Quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật...9 4... Đề bài Đề số 17: Hãy tìm một bản án sơ thẩm của Tòa án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT DÂN SỰ 1
ĐỀ BÀI: SỐ 17
LỚP: N02.TL4 (452644) NHÓM: 01
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
THÔNG TIN 3
1 Đề bài 3
2 Thành viên trong nhóm 3
3 Biên bản làm việc nhóm 4
MỞ ĐẦU 5
NỘI DUNG 5
1 Tóm tắt bản án tối đa 1 trang A4 5
2 Những điểm chưa phù hợp trong bản án 6
3 Quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật 9
4 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 11
KẾT LUẬN 14
PHỤ LỤC 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3THÔNG TIN
1 Đề bài
Đề số 17: Hãy tìm một bản án sơ thẩm của Tòa án liên quan đến việc giải
quyết tranh chấp về xác định các tài sản là di sản thừa kế mà theo quan điểm của nhóm bản án đó chưa phù hợp với quy định của pháp luật, và giải quyết các yêu cầu sau:
1 Từ bản án, quyết định đã sưu tầm được, hãy tóm tắt nội dung vụ việc dưới dạng tình huống dài tối đa 1 trang A4 (giãn dòng 1.5, cỡ chữ 14, không giãn đoạn, không giãn chữ)
2 Hãy chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong quyết định hoặc bản án
sơ thẩm mà nhóm đã sưu tầm và giải thích vì sao nhóm lại cho rằng chưa phù hợp?
3 Hãy đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật
4 Từ việc phân tích vụ án, nhóm hãy đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành
2 Thành viên trong nhóm
STT Họ và tên MSSV Thành phần
1 Nguyễn Hồng Dinh 452634 Thành viên
2 Mai Thị Quỳnh Trang 452635 Nhóm trưởng
3 Phạm Hồng Dương 452636 Thành viên
4 Nguyễn Thị Hương Giang 452637 Thành viên
5 Nguyễn Thị Thu 452638 Thành viên
6 Đoàn Minh Hoàng 452639 Thành viên
7 Vũ Đắc Quyền 452640 Thành viên
8 Nguyễn Thị Xuân Nhi 452641 Thành viên
9 Đặng Thị Yến 452642 Thành viên
Trang 410 Phạm Thị Thu Uyên 452643 Thành viên
11 Dương Kim Cường 452644 Thành viên
3 Biên bản làm việc nhóm
STT MSSV HỌ VÀ TÊN
ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN
ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN
số
Điểm chữ
1 452634 Nguyễn Hồng Dinh X
2 452635 Mai Thị Quỳnh Trang X
3 452636 Phạm Hồng Dương X
4 452637 Nguyễn Thị Hương Giang X
5 452638 Nguyễn Thị Thu X
6 452639 Đoàn Minh Hoàng X
7 452640 Vũ Đắc Quyền X
8 452641 Nguyễn Thị Xuân Nhi X
9 452642 Đặng Thị Yến X
10 452643 Phạm Thị Thu Uyên X
11 452644 Dương Kim Cường X
Kết quả điểm bài viết:……
Kết quả điểm thuyết trình:………
Tổng điểm:………
Hà Nội, ngày tháng năm 2021.
NHÓM TRƯỞNG
Trang
Mai Thị Quỳnh Trang
Trang 5MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển, xu thế hội nhập đang diễn ra, tính gắn kết của con người trong xã hội ngày càng cao Các quan hệ dân sự cũng trở nên phong phú, đa dạng Điều này đòi hỏi các nhà chức trách phải điều chỉnh hệ thống pháp luật kịp thời, phù hợp với sự phát triển của đời sống, nhằm đảm bảo trật tự, kỉ cương, tạo nên sự uy nghiêm của pháp luật Vâng xã hội ấy không mang một gam màu đơn lẻ, mà nó là sự tập hợp của nhiều màu sắc khác nhau Nhất là xã hội ngày nay khi xu hướng hội nhập, phát triển rõ nét, cũng kéo theo nhiều phức tạp đối với một số mặt hoạt động Một trong số đó
là hệ thống pháp luật
“Thừa kế” một hiện tượng xã hội đã xuất hiện và tồn tại từ rất lâu, có một cuốn sách hay viết về mối quan hệ biện chứng giữa thừa kế và sở hữu:
“Nếu như sở hữu là cơ sở làm xuất hiện thừa kế, thì thừa kế lại chính là cách thức để duy trì và củng cố sở hữu” Ở nước ta pháp luật về thừa kế ở đang ngày càng được hoàn thiện điều đó được thể hiện rõ nét ở Bộ luật Dân sự
2015, bộ luật này có nhiều ưu điểm hơn so với các bộ luật trước đó Tuy nhiên cái nhìn về pháp luật nói chung và thừa kế nói riêng vẫn còn nhiều bất cập Chính vì điều này nhóm chúng em xin lựa chọn đề tài số 17 để có thể nghiên cứu sâu hơn nữa, cũng như có cái nhìn toàn diện về vấn đề này, đồng thời đưa ra những kiến nghị, đề xuất các giải pháp, nhằm hoàn thiện các quy định về thừa kế trong pháp luật hiện hành
NỘI DUNG
Bản án sơ thẩm: Số 05/2019/DS-ST ngày 03/05/2019 của Toà án nhân dân huyện Yên Thành, Nghệ An về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”
1 Tóm tắt bản án tối đa 1 trang A4.
Vợ chồng Cụ Phan Thị D và cụ Nguyễn Trọng D sinh được 07 người con gồm: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ng, bà Nguyễn Thị Ngọc G, ông Nguyễn Trọng Đ, ông Nguyễn Trọng H, ông Nguyễn Trọng Ch, ông Nguyễn Trọng C
và ông Nguyễn Chính Th Ông Th, có vợ là bà Đặng Thị H và 02 con là
Trang 6Nguyễn Năng Đ, Nguyễn Hồng Ph Cụ Phan Thị D mất ngày 30/9/1982 và cụ Nguyễn Trọng D mất ngày 06/10/2003, không để lại di chúc Tài sản gồm có
01 thửa đất diện tích 1412m2, 01 nhà ngói 04 gian, 01 vườn bạch đàn Vợ chồng hai ông Th và Đ sống cùng hai cụ, sau đó vợ chồng Đ chuyển ra ngoài Năm 1995 cụ D chuyển nhượng nhà đất cho Nguyễn Trọng C (đứng tên Th) Sau đó do mâu thuẫn nên giao dịch dừng lại, nhưng cụ không thu hồi giấy bán nhà đất Do căn nhà quá cũ, 2009 Th đã dỡ nhà để xây mới, 2010 Th đã trích
ra 250m2 để xây nhà thờ cúng Còn vườn bạch đàn sau khi cụ D chết, Th đã bán vườn bạch đàn được 6.500.000 đồng
- Theo đơn khởi kiện ngày 10/11/2012 nguyên đơn Nguyễn Trọng Đ yêu cầu: Tòa chia toàn bộ di sản cho 7 thừa kế Nay ông đề nghị Tòa án phân chia khối di sản do bố mẹ ông để lại gồm thửa đất diện tích 1412m2, số tiền 7.000.000 đồng tiền bán cây bạch đàn và ngôi nhà gỗ lợp ngói 04 gian Buộc
bị đơn (Th) phải phục dựng lại ngôi nhà ngói 4 gian của bố mẹ ông đúng nguyên hiện trạng tại vị trí ban đầu Và đồng thời ông không chấp nhận trả tiền 15.000.000 đồng cho ông C và tiền công sức cho ông Th, bà H Bà Nguyễn Thị Tuyết Ng, bà Nguyễn Thị Ngọc G, ông Nguyễn Trọng H, ông Nguyễn Trọng Ch thống nhất như lời trình bày và yêu cầu của ông Đ
- Yêu cầu bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Chính Th trình bày: Ông, bà không chấp nhận đơn khởi kiện chia di sản của ông Đ Tại phiên tòa sơ thẩm,
bà H cho rằng nếu phải chia thừa kế thì phải trích di sản để thanh toán số tiền 15.000.000 đồng mà cụ D còn nợ ông C (với giá trị tương đương diện tích đất tại thời chuyển nhượng) Và trả tiền công sức 30 năm, ông không chấp nhận xây dựng nhà ngói 04 gian, như hiện trạng ban đầu Còn ông Nguyễn Trọng C trình bày: Ông cho rằng mảnh đất trên ông đã mua bán hợp pháp với cha Người đại diện theo ủy quyền của ông C là bà H đề nghị Tòa án xem xét, yêu cầu các đồng thừa kế hoàn trả số tiền cụ D nợ trả giá trị tài sản bị thiệt hại
2 Những điểm chưa phù hợp trong bản án
Trên cơ sở việc đọc bản án sơ thẩm số 05/2019/DS-ST ngày 03/05/2019 của Toà án nhân dân huyện Y về tranh chấp thừa kế tài sản trên, nhóm em xin
Trang 7chỉ ra những điểm chưa phù hợp về quyết định và những thiếu sót tồn tại trong bán án
Đầu tiên, theo chúng em tìm hiểu, bản án sơ thẩm này không đề cập
đến phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà
giải, nhưng trong hồ sơ vụ án không thể hiện phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải Việc tiếp cận có vai trò quan trọng đối với việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án Thứ nhất, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; hai là, phiên hòa giải giữa các đương sự trong vụ án (ngoại trừ trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải theo quy định tại điều 206 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 [1]) Trường hợp khi các bên đương sự không hòa giải được thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử Đây có thể coi là bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử vụ án Vì vậy, trước khi tiến hành mở phiên họp kiểm tra và phiên hòa giải, nhóm chúng em tìm hiểu thì đây chính là thiếu sót trong bản án sơ thẩm, các nhà xét xử cần tuân theo nguyên tắc, các quy định thủ tục tố tụng, trong quá trình xét xử
Căn cứ pháp lý: Điểm g Khoản 2 BLTTDS năm 2015:
“2 Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
g) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.”
Thứ hai, tòa án sơ thẩm không xác định rõ số tiền 15.000.000 đồng trả
cho C là trị giá thửa đất 1412m2 và toàn bộ tài sản trên đất mà ông C giao cho
cụ D năm 1995, thuộc và tài sản riêng của ông C hay tài sản chung của vợ chồng ông C Tòa án sơ thẩm phải làm rõ để chia đúng phần quyền của mỗi người Tòa án cần xác định lại rõ tính đúng, sai trong trình bày của các bên đương sự, thống nhất lời khai của bị đơn và nguyên đơn, để có một nội dung bản án hoàn chỉnh, tạo thuận lợi trong quá trình giải quyết xét xử
Trang 8Thứ ba, trong bản án có chia hiện vật là đất, nhưng bản án sơ thẩm
không chia đúng với quy định pháp luật Tức là có rất nhiều loại đất, với các chức năng, đặc điểm tên gọi, kí tự khác nhau
Căn cứ chứng minh trong bản án sơ thẩm quyết định: “Giao cho bà
Nguyễn Thị Ngọc Gi được quyền sử dụng diện tích đất là: 104m2 (kí hiệu 74B), tại thửa đất số 74, tờ bản đồ số 16, vị trí: xóm V, xã V, huyện Y; tứ cận như sau: phía Nam giáp lối đi chung là 8,64m, phía Bắc giáp đồi là 8,74m; phía Đông giáp thửa đất (ký hiệu 74C) là 12,17m, phía tây giáp thửa đất (ký hiệu 74A) là 12,22m; có giá trị 20.800.000 đồng”
Theo quy định thì đất hiện tại được chia ra làm 03 loại: đất nông nghiệp (Đất sử dụng cho các mục đích sản xuất nông nghiệp), đất phi nông nghiệp (Đất sử dụng cho các mục đích không phải nông nghiệp), cuối cùng là đất chưa đưa vào sử dụng Chúng được kí hiệu bởi nhiều ký tự khác nhau như ONT, ODT, LUC, LNK, DKV, BHK, TMD Nên việc quyết định bản án mà thiếu ký hiệu đất là chưa phù hợp Điều này dễ gây nhầm lẫn, vì có rất nhiều loại đất khác nhau Trường hợp này hội đồng xét xử sơ thẩm cần chú ý cẩn thận hơn nữa
Thứ tư, về phần tường rào xung quanh thửa đất và cây cối bà H cho
rằng do vợ chồng bà tạo lập, và việc bảo tồn di sản, chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ tuổi già vợ chồng bà H đã làm hết trách nhiệm và ông Ch, ông H, ông
Đ, bà G, bà Ng, không có chứng cứ chứng minh ông Th bà H vi phạm nghĩa
vụ chăm sóc, phụng dưỡng cụ D Và pháp luật quy định người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản thì mới không được hưởng di sản của người để lại
Căn cứ pháp lí: Khoản 1, Điều 621 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015:
“1 Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc
về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
Trang 9b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.”.
Chính vì vậy, đối với vấn đề này, nhóm em cho rằng Tòa án xem xét lại
và có trách nhiệm chia phần di sản xứng đáng với công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản và công phụng dưỡng của vợ chồng bà H
Thứ năm, theo lời khai của ông Đ thì vợ chồng bà H đã bán một vườn
cây bạch đàn được 7.000.000 đồng và đề nghị chia di sản bao gồm cả giá trị của vườn cây bạch đàn Như vậy, với sự việc này cần căn cứ vào Biên bản họp gia đình ngày 29/4/2002 cùng với lời khai khác, bên cạnh đó bà H lại nói bán được 6.500.000 đồng, yêu cầu Tòa án làm rõ, xem bên nào đúng, và số tiền từ bạch đàn có được do vợ chồng ông Th trồng, chăm sóc, thu hoạch thì
có coi đó là di sản của cụ D hay không? Đồng thời tại đây bản án sơ thẩm cũng mắc phải một lỗi sai, khi có sự nhầm lẫn giữa vườn bạch đàn với vườn tràm Ở đây nguyên đơn đòi chia di sản là vườn bạch đàn chứ không có vườn tràm Đây là lỗi sai không đáng có, điều này tòa xét xử sơ thẩm phải xem xét lại nghiêm túc
3 Quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật
o Đầu tiên, trong BLTTDS 2015 có ghi rõ các giai đoạn thủ tục trong
hoạt động xét xử, Tòa án là nơi bảo vệ lẽ phải, cần hoạt động theo nguyên tắc
mà pháp luật quy định để đảm bảo xét xử khách quan, chính xác Bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải rất cần thiết, tòa án sơ thẩm phải chú ý để
Trang 10thực hiện Căn cứ pháp lý: Khoản 7 Điều 48 BLTTDS năm 2015 về nhiệm
vụ, quyền hạn của Thẩm phán: “Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của Bộ luật này”.
o Thứ hai, về công sức của vợ chồng ông Th bà H trong thời gian sống
chung với hai cụ, cũng như thời gian sau khi các cụ chết, thấy rằng: Ông Th là con út của Cụ Phan Thị D và cụ Nguyễn Trọng D sống chung với cha mẹ trên thửa đất từ nhỏ Tại các biên bản họp gia đình, đều thể hiện ông Th bà H có trách nhiệm trong việc chăm sóc cụ D, vào tháng cuối đời trước khi chết cụ D nằm một chỗ, ông Th bà H chăm sóc rất vất vả Ông Ch, ông H, ông Đ, bà Gi,
bà Ng không có chứng cứ chứng minh ông Th bà H vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cụ D, mà nguyên tắc nếu vi phạm sẽ rơi vào trường hợp không được hưởng di sản, quy định tại điều 621 BLDS 2015 [2]
Do đó, có cơ sở xác định quá trình sinh sống ông Th, bà H đã có công sức duy trì, tôn tạo, bảo quản tài sản và đồng thời chăm sóc, phụng dưỡng cụ D trong thời gian dài Vì vậy để đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng bà H trước khi chia
di sản của cụ D cần phải trích công sức cho vợ chồng bà H thỏa đáng và hiện tại bà H còn không có chỗ ở nào khác, các anh chị đều đã có chỗ ở ổn định, cho nên trước khi chia di sản của cụ D cần trích công sức cho vợ chồng bà H bằng giá trị quyền sử dụng đất gắn với ngôi nhà mà bà đang sử dụng trên cơ
sở cân đối bằng giá trị
o Thứ ba, đối với phần bản án chia chưa phù hợp, chúng em xin chia lại
như sau:
- Tổng di sản của cụ D và cụ D là 1412m2 đất, trị giá tiền 282.400.000 đồng; sau khi thanh toán cho ông C là 15.000.000 đồng, tương đương 75m2
đất; dành lối đi chung 192m2, tương đương 38.400.000 đồng; dành làm nhà thờ chung 176m2 tương đương 35.200.000 đồng; thanh toán công sức cho vợ chồng bà H tương đương 339m2 trị giá 67.800.000 đồng
- Còn lại 630m2, trị giá 126.000.000 đồng chia đều cho 7 suất thừa kế, mỗi suất là 18.000.000 đồng tương đương 90m2 đất Như vậy, bà H và hai
Trang 11người con sẽ được nhận 429m2 (trong đó công sức của vợ chồng bà H là 339m2 + kỷ phần của ông Th 90m2), kỷ phần của ông C là 165m2, quá trình giải quyết vụ án ông C đề nghị kỷ phần của ông giao cho ba mẹ con bà H sử dụng Tại phiên tòa bà H đồng ý nhận kỷ phần của ông C nhường lại là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, cần chấp nhận để giao kỷ phần của ông C cho ba mẹ con bà H Ông Đ, ông Ch, ông H, bà Ng, bà Gi mỗi người được nhận kỷ phần thừa kế là 90m2, trị giá 18.000.000 đồng
o Thứ tư, tài sản của cụ D là thửa đất số 74, tờ bản đồ số 16 tại xóm V,
xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An, theo bản đồ địa chính có ký hiệu là ONT Hội đồng định giá xác định toàn bộ là đất ở Án sơ thẩm chia thừa kế là quyền sử dụng đất, nhưng không ghi loại đất nào, trong khi có rất nhiều loại đất với tên gọi, chức năng, ký tự khác nhau, điều này là chưa phù hợp Nhóm em cho rằng, cần yêu cầu Tòa án phải tìm hiểu và ghi rõ loại đất, đây là một thiếu sót Chúng em đã sửa lại như sau:
“Giao cho bà Nguyễn Thị Tuyết Ng được quyền sử dụng diện tích đất là 90m2 (ký hiệu ONT/74D), tại thửa đất số 74, tờ bản đồ số 16, vị trí: xóm V,
xã Vh, huyện Y, tỉnh Nghệ An; có giá trị 18.000.000 đồng” Trong đó sử
dụng kí hiệu ONT vì thuộc loại đất ở tại nông thôn thuộc nhóm đất phi nông
nghiệp
4 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành
o Phần đánh giá: Nhắc đến BLDS năm 2015 là đại diện cho sự tiến bộ,
hoàn thiện của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và hệ thống pháp luật Dân sự nói riêng Chúng em, nhận thấy BLDS năm 2015 là một “giá trị”, tiến
bộ hơn về cả nội dung, hình thức so với bộ luật dân sự trước Song, BLDS
2015 vẫn không tránh khỏi một số hạn chế nhất định, với cương vị là những sinh viên luật, chúng em đã thật nghiêm túc khi tìm hiểu về vấn đề này
o Kiến nghị hoàn thiện luật hiện hành:
Trước hết điều 621 BLDS năm 2015 [4] còn có một số thiếu sót, cần
hoàn thiện hơn nữa