế, các NHTM có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của TTCK Những hoạt động nghiệp vụ mà NHTM thực hiện trên TTCK, kết quả đạt được và mặt hạn chế, cũng như nguyên nhân của chúng sẽ là nội dung được trình bày trong chương II
Trang 381.1 Sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam
Cho tới nay, TTCK đã phát triển ở mức có thể nói là không thể thiếu được trong nền kinh tế của những nước đang phát triển cần thu hút luồng vốn dài hạn cho nền kinh tế quốc dân Không nằm ngoài quy luật khách quan của sự phát triển, sự hình thành TTCK ở Việt Nam đã được đánh dấu với việc thành lập UBCKNN ngày 28/11/1996 Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi, ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK, chính thức khai sinh cho TTCK Việt Nam Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội
Trong những ngày đầu hoạt động, mới có một vài cổ phiếu được giao dịch với tổng số vốn 27 tỉ đồng và 6 công ty chứng khoán thành viên Hơn 6 năm đầu, mức vốn hoá của thị trường mới chỉ tăng lên 0,5 tỉ USD Tuy nhiên, từ năm 2007 mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) và đến cuối tháng 4- 2007, đạt 24,4 tỉ USD (chiếm 38% GDP), tăng hơn 1400 lần so với năm 2000, và nếu tính cả trái phiếu thì đạt mức 46% GDP Đến cuối năm 2009, mức vốn hóa của TTCK Việt Nam chưa tính trái phiếu đạt 57,99 tỉ USD chiếm 62% GDP và nếu tính cả trái phiếu đang niêm yết thì giá trị vốn hóa đạt 67,29 tỉ USD và chiếm 72% GDP
Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị trường ngày càng đông Tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài Số lượng các nhà đầu tư có tổ chức cũng tăng lên đáng kể, hiện có 35 quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó 23 quỹ đầu tư nước ngoài và 12 quỹ đầu tư trong nước Ngoài ra, còn có gần 50 tổ chức đầu tư theo hình thức uỷ thác qua công ty chứng
Trang 39khoán Đến cuối năm 2009, số lượng tài khoản giao dịch chứng hoán lên tới hơn 800.000 tài khoản, số lượng quỹ đầu tư chứng khoán được phép hoạt động lên tới trên 40 tổ chức cũng như hàng chục các văn phòng đại diện các quỹ đầu tư nước ngoài
Hệ thống các tổ chức trung gian trên TTCK đã hình thành và phát triển nhanh chóng Năm 2007, trên thị trường có 55 công ty chứng khoán, tăng mạnh hàng năm, vốn điều lệ bình quân đạt 77 tỉ đồng/công ty Đến cuối năm 2009, số CTCK lên tới 101 công ty, với số vốn bình quân tăng liên tục thông qua các đợt phát hành tăng vốn Ngoài các CTCK, còn có sự tham gia của 18 công ty quản lý quỹ, 41 tổ chức tham gia hoạt động lưu ký chứng khoán, 6 ngân hàng lưu ký.5
Sự ra đời của Luật Chứng khoán (có hiệu lực từ ngày 01-01-2007) đã tạo khung pháp lý cao cho TTCK phát triển, góp phần thúc đẩy khả năng hội nhập vào
thị trường tài chính quốc tế của TTCK Việt Nam
1.2 Hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị truờng chứng khoán hoạt động theo 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc trung gian, nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai
1.2.1 Nguyên tắc trung gian
Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên TTCK đều được thực hiện thông qua các trung gian, hay còn gọi là các nhà môi giới Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng Ngoài ra, nhà môi giới còn có thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng trong việc đầu tư
Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tư không thể trực tiếp thoả thuận với nhau để mua bán chứng khoán Họ đều phải thông qua các nhà môi giới của mình để đặt lệnh Các nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh
1.2.2 Nguyên tắc đấu giá:
Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động
Trang 40Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp đấu giá
Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập vào
hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán Hệ thống máy chủ này sẽ xác định mức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối lượng cao nhất
1.2.3 Nguyên tắc công khai
Tất cả các hoạt động trên TTCK đều phải đảm bảo tính công khai Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị trường Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bất thường xảy ra đối với công ty, nắm giữ cổ phiếu của giám đốc, nguời quản lý, cổ đông đa số Các thông tin càng được công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút được nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình thành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch
1.3 Các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán
Trải qua hơn 10 năm hình thành và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chứng kiến nhiều dấu mốc trọng đại, đã có thời kỳ đỉnh cao và cũng có giai đoạn thăng trầm Quãng thời gian từ khi thị trường chứng khoán ra đời và đi vào hoạt động đến nay có thể được chia ra làm các giai đoạn:
1.3.1 Giai đoạn đầu (2000-2005)
Giai đoạn này, thị trường còn phát triển chậm với tổng giá trị chứng khoán niêm yết tính đến ngày 31/12/2005 đạt 38.740 tỷ đồng Tính đến cuối năm 2005, có
40 công ty niêm yết, giá trị vốn hoá toàn thị trường mới đạt mức 5.1% GDP năm
20056
1.3.2 Giai đoạn năm 2006-2007
Đây là giai đoạn phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của thị trường chứng khoán Việt Nam Năm 2006, thị trường cổ phiếu có 193 công ty niêm yết đăng ký giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán; Số lượng tài khoản của nhà đầu tư
6Ngô Xuân Thanh (2009), “Nhìn lại Thị trường Chứng khoán Việt Nam sau 10 năm hoạt động”, Báo Đầu tư
chứng khoán (12), tr.3