1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tập bài giảng Nhập môn kinh tế học

203 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập bài giảng Nhập môn kinh tế học được xây dựng với bố cục gồm 3 chương, cung cấp cho người học những kiến thức đại cương về kinh tế, kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô. Kết thúc mỗi chương có phần câu hỏi ôn tập, thảo luận và bài tập. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

i

LỜI NÓI ĐẦU

Tập bài giảng Nhập môn Kinh tế học được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu phục

vụ công tác dạy và học học phần tự chọn Nhập môn Kinh tế học cho đối tượng là sinh viên đại học công nghệ của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định

Tập bài giảng được xây dựng với bố cục gồm 3 chương, được trình bày trên 200 trang đánh máy, kết thúc mỗi chương có phần câu hỏi ôn tập, thảo luận và bài tập Cách tiếp cận khi xây dựng tập bài giảng Nhập môn Kinh tế học theo hướng khái quát hóa nội dung, nhưng giảm thiểu tính hàn lâm trong trình bày, diễn đạt để phù hợp với đối tượng chính là sinh viên đại học công nghệ của Trường Đại học SPKT Nam Định

Trong quá trình xây dựng tập bài giảng, nhóm tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu trong và ngoài nước; đặc biệt có sử dụng trích dẫn hoặc phát triển ý tưởng, nội dung của nhiều tác giả (nêu trong phần danh mục tài liệu tham khảo) Chúng tôi xin được sử dụng tài liệu của quý vị với vai trò là nền tảng cơ bản xây dựng tập bài giảng này nhằm góp phần phát triển những lý thuyết về Kinh tế học đến gần với người đọc, người học hơn, tăng cường tính phổ biến về lý thuyết Kinh tế học trong nền kinh tế thị trường Cuối cùng, nhóm tác giả chúng tôi xin gửi những lời cám ơn trân trọng nhất tới các nhà nghiên cứu, các học giả, bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu, những lời góp ý quý giá để chúng tôi hoàn thành tập bài giảng này

NHÓM TÁC GIẢ

Trang 2

ii

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ KINH TẾ HỌC 1

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KINH TẾ HỌC 1

1.1.1 Sự khan hiếm và lựa chọn 1

1.1.1.1 Sự khan hiếm 1

1.1.1.2 Lý thuyết lựa chọn 1

1.1.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) 2

1.2 CÁC KHÁI NIỆM VỀ KINH TẾ HỌC 4

1.2.1 Kinh tế học 4

1.2.2 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô 4

1.2.3 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc 4

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỔ CHỨC KINH TẾ 5

1.3.1 Ba vấn đề cơ bản của một nền kinh tế 5

1.3.2 Các chủ thể ra quyết định lựa chọn và cấu trúc của nền kinh tế 6

1.3.3 Mô hình nền kinh tế 8

1.3.3.1 Mô hình nền kinh tế tập quán truyền thống 8

1.3.3.2 Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung (kinh tế chỉ huy, mệnh lệnh) 8

1.3.3.3 Mô hình kinh tế thị trường 9

1.3.3.4 Mô hình kinh tế hỗn hợp 9

1.3.4 Cơ chế kinh tế 10

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 12

CHƯƠNG 2 KINH TẾ VI MÔ 13

2.1 CẦU - CUNG 13

2.1.1 Cầu hàng hoá dịch vụ 13

2.1.1.1 Khái niệm cầu 13

2.1.1.2 Lượng cầu 13

2.1.1.3 Biểu cầu 14

2.1.1.4 Đường cầu 14

2.1.1.5 Luật cầu 17

2.1.1.6 Hàm cầu và các yếu tố ảnh hưởng 17

2.1.1.7 Cầu cá nhân và cầu thị trường 19

2.1.1.8 Sự di chuyển và dịch chuyển của đường cầu 21

2.1.2 Cung hàng hoá dịch vụ 22

2.1.2.1 Khái niệm cung 22

2.1.2.2 Lượng cung 23

Trang 3

iii

2.1.2.3 Biểu cung 23

2.1.2.4 Đường cung 24

2.1.2.5 Luật cung 27

2.1.2.6 Hàm cung tổng quát và các yếu tố ảnh hưởng 27

2.1.2.7 Cung cá nhân và cung thị trường 28

2.1.2.8 Sự di chuyển và dịch chuyển của đường cung 29

2.1.3 Cân bằng cung cầu trên thị trường 31

2.1.3.1 Trạng thái cân bằng cung cầu 31

2.1.3.2 Trạng thái dư thừa và thiếu hụt 32

2.1.3.3 Trạng thái cân bằng mới 33

2.1.3.4 Vai trò của Nhà nước trong việc kiểm soát giá cả thị trường 35

2.1.4 Độ co giãn cầu – cung 38

2.1.4.1 Độ co giãn của cầu 38

2.1.4.2 Độ co giãn của cung 41

2.2 LÝ THUYẾT VỀ TIÊU DÙNG 42

2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn của người tiêu dùng 42

2.2.2 Lợi ích và quy luật lợi ích cận biên giảm dần 43

2.2.2.1 Lợi ích 43

2.2.2.2 Quy luật lợi ích cận biên giảm dần 43

2.2.3.1 Đường ngân sách 44

2.2.3.2 Đường bàng quan 45

2.2.4 Sự lựa chọn của người tiêu dùng 46

2.3 LÝ THUYẾT VỀ SẢN XUẤT VÀ HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP 48

2.3.1 Lý thuyết về sản xuất 48

2.3.1.1 Các yếu tố đầu vào, đầu ra và hàm sản xuất 48

2.3.1.2 Hàm sản xuất với 1 đầu vào biến đổi 50

2.3.2 Chi phí, doanh thu và lợi nhuận 55

2.3.2.1 Chi phí 55

2.3.2.2 Doanh thu 60

2.3.2.3 Lợi nhuận 61

2.4 QUYẾT ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP VỀ SẢN LƯỢNG SẢN XUẤT 62

2.4.1 Trong điều kiện tối đa hoá lợi nhuận 62

2.4.2 Trong điều kiện tối đa hoá doanh thu 63

2.5 THỊ TRƯỜNG VÀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG 63

2.5.1 Thị trường 63

2.5.1.1 Khái niệm 63

2.5.1.2 Vai trò 64

Trang 4

iv

2.5.1.3 Chức năng 64

2.5.1.4 Phân loại 65

2.5.2 Cấu trúc thị trường 66

2.5.2.1 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo 66

2.5.2.2 Thị trường độc quyền 73

2.5.2.3 Thị trường cạnh tranh độc quyền 80

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2 82

BÀI TẬP CHƯƠNG 2 84

CHƯƠNG 3 KINH TẾ VĨ MÔ 90

3.1 ĐO LƯỜNG SẢN LƯỢNG QUỐC GIA 90

3.1.1 Các chỉ tiêu để đo lường sản lượng quốc gia 90

3.1.2 Tổng quan về hai chỉ tiêu GDP và GNP 91

3.1.2.1 Khái niệm GDP và GNP 91

3.1.2.2 Mối liên hệ giữa GDP và GNP 93

3.1.2.3 GDP danh nghĩa, GDP thực tế 94

3.1.2.4 Phương pháp xác định GDP 95

3.2 CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 101

3.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng 101

3.2.1.1 Định nghĩa 101

3.2.1.2 Xây dựng chỉ số giá tiêu dùng 101

3.2.1.3 Những vấn đề phát sinh khi đo lường chi phí sinh hoạt 102

3.2.2 Tăng trưởng kinh tế 104

3.3.2.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế 104

3.3.2.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế 104

3.3.2.3 Các nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế 105

3.3 TỔNG CUNG, TỔNG CẦU VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ 109

3.3.1 Tổng cung và tổng cầu 109

3.3.1.1 Tổng cầu của nền kinh 109

3.3.1.2 Tổng cung của nền kinh tế 113

3.3.1.3 Sản lượng và mức giá cân bằng 117

3.3.1.4 Các cú sốc cầu và các cú sốc cung 118

3.3.2 Mô hình xác định sản lượng cân bằng 120

3.3.2.1 Cách tiếp cận thu nhập- chi tiêu 120

3.3.2.2 Mô hình xác định sản lượng trong nền kinh tế giản đơn 126

3.3.2.3 Mô hình xác định sản lượng trong một nền kinh tế đóng có sự tham gia của chính phủ 134

Trang 5

v

3.3.2.4 Mô hình xác định sản lượng trong một nền kinh tế mở 137

3.3.3 Chính sách tài khoá 141

3.3.3.1.Chính sách tài khóa chủ động 142

3.3.3.2.Cơ chế tự ổn định 145

3.3.3.3.Chính sách tài khóa và ngân sách chính phủ 146

3.4 TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 148

3.4.1 Tiền tệ 148

3.4.1.1 Khái niệm tiền 148

3.4.1.2 Chức năng của tiền 148

3.4.1.3 Các loại tiền 150

3.4.1.4 Đo lường khối lượng tiền 151

3.4.2 Hệ thống ngân hàng 152

3.4.2.1 Cơ sở tiền tệ và cung tiền 152

3.4.2.2 Ngân hàng thương mại và quá trình tạo tiền 152

3.4.2.3 Mô hình về cung tiền 154

3.4.2.4 Ngân hàng trung ương và các công cụ điều tiết cung tiền 157

3.4.3 Cầu tiền và cân bằng thị trường tiền tệ 160

3.4.3.1 Cầu tiền 160

3.4.3.2 Cân bằng thị trường tiền tệ 161

3.4.4 Chính sách tiền tệ 162

3.5 THẤT NGHIỆP – LẠM PHÁT 164

3.5.1 Thất nghiệp 164

3.5.1.1 Tác hại của thất nghiệp 164

3.5.1.2 Các khái niệm liên quan đến thất nghiệp 164

3.5.1.3.Tỷ lệ thất nghiệp 166

3.5.1.4 Phân loại thất nghiệp 168

3.5.2 Lạm phát 173

3.5.2.1 Khái niệm 174

3.5.2.2 Phân loại 174

3.5.2.3 Đo lường lạm phát 175

3.5.2.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát 176

3.6 THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 181

3.6.1 Các chính sách thương mại quốc tế 181

3.6.1.1 Khái niệm 181

3.6.1.2 Vai trò của chính sách thương mại quốc tế 181

3.6.1.3 Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế 181

3.6.2 Tỷ giá hối đoái 184

Trang 6

vi

3.6.2.1 Khái niệm 184

3.6.2.2 Thị trường ngoại hối 185

3.6.2.3 Sự thay đổi tỷ giá hối đoái 187

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3 190

BÀI TẬP CHƯƠNG 3 192

TÀI LIỆU THAM KHẢO 197

Trang 7

1

CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ KINH TẾ HỌC

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KINH TẾ HỌC

1.1.1 Sự khan hiếm và lựa chọn

1.1.1.1 Sự khan hiếm

Sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người luôn kéo theo sự gia tăng không ngừng các nhu cầu của nó Để đáp ứng nhu cầu đó, cần phải sản xuất ra của cải vật chất Đến lượt mình, để sản xuất, cần phải có các nguồn lực (còn gọi là các yếu tố sản xuất)

Các yếu tố sản xuất:

- Đất đai (theo nghĩa rộng) bao gồm toàn bộ đất dùng cho canh tác, xây dựng nhà

ở, đường xá và tài nguyên thiên thiên

- Lao động là năng lực của con người được sử dụng theo một mức độ nhất định trong quá trình sản xuất Người ta đo lường lao động bằng thời gian của con người lao động sử dụng trong quá trình sản xuất

- Vốn tư bản là những hàng hóa như máy móc, đường sá, nhà xưởng được sản xuất ra, để rồi lại được sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa khác Vốn tư bản là thước

đo quan trọng, đánh giá trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Tuy nhiên, các nguồn lực trên luôn trong tình trạng khan hiếm (Nếu một thứ được coi là khan hiếm khi ta đặt giá của nó bằng 0 mà không đủ để thoả mãn nhu cầu của của xã hội Ví dụ: không khí sạch)

1.1.1.2 Lý thuyết lựa chọn

Lựa chọn kinh tế là sự quyết định con đường phát triển kinh tế phù hợp với xu hướng phát triển và mục tiêu kinh tế chung, riêng và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên của một tổ chức kinh tế xã hội cụ thể Bản chất của sự lựa chọn chính là tìm ra

câu trả lời cho 3 câu hỏi lớn: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?

a Lý do phải lựa chọn

Có hai lý do dẫn đến phải lựa chọn đó là: Nhu cầu của con người, xã hội (ý muốn chủ quan) thì vô hạn Trong khi đó nguồn tài nguyên (tài nguyên thiên nhiên, vốn, sức lao động, thời gian) lại có hạn, khan hiếm Nguồn lực khan hiếm cũng tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng tác nhân kinh tế

b Mục tiêu của sự lựa chọn

Tuỳ thuộc vào từng tác nhân kinh tế:

- Đối với người sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ thì mục tiêu của sự lựa chọn là tối đa hoá lợi nhuận (mục tiêu cơ bản nhất), hoặc tối đa hoá doanh thu, hoặc

Trang 8

2

tăng vị thế trên thị trường, xã hội

- Đối với người tiêu dùng thì mục tiêu của sự lựa chọn là tối đa hoá lợi ích (độ thoả dụng) trong điều kiện thị trường và nguồn ngân sách hiện có

- Đối với Chính phủ thì mục tiêu lựa chọn là Tối đa hoá phúc lợi công cộng

c Căn cứ để tiến hành lựa chọn

- Dựa vào chi phí cơ hội

- Dựa vào cầu trên thị trường

- Dựa vào lợi thế so sánh của doanh nghiệp

- Dựa vào chiến lược phát triển và ý đồ kinh doanh trong từng giai đoạn

Trong đó, chi phí cơ hội là căn cứ quan trọng nhất

Khái niệm: Chi phí cơ hội là giá trị của cơ hội tốt nhất bị bỏ qua (hay thu nhập bị

hy sinh) khi lựa chọn phương án sản xuất (hoặc tiêu dùng) này mà không lựa chọn phương án sản xuất (hoặc tiêu dùng) khác có lợi hơn Đó là quan hệ đánh đổi giữa phương án đã sản xuất (tiêu dùng) với phương án khác bị bỏ qua Trong thực tế thường tồn tại quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng

Cách xác định:

+ Bằng hiện vật: Chi phí cơ hội là những hàng hoá và dịch vụ cần thiết nhất bị bỏ qua để thu được những hàng hoá và dịch vụ khác (Chi phí cơ hội cho việc sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm loại hàng hoá này là sự hy sinh một luợng nào đó sản phẩm loại hàng hoá kia)

Ví dụ: Khi người nông dân quyết định trồng hoa trên mảnh vườn của mình thay cho cây ăn quả hiện có thì chi phí cơ hội của việc trồng hoa là lượng hoa quả bị mất đi

Ý nghĩa: Làm cơ sở cho việc xác định phương án sản xuất các loại sản phẩm

hàng hoá có lợi nhất, khai thác sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả cao trong từng thời kỳ.) + Bằng giá trị: Chi phí cơ hội là chi phí (hay giá trị) bị bỏ qua (hy sinh) khi sản xuất hoặc tiêu dùng mặt hàng này để chuyển sang sản xuất hoặc tiêu dùng mặt hàng khác có lợi hơn

d Phương pháp lựa chọn

Dùng đường cong năng lực sản xuất (đường giới hạn khả năng sản xuất)

1.1.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)

Trong một nền kinh tế, số lượng các yếu tố sản xuất và trình độ công nghệ là có hạn Do đó, khi quyết định sản xuất cái gì và như thế nào, nền kinh tế này phải quyết định xem những yếu tố hạn chế này được phân phối như thế nào giữa hàng nghìn, hàng vạn loại hàng hoá khác nhau có thể sản xuất

Ví dụ: Giả sử một nền kinh tế có các yếu tố hạn chế để có thể sản xuất lương thực và quần áo Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế này chính

là các điểm nằm trên đường A, B F

Trang 9

3

Tại điểm M thì số một lượng nhất định các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng hết nên đây là điểm không hiệu quả Còn tại điểm N thì số lượng hàng hoá tăng nhưng không đủ các yếu tố sản xuất để sản xuất ra lượng sản phẩm đó

Trên đường A, B F chính là đường giới hạn khả năng sản xuất Bởi khả năng đáp ứng các yếu tố sản xuất là có giới hạn Nếu tăng các yếu tố để sản xuất lương thực thì sẽ giảm yếu tố sản xuất quần áo và ngược lại Tuy nhiên, các điểm trên đường A, B F là các điểm hiệu quả vì tại đó sử dụng hết các yếu tố mà không bị dư thừa hoặc thiếu hụt

Bảng 1.1: Những khả năng sản xuất thay thế khác nhau

3 1,5

Trang 10

Ví dụ: Nước Việt nam lựa chọn sản xuất lúa gạo, chè, cà phê.để sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm như đất đai, tiền vốn và các điều kiện sản xuất khác khác nhằm tạo ra nhiều sản phẩm với hiệu quả kinh tế cao cao nhất và thoả mãn nhu cầu thị trường về các sản phẩm đó

1.2.2 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô

- Kinh tế học vi mô: Là môn khoa học nghiên cứu, phân tích và lựa chọn các vấn

đề kinh tế cơ bản của các tế bào trong nền kinh tế (doanh nghiệp, hộ gia đình) Nghiên cứu hành vi lựa chọn và ra quyết định của các cá nhân trong sản xuất, tiêu dùng nhằm tối đa hoá lợi ích kinh tế trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường

Ví dụ: Hành vi lựa chọn của người quản lý doanh nghiệp khi quyết định số lao động thuê mướn, số vốn vay, địa điểm kinh doanh, sản lượng sản xuất, ,nơi tiêu thụ sản phẩm để tối đa hoá lợi nhuận Hành vi lựa chọn của người tiêu dùng khi quyết định mua bao nhiêu sản phẩm cho phù hợp với khả năng thanh toán (thu nhập), sở thích thị hiếu nhằm tối đa hoá lợi ích khi sử dụng hàng hoá dịch vụ đó

- Kinh tế học vĩ mô: Là môn khoa học nghiên cứu, phân tích và lựa chọn các vấn

đề kinh tế cơ bản của một quốc gia Nó nhấn mạnh tới sự tương tác trong nền kinh tế tổng thể Các nội dung chủ yếu: Nghiên cứu về sản lượng, tăng trưởng kinh tế, sự biến động về giá cả và việc làm, lạm phát, cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái trong tổng thể nền kinh tế

Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô có liên quan mật thiết với nhau vì chúng là 2 bộ phận của kinh tế học Nghiên cứu kinh tế vi mô đúng sẽ giúp cho nghiên cứu vĩ mô hoàn chỉnh Đồng thời kinh tế tổng thể phát triển lành mạnh ổn định sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động vi mô ở các doanh nghiệp

1.2.3 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc

- Kinh tế học thực chứng: Là một cách tiếp cận của kinh tế học, nó nghiên cứu và

mô tả các hiện tượng kinh tế xã hội một cách khách quan và khoa học Dù chính kiến của con người có khác nhau nhưng hiện tượng đó vẫn diễn ra đúng như quy luật khách quan Ở một chừng mực nào đó, người ta có thể coi nó như một môn khoa học tự nhiên

Trang 11

5

Ví dụ: Các vấn đề nên như thế nào, cần phải làm gì,

Dịch cúm gia cầm đã làm cho mọi người ăn thịt bò nhiều hơn (nguyên nhân, kết quả) Hoặc trời càng mưa nhiều thì người bán áo mưa càng bán được nhiều,

- Kinh tế học chuẩn tắc: Là một cách tiếp cận của kinh tế học liên quan đến quan

điểm đạo lý, chính trị của một quốc gia Nó đưa ra những lời chỉ dẫn, khuyến nghị dựa trên cơ sở đánh giá theo tiêu chuẩn cá nhân

Ví dụ: Cần phải có giá thuê nhà rẻ cho sinh viên vì họ là những người chủ tương lai của đất nước (vấn đề ở đây là "nên" và "cần" nhưng mang tính đạo đức nhiều hơn) Mục tiêu của Kinh tế học, các nhà kinh tế là nắm bắt được quy luật khách quan

để ra các quyết sách đúng đắn vì vậy phải nắm được Kinh tế học thực chứng Nhưng khi đánh giá lại các chính sách thì cần phải nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau  Kinh

tế học chuẩn tắc

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỔ CHỨC KINH TẾ

1.3.1 Ba vấn đề cơ bản của một nền kinh tế

Nguồn lực của nền kinh tế khan hiếm, nên con người cần có sự lựa chọn nguồn lực có hạn vào sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai? Nói cách khác là xã hội cần phải giải quyết ba vấn đề sau:

- Một là, sản xuất những hàng hoá và dịch vụ nào, với số lượng bao nhiêu? Mỗi

xã hội cần phải quyết định xem nên sản xuất những hàng hoá và dịch vụ nào, số lượng bao nhiêu, khi nào thì sản xuất với mục đích tối đa hoá việc sản xuất những sản phẩm cần thiết Cơ sở của việc lựa chọn này là sự tồn tại những cách thức sử dụng khác nhau

về nguồn lực để tạo ra những sản phẩm khác nhau

- Hai là, các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra như thế nào? Lựa chọn công

nghệ sản xuất nào để có thể tối thiểu hoá chi phí mà vẫn tạo ra được số lượng sản phẩm nhất định Cơ sở của việc lựa chọn này là sự tồn tại những phương pháp sản xuất khác nhau để sản xuất ra một sản phẩm cụ thể

- Ba là, hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra cho ai hay sản phẩm quốc dân được

phân chia như thế nào cho các thành viên trong xã hội? Cơ sở của việc lựa chọn này là

sự tồn tại những cách thức khác nhau để phân chia hàng hoá và thu nhập cho các thành viên trong xã hội

Những cách thức để giải quyết 3 vấn đề cơ bản trên trong một nước sẽ tuỳ thuộc vào lịch sử, hệ tư tưởng và chính sách của mỗi nước

Bởi vì ba vấn đề nêu trên là những chức năng mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải thực hiện, bất kể hình thức hay trình độ phát triển của nó như thế nào Tất cả những chức năng này đều mang tính lựa chọn do các nguồn lực cần thiết để sản xuất ra sản phẩm đều khan hiếm Cơ sở cho sự lựa chọn này được thực hiện là:

Trang 12

6

- Tồn tại những cách sử dụng khác nhau các nguồn lực trong việc sản xuất ra những sản phẩm khác nhau

- Tồn tại các phương pháp khác nhau để sản xuất ra một sản phẩm cụ thể

- Tồn tại các phương pháp khác nhau để phân phối các hàng hoá và thu nhập cho các thành viên của xã hội

1.3.2 Các chủ thể ra quyết định lựa chọn và cấu trúc của nền kinh tế

Cấu trúc của nền kinh tế phụ thuộc vào số lượng các chủ thể ra quyết định trong nền kinh tế đó Các chủ thể ra quyết định lựa chọn, hay còn gọi là chủ thể của nền kinh

tế bao gồm:

(1)- Người tiêu dùng (hộ gia đình): Người tiêu dùng là tất cả các cá nhân và hộ

gia đình, họ mua hàng hoá và dịch vụ dể thoả mãn những nhu cầu thực phẩm, quần

áo, dịch vụ đi lại Những hàng hoá này được gọi là hàng tiêu dùng, vì chúng được cá

nhân và gia đình tiêu dùng cho đời sống Cần phân biệt hàng tiêu dùng với hàng hoá tư bản (máy móc, nhà máy, đường xe lửa ) là những hàng hoá được sử dụng để sản xuất

ra những hàng hoá khác và thường được Chính phủ và các nhà doanh nghiệp mua Người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn đối với quyết định và việc sản xuất cái gì

trong nền kinh tế, vì họ mua và tiêu dùng phần lớn sản phẩm của nền kinh tế Nguyện vọng của người tiêu dùng muốn thoả mãn tối đa nhu cầu của họ với số thu nhập có hạn (tối đa hóa lợi ích)

(2)- Các doanh nghiệp (hãng kinh doanh): Là người sản xuất hàng hoá và dịch

vụ tư nhân giữ một vai trò quan trọng trong vấn đề quyết định sản xuất cái gì và như thế nào Yếu tố cơ bản nhất nhằm giải thích cho phương thức hoạt động của các nhà

sản xuất tư nhân trong nền kinh tế, dù đó là nông trại gia đình, hộ kinh doanh thương

nghiệp hay doanh nghiệp công nghiệp là mục đích kiếm được lợi nhuận cao nhất(tối

đa hóa lợi nhuận)

(3)- Chính phủ: Trong nền kinh tế hỗn hợp, Chính phủ là chính quyền ở các cấp

(địa phương, tỉnh, trung ương) đồng thời cũng là những người sản xuất và là người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ Ngoài những nhiệm vụ thông thường về công an, toà

án, an ninh, giáo dục Chính phủ còn cung cấp các dịch vụ khác như vận tải đường sắt, đường bộ, đường không, thông tin liên lạc, điện lực và Chính phủ sở hữu nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng hoá công nghiệp và nông nghiệp Với tư cách là người sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ, chính quyền các cấp tác động vào việc sản xuất cái gì và như thế nào giống như các doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, những động lực thúc đẩy các hoạt động này, nhìn chung là phức tạp hơn những động lực của doanh nghiệp tư

nhân Có vai trò điều tiết nền kinh tế, mục đích là tối đa hoá phúc lợi công cộng

Chính phủ sẽ thực hiện vai trò của mình thông qua 3 chức năng: hiệu quả, công bằng

và ổn định

Trang 13

7

- Chức năng hiệu quả

Trong đời sống thực tế ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường thì cơ chế thị trường có thể dẫn tới một số thất bại Ở hệ thống kinh tế cạnh tranh, nhiều nhà sản xuất đơn giản không biết sản xuất rẻ nhất, nên chi phí sản xuất không hạ xuống tới mức tối thiểu được Trên thực tế một doanh nghiệp có thể có lãi bằng cách giữ mức giá cao cũng như bằng cách giữ mức sản xuất cao Song trong nhiều lĩnh vực khác thì cũng chính họ lại có rất nhiều tác động bên ngoài như gây ô nhiễm môi trường, độc hại đối với các doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng Trong mỗi trường hợp như vậy, một thất bại thị trường đều dẫn đến sản xuất không hiệu quả hoặc tiêu dùng không hiệu quả Ở đây Chính phủ có thể đóng vai trò là người chữa bệnh

Thất bại của thị trường hay là tính không hiệu quả của nền kinh tế có thể được tạo ra bởi nhiều nguyên nhân Thông thường nó xuất hiện là do trong nền kinh tế có môi trường cạnh tranh không hoàn hảo hay có nhân tố độc quyền Một "người cạnh tranh không hoàn hảo" là một người mà hành động của họ có thể ảnh hưởng đến giá cả của mặt hàng Khi sức mạnh độc quyền có khả năng tác động đến giá cả ở một thị trường nào đó, thì chúng ta sẽ thấy giá cả thường cao hơn mức hiệu quả, làm méo mó nhu cầu và tạo ra lợi nhuận siêu ngạch những lợi nhuận này có thể được sử dụng để mua chuộc ngành luật phát, đề ra hàng rào thuế quan có lợi cho tập đoàn độc quyền

Để khắc phục nhược điểm này Chính phủ có thể đề ra các đạo luật chống độc quyền Trong các trường hợp mà tính không hiệu quả của nền kinh tế do những tác động bên ngoài gây ra Chẳng hạn, một nhà máy hoá chất xả chất thải làm ô nhiễm môi trường nước , để hạn chế tác động bên ngoài, Chính phủ đề ra luật lệ điều tiết nhằm ngăn chặn các tác động tiêu cực bên ngoài như ô nhiễm nước và không khí, chất thải gây nguy hiểm cho con người và xã hội

- Chức năng công bằng

Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá được phân phối cho những người có nhiều tiền nhất chứ không phải cho người có nhu cầu lớn nhất Như vậy, ngay cả khi một cơ chế thị trường đang là hiệu quả thì nó cũng có thể dẫn tới sự bất bình đẳng lớn Trên thực tế, một người có nhiều tiền không chỉ do lao động chăm chỉ và tài năng giỏi giang của chính anh ta, mà có thể còn do nhiều yếu tố khác như: tài sản thừa kế, trúng

sổ xố mang lại Do vậy, cần phải có chính sách phân phối lại thu nhập như sử dụng thuế luỹ tiến - đánh thuế người giàu theo tỷ lệ cao hơn người nghèo; xây dựng hệ thống hỗ trợ thu nhập nhằm giúp đỡ cho người già cả, người tàn tật, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp y tế Tức là thông qua biện pháp thu thuế sẽ lấy đi một số hàng hoá dịch vụ của một nhóm người, thu hẹp khả năng mua sắm của họ Thông qua công cụ thuế để hình thành ra các khoản chi từ ngân sách cho việc trợ cấp thất nghiệp đối với

Trang 14

Đó chính là những bước thăng trầm của chu kỳ kinh doanh Trong điều kiện thực tế này, Chính phủ có thể sử dụng các chính sách tài khoá, tiền tệ để tác động đến sản lượng, việc làm và lạm phát nhằm giảm bớt những dao động của chu kỳ kinh doanh

(4)- Người nước ngoài: bao gồm các cá nhân và các tổ chức, chính phủ nước

ngoài có tác động tới hoạt động kinh tế diễn ra ở một nước thông qua việc mua bán hàng hoá và dịch vụ như vay mượn, viện trợ, đầu tư

Cấu trúc của nền kinh tế:

(1)+(2): Nền kinh tế chỉ bao gồm hai tác nhân kinh tế chủ yếu là người tiêu dùng

và các doanh nghiệp (Chính phủ không can thiệp vào đời sống kinh tế) được gọi là nền kinh tế giản đơn

(1)+(2)+(3): Nền kinh tế đóng, chính phủ điều hành nền kinh tế trong nội bộ của

mình mà không chịu ảnh hưởng của các tác nhân nước ngoài

(1)+(2)+(3) +(4): Nền kinh tế mở, các hoạt động kinh tế, chính trị trong nước chịu

ảnh hưởng theo xu hướng biến động trên thế giới

Ví dụ: Trước Sự kiện 11/9/2001, lãi suất tiền gửi USD của FED (cục dự trữ liên bang Mỹ) là 5%/năm, sau đó giảm xuống còn 1,25% Phản ứng của Việt Nam giảm lãi suất từ 5,5% xuống còn 1,75%

1.3.3 Mô hình nền kinh tế

Lịch sử phát triển của loài người đã hình thành các mô hình tổ chức nền kinh tế sau:

1.3.3.1 Mô hình nền kinh tế tập quán truyền thống

Đặc trưng cơ bản nhất của mô hình này là việc lựa chọn, quyết định 3 vấn đề kinh

tế cơ bản do tập quán truyền thống, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

- Ưu điểm: Kế thừa được các kinh nghiệm trong quá trình sản xuất qua các thế

hệ, có sự gắn kết giữa sản xuất với bản sắc văn hóa

- Nhược điểm: Sản xuất không gắn với nhu cầu trên thị trường, hạn chế việc đổi

mới, ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Đồng thời, khó khăn trong việc mở rộng quy mô sản xuất

1.3.3.2 Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung (kinh tế chỉ huy, mệnh lệnh)

Đặc trưng cơ bản nhất của mô hình này là việc lựa chọn, quyết định 3 vấn đề kinh tế cơ

Trang 15

9

bản đều do Chính phủ thực hiện (cơ chế mệnh lệnh áp đặt từ trên xuống)

- Ưu điểm: Quản lý tập trung thống nhất việc sử dụng nguồn lực nên đã giải

quyết được nhu cầu công cộng, xã hội và những cân đối lớn của nền kinh tế Hạn chế phân hoá giàu nghèo và đảm bảo sự công bằng xã hội

- Nhược điểm: Bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu và hoạt động kém hiệu quả

Tất cả những vấn đề kinh tế cơ bản đều do các cơ quan kế hoạch của Chính phủ quyết định nên chỉ cần sai sót nhỏ của các nhà kế hoạch sẽ dẫn đến sự bất ổn định cho nền kinh tế Người sản xuất và người tiêu dùng kém năng động sáng tạo bởi họ không có quyền lựa chọn Phân phối mang tính chất bình quân không xuất phát từ nhu cầu thị trường dẫn đến tình trạng thừa thiếu hàng hoá một cách giả tạo.Do vậy việc khai thác

sử dụng các nguồn lực kém hiệu quả, nền kinh tế phát triển chậm

1.3.3.3 Mô hình kinh tế thị trường

Đặc trưng cơ bản của mô hình này là tất cả 3 vấn đề kinh tế cơ bản đều do thị trường quyết định (theo sự dẫn dắt của giá thị trường - “Bàn tay vô hình”)

- Ưu điểm: Người sản xuất và người tiêu dùng được quyền tự do lựa chọn và ra

quyết định trong sản xuất tiêu dùng nên tính năng động, chủ động sáng tạo cao Kích thích nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh, công nghệ kỹ thuật thường xuyên được đổi mới Phi tập trung hoá các quyền lực trên các phương diện các quyết định cho các chủ thể sản xuất Khai thác sử dụng các nguồn lực

có hiệu quả và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế

- Nhược điểm: Do cạnh tranh vì lợi nhuận và coi lợi nhuận là mục tiêu duy nhất

nên dẫn đến ô nhiễm môi trường (tự nhiên, kinh tế, xã hội) Phân hoá giàu nghèo và bất công xã hội ngày càng tăng Mâu thuẫn quan hệ kinh tế với quan hệ truyền thống Nhiều vấn đề xã hội hết sức nan giải nảy sinh Phát sinh nhiều rủi ro, tiêu cực

1.3.3.4 Mô hình kinh tế hỗn hợp

Mô hình kinh tế hỗn hợp là mô hình vừa phát huy được nhân tố khách quan (quy luật kinh tế thị trường) lại vừa coi trọng được nhân tố chủ quan (can thiệp của con người) Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa tác động khách quan của thị trường với vai trò của Chính phủ

- Ưu điểm: Mô hình này phát huy được những ưu điểm và hạn chế đến mức thấp

nhất các tồn tại của hai mô hình trên nên việc khai thác sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn, nền kinh tế phát triển nhanh và ổn định Do vậy, người ta cho rằng đây là mô hình có hiệu quả nhất và được nhiều nước trên thế giới áp dụng Tuy nhiên, tuỳ đều kiện

cụ thể của mỗi nước mà vận dụng vai trò của thị trường và chính phủ cho phù hợp Mục tiêu của mô hình kinh tế hỗ hợp là khi kết hợp các mô hình tập quán truyền thống, kế hoạch hóa và thị trường để phát huy được những ưu điểm của từng mô hình; đồng thời hạn chế tối đa những nhược điểm Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với

Trang 16

10

việc mô hình kinh tế hỗn hợp không tồn tại nhược điểm; nếu quá trình vận hành không tốt thậm chí sẽ làm phát sinh đồng thời những nhược điểm của các mô hình kinh tế thành phần

1.3.4 Cơ chế kinh tế

Cơ chế kinh tế là cách thức xã hội giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: cái gì, như thế nào và cho ai

Để hiểu được cơ chế hoạt động của nền kinh tế chúng ta sẽ trừu tượng hoá thực tế

và xây dựng một mô hình đơn giản hoá về nền kinh tế, trong đó bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ

Bản chất, đây là mô hình luân chuyển kinh tế nhưng nó cũng phản ánh cơ chế tác động lẫn nhau giữa các chủ thể ra quyết định lựa chọn trong nền kinh tế Sự gắn kết giữa người tiêu dùng và người sản xuất thể hiện thông qua mối quan hệ trao đổi hàng hóa dịch vụ hoặc các yếu tố sản xuất trên thị trường Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường; với chính sách điều tiết gián tiếp, chính phủ có thể thực hiện thông qua các chính sách thuế hoặc trợ cấp đối với người sản xuất và người tiêu dùng Ngoài ra, chính phủ có thể điều tiết trực tiếp thị trường bằng việc mua vào hoặc bán ra hàng hóa dịch vụ, các yếu tố sản xuất để tạo sự ổn định hoặc hoàn thành mục

Thị trường hàng hóa, dịch vụ

Thị trường các yếu tố sản xuất

CHỈNH PHỦ

Trợ cấp

Trợ cấp

Cung ứng hàng hoá, dịch vụ

DT từ bán hàng hoá, dịch vụ Chi tiêu hàng hoá, dịch vụ

Tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ

Sử dụng các yếu tố sản xuất

Cung ứng yếu tố sản xuất

Chi phí cho các yếu tố sản xuất Thu nhập từ yếu tố sản xuất

Hình 1.2: Cơ chế tác động giữa các chủ thể trong nền kinh tế

Trang 17

11

tiêu tăng trưởng kinh tế (1) thể hiện chính phủ tác động vào thị trường hàng hóa dịch

vụ làm tăng cầu, kích thích sản xuất; như vậy chính phủ đóng vai trò là người tiêu dùng hàng hóa (2) thể hiện chính phủ tác động vào thị trường hàng hóa dịch vụ làm tăng cung, giúp ổn định giá hoặc giảm sự khan hiếm hàng hóa như vậy, chính phủ đóng vai trò như bán hàng hóa dịch vụ Tương tự ở (3) và (4) trên thị trường các yếu tố sản xuất nhằm hỗ trợ cho người sản xuất hoặc hộ gia đình trong những tình huống cụ thể, thời gian cụ thể, điều kiện cụ thể của nền kinh tế để đạt được những mục tiêu cụ thể mà chính phủ đề ra

Ngoài ra, đối với nền kinh tế mở có sự tham gia của người nước ngoài; tùy thuộc vai trò của người nước ngoài như là một tác nhân sản xuất hoặc tiêu dùng sẽ làm cho

cơ chế tác động linh hoạt hơn, vai trò của chính phủ các phức tạp và đa dạng hơn về hình thức tác động

Trang 18

12

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1

1 Kinh tế học là gì? Sự giống và khác nhau giữa kinh tế học vi mô và kinh tế học

vĩ mô? Tại sao nói “Kinh tế học là lý thuyết về sự lựa chọn”?

2 So sánh kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc? Cho ví dụ minh hoạ?

3 Thế nào là đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)? Cho ví dụ?

4 Liệt kê và giải thích ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế? Giả sử bạn đang bị lạc trên một hoang đảo, hãy cho biết bạn đang gặp phải những vấn đề kinh tế cơ bản nào, giải thích?

5 Có mấy mô hình nền kinh tế? Nêu đặc điểm của từng mô hình?

6 Vẽ mô hình luồng luân chuyển kinh tế? Giải thích mô hình?

Trang 19

13

CHƯƠNG 2 KINH TẾ VI MÔ

2.1 CẦU - CUNG

2.1.1 Cầu hàng hoá dịch vụ

2.1.1.1 Khái niệm cầu

Cầu (Demand) là một thuật ngữ dùng để diễn đạt lượng hàng hoá dịch vụ mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau (mức giá chấp nhận ) trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định khi các yếu tố khác không thay đổi Như vậy cầu chỉ xuất hiện khi có đủ hai điều kiện trên xẩy ra cùng một lúc

(người tiêu dùng có khả năng thanh toán và sẵn sàng mua)

Khi phân tích khái niệm về Cầu hàng hóa dịch vụ nào đó, cần quan tâm đến một

số điểm sau:

- Điều kiện hình thành cầu

+ Người tiêu dùng (người mua) có khả năng thanh toán

+ Người mua sẵn sàng mua (cần công dụng và giá trị sử dụng của hàng hoá, dịch vụ đó)

- Cầu về một loại hàng hoá dịch vụ nào đó phải được xác định trong một khoảng không gian và thời gian nhất định (không gian tồn tại cầu chính là phạm vị diễn ra hoạt động mua, bán hàng hoá, dịch vụ)

Ví dụ: Với giá gạo 3500đ/kg, cầu gạo ở Hà Nội là 10 tấn/ngày còn ở Hà Giang là 5 tấn/ngày

Thời gian ở đây chính là thời điểm diễn ra hành động mua - bán hàng hoá dịch vụ

Ví dụ: Cùng mặt hàng nước giải khát nhưng cầu về nước giải khát về mùa hè và mùa đông khác nhau

- Khi xem xét ảnh hưởng của giá cả đến cầu, một hàng hoá, dịch vụ nào đó người ta phải coi như các yếu tố khác không đổi

- Có sự phân biệt giữa nhu cầu và cầu về một hàng hoá dịch vụ nào đó

Nhu cầu là sự ham muốn của con người trong việc tiêu dùng sản phẩm và trong các hoạt động diễn ra hàng ngày, nó luôn vô hạn Đó là sự đòi hỏi khách quan nảy sinh ở mỗi

người, không phụ thuộc vào khả năng thỏa mãn chúng

Như vậy, nhu cầu mới chỉ đáp ứng điều kiện cần để hình hành cầu về một loại sản phẩm, dịch vụ nào đó; chỉ khi có điều kiện đủ là khả năng thanh toán thì nhu cầu mới trở thành cầu của kinh tế thị trường

Trang 20

14

hàng hóa mà người mua sẵn sàng và có khả năng mua là 10 tấn/ngày; tại mức giá là 3.200đ/kg, số lượng hàng hóa mà người mua sẵn sàng và có khả năng mua là 9 tấn/ngày Như vậy, chúng ta sẽ nói lượng cầu hàng hóa đó (QD1) là 10 tấn/ngày tại mức giá (P1) 3.000đ/kg; lượng cầu hàng hóa đó (QD2) là 9 tấn/ngày tại mức giá (P2) 3.200đ/kg (cả QD1

và QD2 đều là lượng cầu nhưng luôn gắn với một mức giá cụ thể là P1 hoặc P2)

2.1.1.3 Biểu cầu

Là một bảng mô tả mối quan hệ giữa số lượng hàng hóa mà người tiêu dùng có khả năng thanh toán và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi

Biểu cầu gồm 2 cột: Một cột phản ánh giá của hàng hóa và một cột phản ánh lượng cầu về hàng hóa đó

Bảng 2.1: Biểu cầu về tiêu dùng bia của khách hàng A trong một tuần

Khi thể hiện mối quan hệ tương quan giữa giá và lượng cầu trên đồ thị, đường cầu sẽ có dạng dốc xuống (dạng phổ biến); ngoài ra, cũng tồn tại các xu hướng khác của đường cầu là những trường hợp đặc biệt khi đường cầu không còn xu hướng dốc xuống dưới - sang bên phải

Trang 21

15

a Trường hợp phổ biến của đường cầu

Đường cầu dốc xuống thể hiện khi giá cả hàng hóa tăng lên, các yếu tố khác

không thay đổi, khách hàng có xu hướng mua hàng hóa ít đi, và ngược lại

Có hai nguyên nhân chính gây ra hiện tượng đường cầu dốc xuống:

- Thứ nhất, là hiệu ứng thay thế Khi giá của một hàng hóa tăng lên, người tiêu

dùng sẽ thay thế nó bằng một hàng hóa khác tương tự

Ví dụ: Khi giá thịt lợn tăng lên, người tiêu dùng có thể sẽ mua nhiều thịt gà hơn

- Thứ hai, là hiệu ứng thu nhập Điều này xảy ra vì khi giá tăng lên, người tiêu

dùng thấy mình nghèo đi hơn trước Vì vậy, người tiêu dùng tự động cắt giảm việc tiêu thụ hàng hóa đó

Ví dụ: Nếu giá xăng dầu tăng lên gấp đôi, sẽ làm thu nhập thực tế ít đi mặc dù thu nhập danh nghĩa là không đổi (số tiền lương được nhận không giảm), vì vậy người tiêu dùng sẽ tự động cắt giảm tiêu dùng xăng dầu

b Các trường hợp đặc biệt của đường cầu

Các trường hợp đặc biệt của đường cầu là những trường hợp mà khi thể hiện đường cầu trên đồ thị không còn tuân thủ quy luật đường cầu dốc xuống

- Đường cầu dốc lên, đây là một trường hợp ngoại lệ xảy ra trong thời điểm rất

ngắn (lạm phát, đổi tiền) Trạng thái này thể hiện mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa giá và lượng cầu; giá tăng nhưng người tiêu dùng vẫn mua nhiều hơn (lượng cầu tăng)

Trang 22

16

- Đường cầu thẳng đứng (song song với trục tung), đây là trường hợp thể hiện

rằng khi giá có tăng bao nhiêu đi nữa thì cầu của người tiêu dùng về loại hàng hóa dịch

vụ đó vẫn không đổi (Q1) - chẳng hạn như muối ăn

- Đường cầu nằm ngang (song song với trục hoành), đây là trường hợp thể hiện

rằng khi cùng một mức giá (P1) thì người tiêu dùng sẽ mua với bất kể số lượng nào Cũng như 2 trường hợp đặc biệt trên, trường hợp này cũng chỉ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn

Trang 23

Trên thực tế, có một số loại hàng hóa đặc biệt hoặc trong những thời điểm đặc biệt sẽ không tuân theo luật cầu Chúng ta gọi chung là các trường hợp ngoại lệ

Ví dụ: Hàng hóa theo mốt (giá cao thì lượng cầu cao, khi hết mốt giá giảm thì lượng cầu giảm) hoặc hàng hóa xa xỉ (giá cao người tiêu dùng mua nhiều); hoặc khi chuẩn bị có thiên tai, lũ lụt thì giá cả hàng hóa thiết yếu như lượng thực, thực phẩm tăng nhưng người tiêu dùng vẫn muốn mua để phòng sự khan hiếm sau thiên tai

2.1.1.6 Hàm cầu và các yếu tố ảnh hưởng

a Hàm cầu tổng quát và các yếu tố ảnh hưởng

Lượng cầu hàng hoá dịch vụ trên thị trường chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Do vậy

để biểu diễn mối quan hệ này người ta sử dụng hàm số của cầu ( hàm cầu)

Dạng tổng quát: QD (x,t) = f (PX ; I ; PY ; T ; N ; E )

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của từng yếu tố, người ta phải cố định các yếu tố khác

(coi như các yếu tố khác không đổi)

- Giá cả hàng hoá dịch vụ (PX ): Khi giá sản phẩm hàng hoá dịch vụ tăng thì

lượng cầu của nó giảm và ngược lại Mức độ tác động này còn phụ thuộc từng loại hàng hoá dịch vụ

- Thu nhập của người tiêu dùng (I ): Thu nhập là một trong những yếu tố quan

trọng nhất quyết định mua gì và bao nhiêu đối với người tiêu dùng vì thu nhập quyết định khả năng mua của người tiêu dùng

Trang 24

18

Thu nhập người tiêu dùng tăng thì cầu về hàng hoá thông thường (bao gồm hàng hoá dịch vụ xa xỉ và hàng hoá thiết yếu) tăng, cầu về hàng thứ cấp giảm (và ngược lại)

Hàng hoá thiết yếu là các hàng hoá được cầu nhiều hơn khi thu nhập tăng lên nhưng sự tăng cầu là tương đối nhỏ hoặc xấp xỉ như sự tăng thu nhập Ví dụ như lương thực, thực phẩm

Hàng hoá xa xỉ là hàng hoá được cầu tương đối nhiều khi thu nhập của bạn tăng

lên Ví dụ: như đi du lịch, mua bảo hiểm, xe ôtô

Hàng hoá thứ cấp là hàng hoá mà khi thu nhập tăng lên người tiêu dùng mua ít đi

và ngược lại Ví dụ như gạo độn ngô, khoai

(Hàng hoá thứ cấp hay thông thường chỉ có tính thời điểm)

- Giá cả của hàng hoá có liên quan (PY ): Mỗi loại hàng hoá có hai loại hàng hoá

liên quan đó là hàng hoá thay thế và hàng hoá bổ sung

Hàng hoá thay thế là những hàng hoá giống hàng hoá đang xem xét hoặc có cùng giá trị sử dụng hay thoã mãn cùng nhu cầu của người tiêu dùng như chè và cafê, thịt và cá Khi giá cả hàng hoá thay thế tăng hoặc giảm xuống thì cầu hàng có liên quan sẽ tăng lên hoặc giảm xuống

Hàng hoá bổ sung là các hàng hoá được sử dụng cùng nhau ví dụ như chè lipton

và đường, xe máy và xăng Khi giá cả hàng hoá bổ sung tăng lên hoặc giảm xuống thì cầu hàng hoá liên quan sẽ giảm xuống hoặc tăng lên

- Thị hiếu, sở thích người tiêu dùng (T): Thị hiếu là ý thích của con người Thị hiếu

xác định chủng loại hàng hoá mà người tiêu dùng muốn mua Yếu tố này ít thay đổi vì thị hiếu người tiêu dùng rất đa dạng và phức tạp, nó phụ thuộc vào tâm lý lứa tuổi, giới tính, xã hội nên khi nghiên cứu phải chọn mẫu đại diện, từ đó có thể lượng hoá và suy rộng Tuy nhiên, thị hiếu tiêu dùng thường chịu ảnh hưởng lớn của quảng cáo

- Quy mô và cơ cấu dân số (N): Quy mô dân số ảnh hưởng đến tổng cầu hàng hoá

dịch vụ (quy mô thị trường) của từng vùng và một nước Thị trường càng nhiều người tiêu dùng thì cầu tiềm năng sẽ càng lớn

- Kỳ vọng của người tiêu dùng (E): Cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ sẽ thay

đổi phụ thuộc vào các kỳ vọng (sự mong đợi) của người tiêu dùng Đó là hy vọng (dự đoán) về sự thay đổi các yếu tố trên( giá cả, thu nhập) để quyết định lượng sản phẩm tiêu dùng hiện tại và tương lai Nếu người tiêu dùng kỳ vọng rằng giá của hàng hoá sẽ tăng lên trong tương lai thì họ sẽ mua nhiều hàng hoá đó hơn ngay bây giờ

Ngoài ra, các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước như chính sách trợ cấp, thuế thu nhập hoặc điều kiện tự nhiên cũng ảnh hưởng đến lượng cầu hàng hoá dịch vụ

Trang 25

19

Lưu ý: Khi nghiên cứu ảnh hưởng của từng yếu tố tới lượng cầu hàng hoá dịch vụ

người ta thường giả định các yếu tố khác không thay đổi Vì thế có hàm cầu theo giá, hàm cầu theo thu nhập

b Hàm cầu theo giá

Trong quan hệ hàm số, lượng cầu và mức giá có thể biểu diễn qua phương trình:

QD = f(P) Trong đó: QD: Lượng cầu về hàng hóa dịch vụ đang xét

P: Là giá cả hàng hóa đang xét

Hàm cầu phổ biến là hàm cầu tuyến tính, có dạng:

QD = - aP + b

Trong đó: QD: Là lượng cầu

P: Là giá hàng hóa

a: Hệ số biểu thị mối quan hệ giữa giá và lượng cầu

b: Hệ số biểu thị lượng cầu khi giá bằng 0

Hàm cầu ngược (là cách viết khác của hàm cầu):

Dấu trừ (-) trước hệ số a hoặc a' nhằm đề cập đến trường hợp tổng quát của đường cầu, đó là thể hiện quan hệ nghịch biến giữa giá và lượng cầu

2.1.1.7 Cầu cá nhân và cầu thị trường

Ví dụ: Giả sử các yếu tố khác không thay đổi, các sinh viên có 2 lựa chọn về làm khóa luận, hoặc thuê đánh máy hoặc tự viết tay Ta có biểu cầu như sau:

Trang 26

20

Bảng 2.2: Cầu cá nhân và cầu thị trường thuê đánh máy của sinh viên

Giá đánh máy 1 trang

Sinh viên B

Sinh viên C

Sinh viên D

Trên cơ sở nguyên lý tính toán cầu thị trường từ tổng các cầu cá nhân; chúng ta

sẽ dựng cầu thị trường của một hàng hóa nào đó với chỉ 2 cá nhân tồn tại trên thị trường, kết quả dựng đường cầu thị trường thông qua đồ thị sau:

Theo lý thuyết, chúng ta sẽ thiết lập được đường cầu thị trường (DTT) bằng cách cộng theo chiều ngang của 2 đường cầu cá nhân D1 và D2 Khi Q ≤ Q1, đường cầu thị

Trang 27

21

trường chính là đường cầu D2, khi Q > Q1, đường cầu thị trường là tổng cầu của 2 cá nhân tham gia vào thị trường Do đó, đường cầu thị trường trong trường hợp trên chính là đường "tô đậm" (gãy khúc tại điểm A tương đương với mức giá P1 và lượng cầu là Q1)

2.1.1.8 Sự di chuyển và dịch chuyển của đường cầu

a Sự di chuyển của đường cầu

Sự di chuyển đường cầu là sự vận động dọc theo đường cầu hay là sự thay đổi các điểm trên cùng một đường cầu (thay đổi điểm cầu)

Nếu giá cả của hàng hoá giảm xuống và các yếu tố khác không thay đổi thì sẽ có hiện tượng tăng lên của lượng cầu

Nếu giá cả của hàng hoá đó tăng lên và các yếu tố khác không đổi thì sẽ có hiện tượng giảm xuống của lượng cầu

- Nếu thay đổi từ điểm A đến B : đường cầu di chuyển theo hướng tăng (tăng lượng cầu) Nếu ngược lại từ B về A: đường cầu di chuyển theo hướng giảm (giảm lượng cầu)

- Khi giá hàng hoá đang xét (PX) thay đổi sẽ làm đường cầu di chuyển

- Khi đường cầu di chuyển sẽ làm thay đổi theo hướng tăng hoặc giảm lượng cầu hàng hoá dịch vụ trên thị trường

b Sự dịch chuyển của đường cầu

Sự dịch chuyển đường cầu là sự thay đổi toàn bộ đường cầu từ vị trí này sang vị trí khác

Khi các yếu tố phi giá (ngoại sinh) như: thu nhập, giá hàng hoá liên quan, thị hiếu

sở thích người tiêu dùng, số lượng người tiêu dùng thay đổi sẽ làm D dịch chuyển hay có sự thay đổi của cầu

Hình 2.6: Sự di chuyển của đường cầu

Trang 28

22

Nếu dịch chuyển lên trên về phía phải (từ D sang D1): D dịch chuyển theo hướng tăng (tăng cầu) Nếu dịch chuyển xuống dưới về phía trái (từ D sang D2): D dịch chuyển theo hướng giảm (giảm cầu)

Ví dụ: Sự tăng lên của thu nhập, sự gia tăng dân số, sự gia tăng của giá cả hàng hoá thay thế hoặc giảm xuống của giá các hàng hoá bổ sung sẽ làm dịch chuyển toàn bộ đường cầu D sang bên phải tới đường D1 Đó là sự tăng lên của cầu

Còn khi thu nhập giảm, dân số giảm, giá các hàng hoá thay thế hoặc giá các hàng hoá bổ sung tăng sẽ làm dịch chuyển đường cầu D về phía trái tới đường D2 Đó là sự giảm xuống của cầu Khi D dịch chuyển sang D1 theo hướng tăng thì với cùng 1 mức giá P1 thì người tiêu dùng sẽ mua hàng hoá nhiều hơn (khả năng thanh toán của họ sẽ nhiều hơn - Q2>Q1)

Khi đường cầu dịch chuyển tăng sẽ tạo ra 2 hệ quả: hoặc lượng cầu cao hơn ở mức giá như cũ, hoặc giá cao hơn ở lượng cầu như cũ Còn khi đường cầu dịch chuyển giảm sẽ gây ra hệ quả ngược lại

2.1.2 Cung hàng hoá dịch vụ

2.1.2.1 Khái niệm cung

Cung (Suppy) là một thuật ngữ dùng để diễn đạt lượng hàng hoá dịch vụ mà người sản xuất có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau (mức giá chấp nhận) trong phạm vi không gian và thời gian nhất định khi các yếu tố khác không thay đổi Như vậy, cung chỉ xuất hiện khi có đủ hai điều kiện trên xảy ra cùng một lúc

(người sản xuất có khả năng và sẵn sàng bán)

Khi phân tích khái niệm về Cung hàng hóa dịch vụ nào đó, cần quan tâm đến một

Trang 29

23

- Điều kiện hình thành cung:

Điều kiện là người sản xuất có khả năng (có hàng hoá, dịch vụ); người sản xuất sẵn sàng bán Ví dụ: Tôi có xe máy nhưng tôi không muốn bán thì hành động bán xe máy không diễn ra

- Việc cung ứng hàng hoá phải được xác định trong một khoảng không gian và thời gian xác định

Về mặt không gian: ở đây muốn nói đến phạm vi mua bán hàng hoá, dịch vụ

Ví dụ: cùng một mức giá về thịt lợn là 20.000đ/kg nhưng cung ở Hà Nội và ở Bắc Cạn là hoàn toàn khác nhau Vì nó liên quan đến khả năng thanh toán của người tiêu dùng và quy mô khách hàng và quy mô sản xuất

Thời gian là thời điểm mua bán hàng hoá, dịch vụ

Ví dụ: Trong các mùa trong năm thì về mùa hè khả năng cung ứng nước giải khát

sẽ nhiều hơn rất nhiều về mùa đông

- Khi xem xét ảnh hưởng của yếu tố giá cả đến lượng cung của 1 hàng hoá nào đó thì người ta phải coi như các yếu tố khác không thay đổi bởi vì các yếu tố ảnh hưởng đến lượng cung rất nhiều

- Trong kinh tế thị trường chỉ có cung nào phù hợp với cầu thị trường mới trở thành cung của thị trường

QS1 và QS2 đều là lượng cung nhưng luôn gắn với một mức giá cụ thể là P1 hoặc P2)

2.1.2.3 Biểu cung

Là một bảng mô tả mối quan hệ giữa số lượng hàng hóa mà doanh nghiệp sẵn sàng và có khả năng cung cấp ở các mức giá thị trường trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi

Biểu cung gồm 2 cột: Một cột phản ánh giá của hàng hóa và một cột phản ánh lượng cung về hàng hóa đó

Trang 30

a Trường hợp phổ biến của đường cung

Trang 31

25

Đường cung có chiều đi lên đối với hầu hết các mặt hàng tiêu dùng cá nhân Một

lý do quan trọng dẫn đến việc đường cung có độ dốc đi lên trên là lượng đầu vào biến đổi tăng lên trong khi các đầu vào khác cố định Càng về sau, mỗi lao động tăng thêm

sẽ đóng góp ngày càng ít số lượng sản phẩm sản xuất thêm Mức giá cả để khuyến khích sản xuất thêm hàng hóa này vì thế cần phải tăng lên Chính sự tăng giá này sẽ khuyến khích người sản xuất tăng mức sản xuất và bán sản phẩm trên thị trường Vì thế, đường cung về sản phẩm có chiều dốc lên trên

b Các trường hợp đặc biệt của đường cung

Các trường hợp đặc biệt của đường cung là những trường hợp mà khi thể hiện đường cung trên đồ thị không còn tuân thủ quy luật đường cung dốc lên trên

- Đường cung dốc xuống dưới, đây là một trường hợp ngoại lệ xảy ra trong thời

điểm rất ngắn (doanh nghiệp muốn thu hồi vốn) Trạng thái này thể hiện mối quan hệ

tỷ lệ nghịch giữa giá và lượng cung; giá giảm xuống nhưng người bán vẫn bán nhiều hơn (lượng cung tăng)

- Đường cung thẳng đứng (song song với trục tung), đây là trường hợp thể hiện

rằng khi giá có tăng bao nhiêu đi nữa thì lượng cung về loại hàng hóa dịch vụ đó vẫn không đổi (Q1)

Chẳng hạn đối với cung về đất (xét theo số lượng đất thuộc sở hữu của người bán), khi giá tăng lên học muốn bán thêm nhưng cũng không còn đất để bán Tuy nhiên, chỉ xét theo góc độ ứng xử của họ về lượng cung về đất khi giá thì vẫn tuân theo

Trang 32

26

trường hợp phố biến là đường cung dốc lên Ngoài ra, có thể gặp tình huống này ở rất nhiều loại hàng hóa dịch vụ mà khoảng thời gian để tạo ra nó (sản xuất) dài, trong khi xét trong khoảng thời gian ngắn giá tăng thì họ cũng không thể cung ứng thêm; chẳng hạn như hoa tết, cây cảnh

- Đường cung nằm ngang (song song với trục hoành), đây là trường hợp thể hiện

rằng khi cùng một mức giá (P1) thì người sản xuất có bán ra với bất kể số lượng nào thì mức giá đó cũng không thay đổi (với cùng mức giá người sản xuất sẽ cung ứng với bất kể số lượng nào) Cũng như 2 trường hợp đặc biệt trên, trường hợp này cũng chỉ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn

Trang 33

27

2.1.2.5 Luật cung

Luật cung cho biết số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cung ứng trong một thời gian nhất định sẽ tăng lên khi giá các hàng hóa hoặc dịch vụ đó tăng lên và ngược lại

2.1.2.6 Hàm cung tổng quát và các yếu tố ảnh hưởng

a Hàm cung tổng quát và các yếu tố ảnh hưởng

Lượng cung hàng hoá dịch vụ trên thị trường chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Do vậy để biểu diễn mối quan hệ này người ta sử dụng hàm số của cung (hàm cung)

- Giá cả các yếu tố đầu vào (C): Giá các yếu tố đầu vào tăng hoặc giảm sẽ làm

cho cung giảm hoặc tăng và ngược lại

Ví dụ: Khi giá phân bón NPK tăng lên thì lợi nhuận của người nông dân sẽ giảm

do đó Qs lúa gạo sẽ giảm

Khi giá phân bón giảm, giá lúa gạo không đổi thì Qs lúa gạo tăng

- Trình độ công nghệ kỹ thuật (T): Công nghệ sản xuất được đổi mới và càng tiến

tiến phù hợp với điều kiện sản xuất cụ thể thì làm cho cung tăng

Ví dụ: Sản xuất lúa có sự thay giống cũ bằng giống mới (có năng suất chất lượng sản phẩm cao, thích hợp với điều kiện tự nhiên) thì cung về thóc tăng

- Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước (G): Tăng thuế thì cung giảm; trợ giá

đầu vào, trợ cấp cho người sản xuất sẽ dẫn đến tăng cung

- Số lượng doanh nghiệp (N) tham gia cung ứng trên thị trường tăng lên sẽ làm

tăng tổng cung hàng hoá, dịch vụ và ngược lại

- Kỳ vọng của người sản xuất (E): ảnh hưởng ngược lại so với cầu

Ngoài ra: Điều kiện tự nhiên cũng tác động đến cung, thể hiện rõ trong nông nghiệp

Lưu ý: Lượng cung hàng hoá X chịu tác động tổng hợp của tất cả các yếu tố xác

định nó nhưng trong thực tế để tiện phân tích ảnh hưởng củatừng yếu tố đến lượng

cung hàng hoá dịch vụ người ta thường giả định các yếu tố khác không thay đổi

b Hàm cung theo giá

Trong quan hệ hàm số, lượng cung và mức giá có thể biểu diễn thông qua phương trình: QS = f(P)

Trong đó: QS: Lượng cung về hàng hóa dịch vụ đang xét

P: Là giá cả hàng hóa đang xét

Hàm cung phổ biến là hàm cung tuyến tính, có dạng:

QS = cP + d

Trang 34

28

Trong đó: QS: Là lượng cung

P: Là giá hàng hóa

a: Hệ số biểu thị mối quan hệ giữa giá và lượng cung

b: Hệ số biểu thị lượng cung khi giá bằng 0

Hàm cung ngược (là cách viết khác của hàm cung):

Hệ số c hoặc c' thường nhận giá trị dương nhằm đề cập đến trường hợp tổng quá của đường cung, đó là thể hiện quan hệ tỉ lệ thuận giữa giá và lượng cung

2.1.2.7 Cung cá nhân và cung thị trường

Bảng 2.4: Cung cá nhân và cung thị trường sản phẩm quần jean

Trang 35

29

Trên cơ sở nguyên lý tính toán cung thị trường từ tổng các cung cá nhân; chúng

ta sẽ dựng cung thị trường của một hàng hóa nào đó với chỉ 2 cá nhân tồn tại trên thị trường, kết quả dựng đường cung thị trường thông qua đồ thị sau:

2.1.2.8 Sự di chuyển và dịch chuyển của đường cung

a Sự di chuyển của đường cung

Sự di chuyển đường cung là sự vận động dọc theo đường cung hay là sự thay đổi các điểm trên cùng một đường cung (thay đổi điểm cung)

Nếu giá cả của hàng hoá tăng lên và các yếu tố khác không thay đổi thì sẽ có hiện tượng tăng lên của lượng cung

Nếu giá cả của hàng hoá đó giảm xuống và các yếu tố khác không đổi thì sẽ có hiện tượng giảm xuống của lượng cung

- Nếu thay đổi từ điểm A đến B : đường cung di chuyển theo hướng tăng (tăng

Hình 2.13: Sự di chuyển của đường cung

Trang 36

30

lượng cung) Nếu ngược lại từ B về A: đường cung di chuyển theo hướng giảm (giảm lượng cung)

- Khi giá hàng hoá đang xét (PX) thay đổi sẽ làm đường cung di chuyển

- Khi đường cung di chuyển sẽ làm thay đổi theo hướng tăng hoặc giảm lượng cung hàng hoá dịch vụ trên thị trường

b Sự dịch chuyển của đường cung

Sự dịch chuyển đường cung là sự thay đổi toàn bộ đường cung từ vị trí này sang

vị trí khác

- Khi các yếu tố phi giá (ngoại sinh) như: giá cả yếu tố đầu vào, trình độ công nghệ kỹ thuật, chính sách của chính phủ, số lượng người sản xuất thay đổi sẽ làm S dịch chuyển

- Nếu dịch chuyển lên xuống dưới về phía phải (từ S sang S1): S dịch chuyển theo hướng tăng (tăng cung) Nếu dịch chuyển lên trên về phía trái (từ S sang S2): S dịch chuyển theo hướng giảm (giảm cung)

- Khi S dịch chuyển tăng sẽ gây ra 2 hệ quả: hoặc lượng cung sẽ cao hơn trước với mức giá như cũ, hoặc giá sẽ thấp hơn ở lượng cung như cũ Nếu S dịch chuyển

giảm sẽ gây ra hệ quả ngược lại

Tóm lại: Nghiên cứu đúng đắn sự dịch chuyển, di chuyển đường cầu, đường cung

có ý nghĩa lớn đối với Nhà nước và doanh nghiệp là đưa ra các giải pháp tác động đúng đắn và chính xác để nâng cao hiệu quả sản xuất, tiêu dùng, kiểm soát, điều tiết thị trường

Hình 2.14: Sự dịch chuyển của đường cung

Trang 37

31

2.1.3 Cân bằng cung cầu trên thị trường

2.1.3.1 Trạng thái cân bằng cung cầu

Giả định rằng, hoạt động của người sản xuất và người tiêu dùng độc lập với nhau thì đối với người sản xuất sẽ hoạt động theo luật cung Nghĩa là khi giá tăng thì họ bán nhiều, khi giá giảm họ bán ít đi và họ bao giờ cũng muốn bán đắt

Còn đối với người tiêu dùng thì hoạt động theo luật cầu, nghĩa là hàng hoá dịch vụ tăng thì họ sẽ mua ít đi và ngược lại, họ luôn luôn muốn mua rẻ Do đó, người sản xuất và người tiêu dùng luôn trái ngược nhau và điều này được giải quyết khi điểm cân bằng thị trường E này thì lượng cung của các nhà sản xuất (QS) bằng với lượng cầu của người tiêu dùng (QD)

- Trạng thái cân bằng là trạng thái tại đó tổng lượng cung bằng tổng lượng cầu hàng hoá dịch vụ Tại đây, người sản xuất thì bán hết hàng và người tiêu dùng mua đủ hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của mình Nếu thể hiện trên đồ thị thì đây là điểm cắt nhau giữa đường cầu, đường cung Đó chính là điểm cân bằng của thị trường E (bao gồm giá và lượng cân bằng)

- Từ trạng thái cân bằng (điểm cân bằng) ta xác định được giá và lượng cân bằng trên thị trường Đây chính là cơ chế hình thành giá thị trường hàng hoá dịch vụ Điều đó có nghĩa là, trong cơ chế thị trường tự do, giá của hàng hoá dịch vụ đều được hình thành trước hết do quan hệ cung cầu hàng hoá dịch vụ đó

- Ở trạng thái cân bằng thị trường, việc phân bố và khai thác, sử dụng các nguồn lực là có hiệu quả, phân phối thoả đáng lợi ích giữa người sản xuất, người tiêu dùng và

Quan hệ cầu cung Thiếu hụt Cân bằng Dư thừa Dư thừa

Trên đồ thị dưới đây (Hình 2.15), ta thấy điểm E là điểm cân bằng, từ điểm E ta tìm được giá cân bằng (PE = 3 triệu đ/tấn) và lượng cân bằng (QE = 40 tấn/ngày)

Trang 38

32

2.1.3.2 Trạng thái dư thừa và thiếu hụt

Có hai nguyên nhân làm cung cầu không cân bằng, đó là:

- Nếu cung lớn hơn cầu dẫn đến dư thừa hàng hoá dịch vụ trên thị trường (thể hiện trên đồ thị) Đây là trạng thái dư cung và trên thị trường luôn có sức ép giảm giá

Trang 39

33

2.1.3.3 Trạng thái cân bằng mới

Cân bằng thị trường không phải là một trạng thái cân bằng vĩnh cửu mà nó có thể thay đổi khi các yếu tố của cung và cầu thay đổi Các yếu tố đó thay đổi sẽ làm dịch chuyển đường cung và dịch chuyển đường cầu Kết quả là các trạng thái cân bằng mới được thiết lập Đó là các tình huống sau đây:

* Trường hợp 1: Tác động của sự dịch chuyển đường cung (cầu không đổi, cung

dịch chuyển)

Các yếu tố xác định cầu không đổi -> đường cầu (D) cố định

Cung thay đổi có nghĩa là các yếu tố xác định cung thay đổi -> đường cung S dịch chuyển từ S sang S1 và đường cung S1 cắt D tại E1(PE1, QE1)

Ví dụ: Đường cầu D không đổi, trong khi đó:

Trang 40

34

- Giá đầu vào Pi giảm thì đường cung S sẽ dịch chuyển theo hướng tăng S sang S2

- Do Nhà nước tăng thuế theo kiểu sản xuất bán ra 1 sản phẩm thì phải đóng thuế t nên chuyển từ S -> S1 theo hướng giảm 1 đoạn bằng thuế t tạo nên E1

P = PE1 - PE < t

Trong một thị trường lành mạnh thì mức tăng của giá không bao giờ vượt quá hoặc bằng thuế và bao giờ cũng nhỏ hơn thuế (t)

Vậy ai chịu thuế?

Khi không có thuế thì cả người mua và người bán theo giá PE (giá được hình thành do quan hệ cầu cung)

Khi có thuế thì người mua vẫn mua theo giá PE1 (mới), so với sự cân bằng ban đầu thì người mua chịu PE1 - PE = t/2 (nếu sự phản ánh của người tiêu dùng như nhau)

Còn người bán vẫn bán theo giá PE1 nhưng cứ bán 1 sản phẩm thì anh ta phải trừ

đi thuế:

PE1 - t = PS (PS là giá mà người sản xuất thực sự nhận được sau khi trừ thuế) PE -

PS = t/2 (người sản xuất chịu)

Như vậy, gánh nặng thuế sẽ đổ lên đầu của cả 2 người: người sản xuất và người tiêu dùng (phản ứng của người tiêu dùng và người sản xuất khi giá thay đổi là độ co giãn)

* Trường hợp 2: Tác động của sự dịch chuyển của đường cầu (Cầu thay đổi và

Ngày đăng: 24/11/2021, 11:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN