Chương 1 NHẬP MÔN KINH TẾ HỌC VỀ CHI PHÍ GIAO DỊCH 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1.1 Thể chế kinh tế Tham khảo bài giảng Phân tích chính sách KTXH-Phạm Văn Dũng - Thể chế kinh tế có thể
Trang 1Chương 1 NHẬP MÔN KINH TẾ HỌC VỀ CHI PHÍ GIAO DỊCH
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Thể chế kinh tế (Tham khảo bài giảng Phân tích chính sách KTXH-Phạm Văn Dũng)
- Thể chế kinh tế có thể được coi là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại song trùng với các bộ phận khác như: thể chế chính trị, thể chế gia đình, thể chế giáo dục, tôn giáo…
- Lưu Hư Duyệt (Trung Quốc) đã viết “Thế chế kinh tế là hình thức tố chức cụ thể và chê
độ quản lý kinh tế của một chế độ kinh tế - xã hội hoặc một quan hệ sản xuất”
- Từ điển Kinh tế thị trường do Viện Nghiên cứu và Phổ biến Tri thức Bách khoa biên tập:
“thể chế kinh tế là hình thức cụ thể của phương thức, phương pháp, quy tắc của việc tổ chức vận hành kinh tế trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”
o Hệ thống các chủ thể thực hiện các hoạt động kinh tế
o Các cơ chế, phương pháp, thủ tục thực hiện các quy định và vận hành bộ máy đó
Các yếu tố cơ bản cấu thành thể chế kinh tế
Các quy tắc tạo thành “luật chơi” kinh tế -Khung luật pháp về kinh tế
-Các quy tắc chuân mực xã hội về/hoặc liên quan đến kinh tế, kể cả các quy tắt hay chuẩn mực phi chính thức
Trang 2Các chủ thể tham gia “trò chơi” kinh tế -Các cơ quan/tổ chức nhà nước về kinh tế
-Các doanh nghiệp Các tổ chức đoàn thể, hội, cộng đồng và người dân
Cơ chế thực thi “luật chơi kinh tế” -Cơ chế tự do cạnh tranh thị trường
-Cơ chế phân cấp quản lý kinh tế -Cơ chế phối hợp
-Cơ chế tham gia, giám sát và giải trình
- Nhiều ý kiến cũng cho rằng thể chế kinh tế vừa là tiền đề cơ bản của vận hành nền kinh tế vừa là điều kiện quan trọng của tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế
- Thể chế kinh tế liên quan tới mọi công đoạn của các hoạt động kinh tế, từ việc phân bổ nguồn lực kinh tế cho tới quá trình phân bổ đầu ra của các hoạt động kinh tế
- Thể chế kinh tế là hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế
- * Thể chế kinh tế bao gồm các yếu tổ chủ yếu:
- Các đạo luật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về kinh tế gắn với các chế tài xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh kinh doanh, cơ chế vận hành nền kinh tế
- Trong Báo cáo Phát triển của Ngân hàng Thế giới (2002), thể chế kinh tế có thể được hình thành bởi nhà nước, các tổ chức kinh tế (cộng đồng hay tư nhân) và thậm chí còn bởi các tổ chức quốc tế (đối với các quan hệ kinh tế mang tính xuyên quốc gia) trong đó nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nên thể chế kinh tế
1.1.2 Giao dịch kinh tế
Theo marketing: Nếu 2 bên cam kết trao đổi đã đàm phán và đạt được một thỏa thuận thì ta nói mộtgiao dịch đã diễn ra
Trang 3Đặc tính của giao dịch (TDThanh- http://www.saga.vn/chi_phi_giao_dich/20395.saga)
Hiệu quả của giao dịch có thể bị ảnh hưởng bởi bản chất của giao dịch.Các giao dịch kinh doanh khác nhau ở đặc tính và trong từng trường hợp cụ thể
- Bất định hoặc/và phức tạp: Tính bất định và phức tạp tồn tại trong hầu hết các giao dịch
kinh doanh, phạm vi và quy mô các yếu tố này tồn tại có thể khác nhau tùy vào từng giao dịch cũng như hậu quả của nó Chúng ta khó có thể biết chính xác kết quả cũng như khả năng xảy ra của các biến cố Đôi khi kết quả lại liên quan đến nhiều khía cạnh, con người
và sự kiện khác nhau và rất khó đánh giá
- Tần suất xuất hiện giao dịch: Một số giao dịch lặp đi lặp lại, một số khác lại chỉ xuất
hiện có một lần Đặc tính này ảnh hưởng đến hành vi của đối tác trong những cam kết lâu dài Điều này liên quan đến nhu cầu giữ chữ tín trong kinh doanh Cơm tù, các cửa hàng chặt chém trong các khu du lịch là những biểu hiện cụ thể của đặc điểm này
- Số lượng giao dịch: Số thành viên tham gia trong thị trường có thể khác nhau đáng kể
Số đông sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh Nhưng nếu số thành viên ít, tình
huốngđộc quyền cho phép những hành vi cơ hội xảy ra dẫn đến chi phí giao dịch lớn Có những giao dịch chúng ta chỉ mua 1 lần và phải gắn bó với người bán trong một thời gian dài Có những nhà kinh doanh tận dụng đặc tính này để gây ra nhiều áp lực khó khăn cho người mua
- Tính chuyên dụng của tài sản: Khi giao dịch được hỗ trợ bởi những đầu tư chuyên biệt
hay đóng góp cho phát triển những kiến thức hay đào tạo chuyên biệt, tính chuyên dụng của tài sản hình thành Đầu tư chuyên biệt có nghĩa là đầu tư có phương án thay thế có giá trị thấp, hay chi phí cơ hội thấp Tương tự, bí quyết chuyên biệt hay đào tạo chuyên biệt rất cụ thể và khó có thể truyền cho người khác dễ dàng Có ba loại tài sản chuyên dụng: tài sản con người chuyên dụng, tài sản vật chất chuyên dụng và tài sản vị trí chuyên dụng Những tài sản chuyên dụng này gây ra các tình huống buộc (log in) và làm khó (hold up) cho các giao dịch Trong thực tế, có một số tài sản có khả năng chuyên biệt trong từng giao dịch cụ thể Ví dụ, để in sách cần tới nhà máy in, chế tạo nữ trang cần thợ lành nghề, vv Các tài sản này buộc người sử dụng tài sản cần có những thỏa hiệp phù hợp cho việc sử dụng tài nguyên Đối khi người sử dụng tài sản có thể bị buộc vào tài sản
Trang 4chuyên biệt, có lúc chính tài sản riêng biệt này làm khó người sử dụng tài sản Tất cả các hành vi này gây ra chi phí giao dịch
1.1.3 Chi phí giao dịch
Chi phí giao dịch theo Wolfgang Kasper & Mảned E.Streit trong Kinh tế học thể chế Trật tự xã hội và chính sách công thì: “Chi phí giao dịch: Là những chi phí mà người ta phải bỏ ra khi trao đổi các quyền tài sản qua các giao dịch thị trường (dựa trên hợp đồng) Đầu tiên, chi phí giao dịch bao gồm các chi phí tìm kiếm thông tin (tìm kiếm đủ số đối tác trao đổi, địa chỉ, mẫu mã sản phẩm, chất lượng, độ tin cậy cùng vô số khía cạnh liên quan khác trước khi đưa ra quyết định), cũng như các chi phí để đàm phán, ký kết và giám sát hợp đồng, và chi phí xử lý những hành vi
vi phạm hợp đồng khả dĩ Chi phí tìm kiếm thông tin và chuẩn bị hợp đồng là “chi phí chìm” (sunk cost) trước khi đi đến các quyết định giao dịch”
Từ những đặc điểm trên ta có thể tóm lại như sau:
“Chi phí giao dịch bao gồm thời gian và chi phí đàm phán, soạn thảo, và thực thi các giao dịch hay hợp đồng Chi phí này gia tăng khi đối tác trong giao dịch hành động cơ hội, nghĩa là thu lợi
cá nhân từ chi phí của người khác Vì vậy chi phí giao dịch sẽ bao gồm hậu quả của những hành
vi cơ hội, sự yếu kém của người ra quyết định cũng như là chi phí ngăn ngừa hành vi này” - http://www.saga.vn/chi_phi_giao_dich/20395.saga
Theo Oliver E Williamson thì chi phí giao dịch được chia ra làm 2 loại là: chi phí giao dịch tiền suy xảy ra trước khi kí kết hợp đồng và chi phí giao dịch hậu suy xảy ra sau khi kí kết hợp đồng Chi phí giao dịch tiền suy là là các chi phí soạn thảo, thương lượng, và bảo vệ hợp đồng
Chi phí giao dịch hậu suy gồm một vài hình thức
- Các chi phí về sự thích nghi sai lầm phát sinh khi các giao dịch dịch chuyển dần khỏi tình trạng phù hợp
- Các chi phí mặc cả phát sinh khi thực hiện các nỗ lực chỉnh sửa các sai lầm phát sinh
- Các chi phí thành lập và điều hành gắn liền với các cấu trúc quản trị mà các vụ tranh chấp được đưa ra để giải quyết (thường không phải một tòa án, mà như một Ban một Nhóm đặc nhiệm được thành lập để giải quyết vấn đề)
- Các chi phí về cam kết (bonding costs) là chi phí thực hiện cam kết chắc chắn
Trang 51.2 Đối tượng nghiên cứu của Kinh tế học về chi phí giao dịch (TCE)
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp tiếp cận
Đối tượng nghiên cứu của Kinh tế học về chi phí giao dịch là các chi phi thuwcj hieenj Hợp đồng kinh tế, Nguồn gốc và bản chất các chi phí giao dịch trong thỏa ước kinh tế, cấu trúc hành vi của các chủ thể giao dịch là các hãng và vai trò của nhà nước
1.2.2 Các câu hỏi nghiên cứu then chốt của TCE
1.3 Các phương pháp tiếp cận môn học TCE
(Học liệu 1: KTHCPGD chương trình Fulbright, tr.3)
So sánh với các phương pháp khác về nghiên cứu tổ chức kinh tế, kinh tế học về chi phí giao dịch
- Có tính phân tích vi mô hơn
- Tự ý thức hơn về các giả định về hành vi của mình
- Giới thiệu và phát triển tầm quan trọng về kinh tế của tính chuyên dụng hay đặc thù của tài sản (asset specificity)
- Dựa nhiều hơn vào phân tích so sánh về thể chế
- Xem hãng (công ty) kinh doanh như là một cấu trúc quản trị chứ không phải là một hàm sản xuất đơn thuần
- Gắn tầm quan trọng lớn hơn cho các thể chế hậu suy (expost) của hợp đồng, nhấn mạnh
đặc biệt đến các trật tự (so với trật tự theo tòa án)
Trang 61.3.5 Tiếp cận phi thị trường
Gắn tầm quan trọng lớn hơn cho các thể chế hậu suy (expost) của hợp đồng, nhấn mạnh đặc biệt
đến các trật tự (so với trật tự theo tòa án)
1.4 TCE trong khuôn khổ của Kinh tế học thể chế
1.4.1 Lịch sử phát triển các lý thuyết về thể chế kinh tế
Khác với các lý thuyết gia kinh tế hiện đại, các nhà khoa học xã hội cổ điển, đặc biệt là các nhà đạo đức học và kinh tế học Scotland thế kỷ 18 như David Hume, Adam Ferguson và Adam
Smith đã nhận thức được vai trò then chốt của các thể chế Cơ chế ‘Bàn tay vô hình’ nổi tiếng của Adam Smith – mô tả cách thức mà những cá nhân mưu cầu tư lợi được phối hợp với nhau thông qua hoạt động cạnh tranh trên thị trường – không thể hiểu khác hơn là một hệ thống thể chế giúp tạo lập trật tự Adam Ferguson nhấn mạnh quá trình tiến hoá của các thể chế theo thời gian, còn David Hume thì lại khám phá nền tảng thể chế của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa cũng như cách thức mà những thể chế này đi vào đời sống trí tuệ, văn hoá và chính trị của một quốc gia Cả hai khía cạnh đó đều có tầm quan trọng to lớn đối với kinh tế học thể chế đương đại Thậm chí, chúng ta cũng có thể ngược dòng 2.500 năm lịch sử mà khẳng định rằng triết gia kiêm chính khách người Hi Lạp Solon và Khổng Tử, một người Trung Quốc gần cùng thời với ông, là những triết gia đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của các quy tắc đối với hoạt động tương tác của con người trong việc thúc đẩy hoà bình và thịnh vượng cho cộng đồng Trường phái kinh tế học Áo Gần đây hơn, kinh tế học thể chế nhận được cú hích mạnh mẽ từ trường phái kinh tế học Áo, đặc biệt là Carl Menger và Ludwig von Mises, cũng như từ các nhà kinh tế học trường phái Áo mới như Ludwig Lachmann, Friedrich von Hayek, Murray
Rothbard và Israel Kirzner, và các nhà kinh tế học trường phái Chicago, như George Stigler và Milton Friedman
Trang 71.4.2 Sự hình thành các lý thuyết về TCE (Tham khảo: The history of transaction cost
economics and its recent developments, ŁUKASZ HARDT, University of Warsaw Polish Academy of Sciences)
Môn TCE đã được hình thành dần qua nhiều thế kỷ.Ý tưởng sơ cấp nhất về nó là chi phí vận chuyển đề cập trong Chính trị của Aristotle và Của cải của các dân tộc của A.Smith Khái niệm
về ma sát của Grundsatze Volkswirtchaftslehre nói về những khó khăn trong quá trình hình thành thông tin giá cả Đầu thế kỉ XX, các nhà kinh tế đã đặt ra câu hỏi tại sao mọi người lại giữ tiền mặt chứ không phải là những tài sản có lợi nhuận? Jonh Hicks là người đầu tiên không đồng
ý với lời giải thích ma sát theo cách chung thông thường, mà cho rằng: “Loại rõ ràng nhất và quan trọng nhất của ma sát chính là chi phí chuyển giao tài sản từ dạng này sang dạng khác” (Hicks 1935,tr6) Sau đó, vào năm 1940, Tibor Scitosky giới thiệu thuật ngữ “chi phí giao dịch” vào vốn từ vựng kinh tế (Hardt 2006) Năm 1937, Ronald Coase xuất bản bài báo của mình “Bản chất của các công ty”, trong đó, ông cho rằng sự tồn tại của công ty là nhằm giảm chi phí nhờ sử dụng các cơ chế giá cả Những năm 1970 nó mới được tiếp tục với sự nghiên cứu của
Williamson Sự xuất hiện đầu tiên của thuật ngữ “Kinh tế học về chi phí giao dịch” trong bài viết của Williamson năm 1979 với tiêu đề “Kinh tế học chi phí giao dịch: Sự quản trị các quan hệ hợp đồng” trên tạp chí Luật và Kinh tế
Chương 2 GIAO DỊCH KINH TẾ 2.1 Bản chất của giao dịch kinh tế
2.1.1 Di chuyển nguồn lực
Sự di chuyển nguồn lực là tất yếu để giải quyết các vấn đề khan hiếm nguồn lực, sự chênh lệch
về mức độ dồi dào và sẵn có của các nguồn lực giữa các địa phương, các thành phần kinh tế khác nhau.Để quá trình di chuyển nguồn lực được thực hiện phải hình thành nên các giao dịch kinh tế
- một sự trao đổi qua lại nhằm thỏa mãn được nguồn lực và các lợi ích kinh tế của đôi bên
Trang 82.1.2 Phân bổ nguồn lực( Tham khảo bài giảng Mô hình kinh tế thị trường ở VN – PGS.TS Phạm Văn Dũng)
Trong nền kinh tế tự nhiên, nhìn chung người sở hữu các nguồn lực thường cũng là người sử dụng các nguồn lực đó Như nông dân sử dụng trâu bò, ruộng đất…nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong gia đình mình.Như thế việc phân bổ lại các nguồn lực rất ít khi được thực hiện và việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực diễn ra rất chậm chạp
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thì việc phân bổ nguồn lực được thực hiện theo cơ chế hành chính, mệnh lệnh, nhằm đạt được các mục tiêu mà nhà nước đề ra
Trong nền kinh tế thị trường, việc phân bổ nguồn lực được thực hiện theo cơ chế thị trường, các quy luật thị trường như cạnh tranh, cung-cầu sẽ phân bổ nguồn lực Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế thị trường Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực và địa điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và thu được hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận cao hơn
2.1.3 Tối ưu hóa nguồn lực
Tối ưu hóa nguồn lực là điều doanh nghiệp nào cũng mong muốn, nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế, tiết kiệm chi phí Điều này thực hiện thông qua việc trao đổi, phân bổ lại các nguồn lực, thêm mới hoặc loại bỏ nguồn lực không hiệu quả
2.2 Quá trình thiết lập, kiểm soát và thực thi các giao dịch(Học liệu 1)
2.2.1 Trước giao dịch kinh tế
Các chi phí giao dịch phát sinh trước khi xảy ra kí kết hợp đồng gọi là các chi phí giao dịch tiền suy (ex ante) Đây là các chi phí soạn thảo, thương lượng, và bảo vệ một hợp đồng Công việc
này được thực hiện hết sức cẩn thận, một văn kiện phức tạp sẽ được soạn thảo, trong đó, dự kiến nhiều tình huống bất ngờ (tình huống bất trắc) được công nhận và gồm cả những sự điều chỉnh nếu các tình huống đó xảy ra sẽ được quy định rõ và được thỏa thuận trước Nếu văn bản này không hoàn chỉnh, những khoảng trống tồn tại sẽ được các bên lấp đầy khi các tình huống bất ngờ phát sinh Thay vì phải dự liệu hết các tình huống có thể xảy ra, việc này hết sức khó khăn,
Trang 9người ta có thể chỉ nói tới những tình huống thực sự khó khăn và những cách dàn xếp khi nó xảy
ra
Các biện pháp bảo vệ có thể dưới vài hình thức, hiển nhiên nhất là quyền sở hữu chung Thay vì những người mua bán độc lập sẽ trải qua những tình huống khó khăn về thiết lập thì các bên có thể thay thế thị trường bằng tổ chức nội bộ Cách này vẫn có những khó khăn riêng Các biện pháp bảo vệ giữa các hãng thuộc loại tiền suy có thể được xem như các báo hiệu về những cam kết đáng tin cậy, và phục hồi được tính toàn vẹn cho các giao dịch
2.2.2 Trong và hậu giao dịch kinh tế
Các chi phí hậu suy (ex post) của việc thiết lập hợp đồng có vài hình thức Các hình thức này bao
gồm:
(1) Các chi phí về sự thích nghi sai lầm phát sinh khi các giao dịch chuyển dịch dần dần ra khỏi tình trạng lien kết phù hợp so với các đường biểu diễn mà Masahiko Aoki gọi là “đường hợp đồng dịch chuyển”
(2) Các chi phí mặc cả phát sinh khi thực hiện các nỗ lực song phương để chỉnh sửa những tình trạng liên kết sai lầm xảy ra sau khi ký kết hợp đồng
(3) Các chi phí thành lập và điều hành gắn liền với các cấu trúc quản trị (thường không phải là các tòa án) mà các vụ tranh chấp đưa ra để giải quyết VD: thành lập ban giải quyết một tranh chấp, xử lí một khủng hoảng cụ thể
(4) Chi phí về cam kết (bonding costs) là chi phí thực hiện các cam kết chắc chắn
Yếu tố gây phức tạp trong tất cả quá trình này là các chi phí tiền suy và chi phí hậu suy của hợp
đồng phụ thuộc lẫn nhau, chúng phải được giải quyết đồng thời chứ không phải theo trình tự Ngoài ra, cả 2 loại chi phí này đều khó định lượng Khó khăn trong xác định chi phí này được giảm nhẹ khi các chi phí giao dịch luôn được đánh giá theo cách thức so sánh về thể chế, trong
đó một phương thức thiết lập hợp đồng được so sánh với một phương thức thiết lập hợp đồng khác
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giao dịch kinh tế
2.3.1 Các nhân tố thị trường
Trang 10Thị trường càng phát triển thì số lượng các giao dịch kinh tế thực hiện càng lớn, và các giao dịch này cũng được thực hiện nhanh chóng và dễ dàng hơn
2.3.2 Các nhân tố từ phía Nhà nước
- Tạo môi trường
- Điều chỉnh, khắc phục các khuyết tật của thị trường
Kết luận
• Trong quá trình cạnh tranh nhằm phân bổ các nguồn lực sẽ hình thành nên các giao dịch kinh tế Chi phí giao dịch phát sinh từ trước, trong và sau các giao dịch kinh tế, đây là một lực ma sát, tuy nhiên lại tồn tại tất yếu, có tác dụng đảm bảo cho các giao dịch được thực hiện theo thỏa thuận
Chương 3 NGUỒN GỐC CỦA CÁC CHI PHÍ GIAO DỊCH 3.1 Thất bại của thị trường (Tham khảo Bài giảng Mô hình Kinh tế thị trường VN – Phạm Văn
Dũng; Học liệu 1; Bài giảng Phương pháp nghiên cứu cho Phân tích chính sách “Cơ sở lý thuyết của phân tích chính sách từ góc độ kinh tế học vi mô” – Vũ Thành Tự Anh)
3.1.1 Độc quyền
Trang 11Do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của một số ngành độc quyền sẽ xuất hiện ngay cả khi kinh tế thị trường còn ở trình độ thấp Đây gọi là độc quyền tự nhiên VD: ngành điện lực, đường
sắt…mang tính độc quyền tự nhiên Các ngành có rào cản gia nhập ngành càng lớn nguy cơ xuất hiện độc quyền càng lớn.Sau đó, chính việc mở rộng quyền lực độc quyền của những hãng lớn
đã tồn tại lâu dài và có tiếng tăm so với những đối thủ cạnh tranh thực sự hay tiềm năng
Nguồn gốc độc quyền: (Bài giảng Phương pháp nghiên cứu cho Phân tích chính sách “Cơ sở lý thuyết của phân tích chính sách từ góc độ kinh tế học vi mô” – Vũ Thành Tự Anh)
- Quyền sở hữu trí tuệ
- Nhà nước cho phép (hợp thức hóa độc quyền tự nhiên hay phục vụ mục tiêu của nhà nước)
Trang 123.1.2 Ngoại ứng tiêu cực
Hiện tượng ngoại ứng thường xuất hiện trong quá trình cung ứng hàng hóa, dịch vụ Một ngoại ứng tồn tại khi việc sản xuất hoặc tiêu dung một mặt hàng ảnh hưởng đến các doanh nghiệp hoặc người tiêu dung không liên quan gì đến việc sản xuất hoặc tiêu dùng mặt hàng đó, khi những ảnh
Trang 13hưởng tràn lan ra ngoài đó không được phản ánh đầy đủ trong giá cả thị trường Hiện tượng ngoại ứng không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng, mà còn gây mất không lợi ích xã hội vì các doanh nghiệp không cung ứng hàng hóa, dịch vụ ở sản lượng tối
ưu vì nhà sản xuất hay người tiêu dùng chỉ quan tâm tới chi phí hay lợi ích cá nhân mà không quan tâm lợi ích hay chi phí xã hội Ngoại ứng dù là tích cực hay tiêu cực đều dẫn đến tổn thất xã hội vô ích Hệ quả của ngoại ứng tiêu cực là sản xuất hoặc tiêu dùng quá mức Hệ quả của ngoại ứng tích cực là sản xuất hoặc tiêu dùng bất cập
3.1.3 Hàng hóa công cộng
Là những gì mà khi người này đã tiêu dùng thì người khác vẫn tiêu dùng được Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp rất cần các hàng hóa công cộng nhưng doanh nghiệp lại không đầu tư để cung ứng những hàng hóa đó Để khắc phục khuyết tật này đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước, nhà nước phải đầu tư để cung ứng những hàng hóa đó
Hàng hóa công là thất bại của thị trường: Hàng hóa công thường có lợi ích lớn hơn chi phí tạo ra
Do vậy, về mặt xã hội đó là hang hóa cần thiết được cung cấp Nhưng với 2 thuộc tính của hang hóa công đã dẫn đến tình trạng người ăn theo Kết quả là tư nhân không chịu đầu tư, hang hóa công không tồn tại
3.1.5 Công bằng xã hội, tính bền vững và mục tiêu phát triển con người
Tình trạng phân hóa giàu nghèo, sự nảy sinh của các tệ nạn xã hội, tình trạng khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên quá mức dẫn đến cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực đến các hoạt động kinh tế và đời sống dân cư
Trang 143.2 Thất bại của nhà nước
Thất bại (kinh tế) của nhà nước xảy ra khi sự can thiệp hay không can thiệp của nhà nước dẫn tới điểm cân bằng kém hiệu quả hơn so với hiện trạng) Thất bại này có thể dẫn tới phân bổ nguồn lực và hang hóa kém hiệu quả hơn và làm thất bại thị trường càng trở nên nghiêm trọng hơn hoặc
sự không can thiệp của nhà nước khiến thất bại thị trường hay tình trạng mất công bằng không được sửa chữa
3.2.1 Lợi ích nhóm
- Phân bổ nguồn lực một cách vụ lợi do: củng cố sự ủng hộ chính trị và “chu kì chính trị”
- Nhóm đặc quyền đặc lợi ảnh hưởng đến các chính sách tái phân phối Thay vì tái phân phối bắt nguồn từ người giàu rồi chảy sang những người nghèo xứng đáng, nhưng thực tế những người năm quyền lực chính trị hay có tổ chức đủ tốt vẫn sử dụng quyền lực của mình khiến cho chính phủ tái phân bổ tài sản từ các cá nhân và các nhóm có ít hay không có quyền lực sang cho mình 3.2.2 Tăng trưởng và ổn định
3.2.3 Phản ứng chính sách (Tham khảo Sửa chữa thất bại thị trường và thất bại nhà nước
Fulbright)
Trong tình trạng thiếu thông tin thường khiến cho việc ra một chính sách hoàn hảo là bất khả thi, nhà nước thường điều chỉnh bẳng cách quan sát các phản ứng từ đối tượng chính sách sau khi chính sách ban hành Tuy nhiên, các thí nghiệm sửa sai này có những khuyết điểm là bấp bênh, hành vi cơ hội của nhà sản xuất ngoại ứng và chi phí chính trị, phát sinh các chi phí theo dõi và chi phí quản trị rất lớn
3.2.4 Đô trễ và tính bất định của chính sách can thiệp (Tham khảo Mô hình độ trễ Decide trong chính sách kinh tế vĩ mô – Trần Ngọc Sơn)
- Độ trễ về dữ liệu (Data lags): Là độ trễ thường xảy ra trong việc thu thập dữ liệu liên quan đến tình hình kinh tế
Trang 15- Độ trễ về đánh giá (Evaluation lags): Là độ trễ từ khi có thông tin đến khi thông tin được đánh giá và toàn cảnh về nền kinh tế được mô tả một cách rõ ràng
- Độ trễ về sự đồng thuận (Consensus lags): Là độ trễ từ khi chính sách được xây dựng cho đến khi nó được các cơ quan quyền lực cao nhất đồng thuận
- Độ trễ về thực hiện (Implementation lags): Là độ trễ từ khi chính sách được thông qua đến khi
nó được thực hiện.Độ trễ này phụ thuộc nhiều vào tính chất của chính sách
- Độ trễ về sự phụ thuộc (Dependence lags): Là độ trễ mô tả những yếu tố ban đầu tập làm quen với những nguyên tắc mới của chính sách Nói chung ở giai đoạn này các chính sách này đang dè dặt phụ thuộc vào yếu tố nhanh hay chậm của ý thức cộng đồng trong việc thực hiện, vì đã quen với những ràng
buộc trước đây Đây chính là bước đệm để tiến đến sự nhất trí cao trong thực hiện chính sách mới
- Độ trễ về sự ảnh hưởng (Effectiveness lags)
Là độ trễ từ khi chính sách được chuyển qua thực hiện một cách tích cực và đồng bộ đến khi nó
có ảnh hưởng vào nền kinh tế.Độ trễ này cũng phụ thuộc vào tính chất của chính sách, chính sách tiền tệ có độ trễ lâu hơn chính sách tài khóa
3.3 Quyền sở hữu và sự hình thành chi phí giao dịch
3.3.1 Quyền sở hữu và những vấn đề bất cập trong giao dịch
Theo Bộ Luật Dân sư, Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định hoạt đối với tài sản.Kinh tế học thể chế phân biệt quyền sở hữu và quyền tài sản, ở đây quyền tài sản chính là quyền sử dụng và định đoạt tài sản đó.Cụ thể quyền sở hữu gồm ba phần: quyền sử dụng tài sản
đó, quyền chiếm giữ làm của riêng thu nhập từ tài sản đó và quyền thay đổi hình thức và/hoặc nội dung của một tài sản
Đặt ra câu hỏi: liệu sự xác định sai lầm quyền sở hữu tài sản có phải là nguyên nhân của sự phân
bổ sai lầm nguồn lực hay không