1.2. Sử dụng nguồn vốn trong nước
1.2.2. Vốn dân cư & tư nhân
Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp lớn vào việc hình thành tài sản cố định và đầu tư dài hạn của khu vực doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn là những chỉ số quan trọng để đánh giá bao nhiêu đơn vị giá trị gia tăng mới trong nền kinh tế sẽ được dùng để đầu tư thay hơn là tiêu dùng. Những chỉ số này cũng được dùng để theo dõi giá trị mua sắm tài sản cố định mới hoặc hiện có và giá trị của các khoản đầu tư dài hạn trong khu vực doanh nghiệp. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp tư nhân trong nước tăng tới 114 lần trong giai đoạn 2000 – 2015 - một tốc độ tăng trưởng nhanh hơn rất nhiều so với khu vực DNNN và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tỷ trọng nắm giữ bởi khu vực tư nhân trong nước đối với tổng tài sản cố định và đầu tư dài hạn của khu vực doanh nghiệp tăng mạnh từ 8,24% năm 2000 lên 36,9% vào năm 2015.
Tăng trưởng mạnh mẽ về vốn, về tốc độ hình thành tài sản cố định, và về đầu tư dài hạn của khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Sự tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững của các chỉ số này trong khu vực tư nhân trong nước sẽ đóng vai trò quan trọng để Việt Nam trở thành một nền kinh tế mạnh mẽ,tự chủ - một nền kinh tế với động lực chính là các nguồn lực nội địa, không phụ
thuộc quá nhiều vào vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
21
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
22 Nguồn: Tổng cục Thống kê
Giữa sự hỗn loạn và bất ổn do đại dịch Covid-19, thị trường đầu tư tư nhân Việt Nam tiếp tục đạt được đỉnh cao mới về số lượng giao dịch trong năm 2020, với 59 giao dịch, dù tổng giá trị thương vụ là 1.142 triệu USD - không tăng nhiều so với năm 2019.
Lĩnh vực công nghệ tiếp tục đà phát triển với số thương vụ cao nhất trong 5 năm qua. Nhiều khoản đầu tư có xu hướng chảy vào các công ty khởi nghiệp công nghệ cung cấp giải pháp đột phá cho bán lẻ và dịch vụ, như đặt lịch và tư vấn chăm sóc sức khỏe trực tuyến, thương mại điện tử, nền tảng nhân sự và tuyển dụng... Tuy nhiên, quy mô thương vụ vẫn khiêm tốn, cho thấy hầu hết các khoản đầu tư đều vào các công ty khởi nghiệp công nghệ giai đoạn đầu ở Việt Nam.
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
23 Nguồn: Tổng cục Thống kê
Các công ty bán lẻ và dịch vụ liên quan mật thiết với các giải pháp công nghệ đột phá cũng lọt vào mắt xanh của các nhà đầu tư. Chẳng hạn, khoản đầu tư 100 triệu USD từ Warburg Pincus vào Momo - ví điện tử với 20 triệu người dùng (năm 2019);
giao dịch trị giá 130 triệu USD từ Northstar Group vào Tiki - một trong 3 nền tảng thương mại điện tử hàng đầu Việt Nam (năm 2020).
Vingroup tiếp tục giữ kỷ lục về giá trị thương vụ lớn nhất, với 500 triệu USD từ GIC đầu tư vào Vincommerce (bán lẻ) vào năm 2019 và 650 triệu USD từ KKR và Temasek vào Vinhomes (bất động sản) vào năm 2020.
Lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cũng có xu hướng tăng đáng kể. Hai quỹ đầu tư danh tiếng tại Việt Nam - Mekong Capital và VinaCapital - đã nhanh chóng thâm nhập lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và dược phẩm với lần lượt 31,8 triệu USD vào Pharmacity và 26,7 triệu USD vào Bệnh viện Thu Cúc.
Hiệu quả sử dụng vốn
Tích tụ vốn là điều kiện quan trọng mang tính tiên quyết đối với tăng trưởng nhưng điều quan trọng hơn là việc sử dụng hiệu quả vốn đã được tích tụ.
Trong những năm gần đây, sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đã dựa nhiều vào số lượng đầu vào vốn đầu tư hơn là hiệu quả sử dụng vốn. Năng suất các nhân tố tổng hợp đóng góp 44% tăng trưởng GDP của Việt Nam trong những năm 1990, nhưng tỷlệ này sau đó giảm xuống còn 26% trong giai đoạn 2000-2008, và sau đó tăng nhẹ lên 31,1% trong giai đoạn 2010-2016. Trong cùng thời gian, sự đóng góp
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
24 của vốn tăng từ 35% lên 54,1% (VNPI, 2016). Dấu hiệu đáng lo ngại này cũng được chứng minh bởi mức tăng của chỉ số ICOR14 của Việt Nam. Theo Tổng cục thống kê, ICOR của Việt Nam đã tăng từ 4,01 năm 2005 lên 6,4 vào năm 2016, thể hiện một thực tế đáng quan tâm là nền kinh tế đang trở nên kém hiệu quả hơn trong việc sử
dụng vốn và đầu tư để tạo ra sản lượng và tăng trưởng.
Số liệu thống kê về ICOR cho thấy các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiệu quả hơn nhiều so với DNNN trong việc sử dụng vốn đầu tư.
Nhìn chung, các doanh nghiệp tư nhân đã hiệu quả gấp hai lần so với DNNN từ góc độ ICOR. Trong năm 2015, ICOR của các doanh nghiệp tư nhân là 5,13 trong khi doanh nghiệp nhà nước là 9,66.
Mặc dù khu vực kinh tế tư nhân có chỉ số ICOR tích cực hơn, phần lớn nguồn lực của nền kinh tế vẫn chưa được dịch chuyển sang cho khu vực này.
Thực tế này đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc đạt được mức năng suất cao hơn của toàn bộ nền kinh tế. Số liệu trình bày từ các phần trên cho thấy các nguồn lực của nền kinh tế chưa được phân bổ và dịch chuyển một cách hiệu quả sang những khu vực có thể sử dụng chúng một cách tốt nhất và vẫn còn rất nhiều việc cần phải làm để thực hiện đầy đủ các nguyên tắc của thị trường trong việc phân bổ nguồn lực này. Như đã đề cập ở trên, mặc dù tổng vốn doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân tăng mạnh trong giai đoạn 2010-2015 về giá trị tuyệt đối, song tỷ trọng về số vốn của các doanh nghiệp theo ngành kinh tế hầu như không thay đổi trong suốt giai đoạn này. Sau rất nhiều những ồn ào về hoạt động thoái vốn khỏi DNNN, tỷ trọng vốn của các DNNN trong tổng vốn chỉ giảm nhẹ từ 34,1% xuống còn 31,3% trong giai đoạn 2010-2015. Mặc dù số lượng doanh nghiệp tư nhân mới tăng một cách ấn tượng, tỷ trọng vốn của các doanh nghiệp tư nhân trong nước trong tổng số lại giảm từ 50,3% xuống còn 49,8%
trong giai đoạn này.
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
25 2. Kiến nghị các giải pháp để nâng cao hiệu quảhuy động và sử dụng nguồn vốn trong nước
2.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động nguồn vốn trong nước
Hiện nay, tiềm năng vốn trong nước của ta còn rất lớn. Vấn đề đặt ra là cần tìm giải pháp để biến tiềm năng thành hiện thực, huy động triệt để vốn trong nước phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Huy động qua kênh ngân sách nhà nước
Việc huy động qua kênh ngân sách nhà nước phải dựa vào thuế, phí, lệ phí, phát huy tiềm năng vốn từ các nguồn tài nguyên quốc gia và từ vay nợ… Trong đó, thu thuế và phí vẫn là nguồn thu quan trọng nhất. Để tăng cường hơn nữa hiệu quả huy động vốn qua thuế, phí, lệ phí cần phải mở rộng diện thu thuế, quy định mức thuế suất ở mức vừa phải, hợp lý nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp, dân cư mở rộng đầu tư, tăng cường kiểm soát tình trạng trốn thuế…
Mở rộng phát hành trái phiếu Chính phủ
Huy động nguồn vốn từ người dân thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ sẽ thúc đẩy tăng tiết kiệm xã hội, tạo thói quen tiết kiệm, tiêu dùng hợp lý cho người dân;
đồng thời nhà nước có nguồn vốn để đầu tư phát triển mà không cần phải phát hành tiền, tránh được lạm phát.
Để tăng hiệu quả huy động vốn trong nước từ việc phát hành trái phiếu Chính phủ cần:
- Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn như: Tín phiếu, trái phiếu, phát hành các loại trái phiếu vô danh có thể chuyển đổi tự do, trái phiếu công
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
26 trình có thể chuyển đổi thành cổ phiếu, đảm bảo việc lấy lãi dễ dàng, nhanh gọn.
- Đa dạng hoá các kỳ hạn trái phiếu, chủ yếu tập trung huy động vốn bằng các loại trái phiếu trung và dài hạn, hạn chế phát hành trái phiếu ngắn hạn với lãi suất cao để bù đắp bội chi Ngân sách
Thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán
Phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán là một trong những yếu tố quyết định phát triển kinh tế của một quốc gia trong đIều kiện nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường. Việc hoàn thiện thị trường vốn, thị trường chứng khoán sẽ tạo ra cơ chế thông thoáng giữa người có nhu cầu vốn đầu tư với các nhà đầu tư, góp phần huy động tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu tư phát triển kinh tế. Đặc biệt việc phát triển thị trường chứng khoán sẽ tạo điều kiện cho các giao dịch về chứng khoán và chuyển đổi từ chứng khoán sang tiền mặt được nhanh gọn và thuận tiện.
Huy động vốn qua các tổ chức tài chính - tín dụng
Các tổ chức tài chính - tín dụng vẫn là trung gian vốn lớn nhất trong nền kinh tế, bởi vậy phải coi trọng và tăng cường hiệu quả huy động vốn qua các tổ chức này. Giải pháp đó là:
- Mở rộng các hình thức huy động vốn tiết kiệm như: Tiết kiệm xây dựng nhà ở, tiết kiệm tuổi già, tín dụng tiêu dùng.
- Có chính sách lãi suất hợp lý, khuyến khích và có biện pháp bắt buộc các tổ chức tín dụng phải có cơ cấu dư nợ hợp lý giữa dư nợ cho vay ngắn hạn và dư nợ cho vay dài hạn, trung hạn, nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp huy động vốn cho đầu tư chiều sâu, mở rộng quá trình kinh doanh
Thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư
Kích thích, khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội tự bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất; khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao khả năng tích tụ và tập trung vốn, mở rộng vốn từ kết quả sản xuất kinh doanh của mình.
Khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự huy động vốn từ dân cư, các tổ chức tín dụng, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh: Mở các hình thức liên doanh, liên kết, hợp đồng, hợp tác kinh doanh với các đối tác trong nước và nước ngoài; từng bước mở rộng cổ phần hoá, đa dạng hoá các hình thức sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước. Cho phép các doanh nghiệp được phát hành cổ phiếu, trái phiếu theo quy định của Chính phủ để tìm kiếm và huy động vốn của cá nhân nhà đầu tư trong và nước ngoài.
2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quảsử dụng nguồn vốn trong nước 2.2.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhànước
Nguồn vốn của ngân sách nhà nước:
Trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, quản lý và sử dụng hợp lý ngân sách nhà nước cân đối giữa thu và chi có tác dụng vô cùng quan trọng, sẽ góp phần kiềm
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
27 chế lạm phát, chống suy giảm kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Ta có thể có những giải pháp sau:
1. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 1792/CT-TTg về việc tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ nhằm khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, lãng phí và kém hiệu quả; góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm tăng trưởng hợp lý.
2. Cán bộ quản lý và giám sát đầu tư cần kỷ cương trong lựa chọn, quyết định và phê duyệt dự án đầu tư đã được tăng cường; điều kiện để phê duyệt dự án đầu tư đã được thắt chặt; trách nhiệm của người đứng đầu đối với hiệu quả đầu tư nói chung và của từng dự án cụ thể nói riêng bước đầu đã rõ ràng hơn.
3. Hướng đầu tư tập trung vào các ngành trọng điểm của quốc gia đối với công nghiệp; thương mại và dịch vụ; kết cấu hạ tầng; văn hóa - y tế - xã hội
4. Lợi ích nhóm được hiểu ở đây chính là lợi ích không mang tính chính đáng, hợp pháp. Biểu hiện ở lợi ích nhóm là các hành động tham nhũng, tha hóa và vi phạm pháp luật. Để ngăn chặn lợi ích nhóm cần phải có một số giải pháp sau đây:
Đẩy mạnh công khai hóa, minh bạch hóa các hoạt động của các bộ máy công quyền. Bởi lẽ, nếu trong hoạt động của bộ máy công quyền còn nhiều điểm tối, không rõ ràng, thì lợi ích nhóm còn có cơ hội hình thành. Do vậy, công khai, minh bạch các hoạt động của bộ máy công quyền là một trong những giải pháp làm cho lợi ích nhóm ít có cơ hội hình thành, phát triển.
Kiểm tra thường xuyên, đặc biệt là phải tăng cường kiểm tra chéo các hoạt động công vụ nhằm ngăn chặn khả năng hình thành lợi ích nhóm.
Kê khai tài chính của bản thân và của gia đình của cán bộ, công chức; kê khai thường xuyên hàng năm, bảo đảm minh bạch các nguồn thu nhập của mọi người.
Nâng cao mức lương cho công chức. Lương của công chức thể hiện đủ để cán bộ
có thể sống được bằng lương và thể hiện danh dự của người công chức sẵn sàng cống hiến cho Nhà nước và hết lòng phục vụ nhân dân.
Phát huy vai trò giám sát của cộng đồng và xã hội, phát hiện những dấu hiệu bất thường nhằm ngăn chặn sự hình thành lợi ích nhóm.
5. Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức trong công tác chỉ đạo nhằm tránh gây thất thoát, lãng phí trong quá trình triển khai đầu tư; Bên cạnh đó cũng cần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, kỷ cương, phẩm chất, trình độ cán bộ, công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý dự án đầu tư xây dựng.
6. Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán cần được thường xuyên, liên tục; coi trọng công tác giám sát, đánh giá đầu tư qua đó nhằm phát hiện những vụ
tham nhũng gây thất thoát, lãng phí.
Nguồn vốn đầu tư tín dụng nhànước
Để khắc phục những vấn đề hạn chế tồn tại trong hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước và đảm bảo định hướng phát triển để tiếp tục phát huy tốt vai trò là công cụ
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
28 của Chính phủ trong việc thúc đẩy ĐTPT theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phù hợp với giai đoạn hội nhập và tiến trình cải cách hệ thống ngân hàng của Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước.
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách và các quy chế nghiệp vụ về tín dụng, đầu tư, bảo đảm tiền vay, ngoại hối, huy động vốn, kế toán và thanh toán…;
nâng cao tính tự chịu trách nhiệm của từng bộ phận nghiệp vụ, từng cá nhân và người đứng đầu các đơn vị, tổ chức. Hoàn thiện mô hình hoạt động của VDB, ban hành Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của VDB theo hướng tăng cường chức năng, nhiệm vụ và tính tự chủ của tổ chức này.
Đề xuất xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn có liên quan để tăng cường tính pháp lý, tạo sự đồng bộ, nhất quán và hoàn chỉnh của hệ thống chính sách và pháp luật về tín dụng ĐTPT của Nhà nước
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước được hoạch định bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; hỗ trợ có hiệu quả phục vụ mục tiêu tăng trưởng, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đa dạng hoá các hình thức hỗ trợ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của các nhà đầu tư, …
Hai là, tăng cường công tác Marketing về ngân hàng.
Triển khai đa dạng các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước qua website, hội thảo, diễn đàn về đầu tư - tài chính (trong nước và khu vực). Tổ chức hội nghị khách hàng hàng năm để tuyên truyền về chính sách tín dụng ĐTPT và lấy ý kiến đóng góp của khách hàng về quá trình thực thi chính sách tín dụng ĐTPT. Xúc tiến sự hiện diện của VDB tại các thị trường khu vực và quốc tế nhằm tăng cường khả năng hợp tác, huy động các nguồn lực và tiếp nhận chuyển giao công nghệ.
Ba là, đơn giản hóa và công khai quy trình cho vay.
Rà soát loại bỏ một số thủ tục không cần thiết, hoàn thiện quy trình theo hướng đơn giản dễ hiểu và dễ thực hiện; quy định cụ thể trình tự và thời gian thực hiện các bước của quy trình vay vốn. Khi quy trình thay đổi, cần có sự tập huấn cho Chi nhánh về việc vận dụng quy trình mới ban hành; công khai quy trình cho vay và phải phổ biến cho các khách hàng biết khi quy trình thay đổi; đồng thời Ngân hàng cần tổ chức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng trong việc vay vốn,
Ngoài việc cải tiến quy trình, thủ tục cho vay của nội bộ mình, VDB cần phối hợp với các ngành nhằm cải cách các thủ tục liên quan để giảm thiểu các thủ tục cho khách hàng. Có như vậy mới kích thích các nhà đầu tư tham gia đầu tư vào những án mà nhà nước cần khuyến khích đầu tư.
Bốn là, đẩy mạnh công tác thu hồi nợ và xử lý nợ.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các dự án; hợp tác chặt chẽ với các chủ đầu tư để xử lý nợ quá hạn. Kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay là một việc làm
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)