1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề Cương KINH TẾ HỌC VỀ CHI PHÍ GIAO DỊCH

20 50 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Tế Học Về Chi Phí Giao Dịch
Trường học Học Viện Nghiên Cứu và Phổ Biến Tri Thức Bách Khoa
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại Báo cáo học thuật
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 473,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 NHẬP MÔN KINH TẾ HỌC VỀ CHI PHÍ GIAO DỊCH 1 1 Một số khái niệm cơ bản 1 1 1 Thể chế kinh tế Thể chế kinh tế có thể được coi là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại song[.]

Trang 1

Chương 1: NHẬP MÔN KINH TẾ HỌC VỀ CHI PHÍ GIAO DỊCH

1.1.Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Thể chế kinh tế

- Thể chế kinh tế có thể được coi là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại song trùng với các bộ phận khác như: thể chế chính trị, thể chế gia đình, thể chế giáo dục, tôn giáo…

- Từ điển Kinh tế thị trường do Viện Nghiên cứu và Phổ biến Tri thức Bách khoa biên tập: thể chế kinh tế là hình thức cụ thể của phương thức, phương pháp, quy tắc của việc tổ chức vận hành kinh tế trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”

- Các quan điểm nêu trên được thống nhất ở một điểm cho rằng thể chế kinh tế là một

hệ thống bao gồm 3 bộ phận chính và sự vận hành động bộ của 3 bộ phận này: + Các quy định về kinh tế của nhà nước và các quy tắc xã hội được nhà nước công nhận + Hệ thống các chủ thể thực hiện các hoạt động kinh tế

+Các cơ chế, phương pháp, thủ tục thực hiện các quy định và vận hành bộ máy đó

Các yếu tố cơ bản cấu thành thể chế kinh tế

Các quy tắc tạo thành “luật chơi” kinh tế -Khung luật pháp về kinh tế

-Các quy tắc chuân mực xã hội về/hoặc liên quan đến kinh tế, kể cả các quy tắt hay chuẩn mực phi chính thức

Các chủ thể tham gia “trò chơi” kinh tế -Các cơ quan/tổ chức nhà nước về kinh tế

-Các doanh nghiệp Các tổ chức đoàn thể, hội, cộng đồng và người dân

Cơ chế thực thi “luật chơi kinh tế” -Cơ chế tự do cạnh tranh thị trường

-Cơ chế phân cấp quản lý kinh tế -Cơ chế phối hợp

-Cơ chế tham gia, giám sát và giải trình Nhiều ý kiến cũng cho rằng thể chế kinh tế vừa là tiền đề cơ bản của vận hành nền kinh tế vừa là điều kiện quan trọng của tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế

- Thể chế kinh tế liên quan tới mọi công đoạn của các hoạt động kinh tế, từ việc phân

bổ nguồn lực kinh tế cho tới quá trình phân bổ đầu ra của các hoạt động kinh tế

- Thể chế kinh tế là hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh chủ thể kinh

tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế

* Thể chế kinh tế bao gồm các yếu tổ chủ yếu:

- Các đạo luật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về kinh tế gắn với các chế tài xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh kinh doanh, cơ chế vận hành nền kinh tế

- Nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nên thể chế kinh

tế

Trang 2

1.1.2 Giao dịch kinh tế

Theo marketing: Nếu 2 bên cam kết trao đổi đã đàm phán và đạt được một thỏa thuận thì

ta nói một giao dịch đã diễn ra

Đặc tính của giao dịch

Hiệu quả của giao dịch có thể bị ảnh hưởng bởi bản chất của giao dịch.Các giao dịch kinh doanh khác nhau ở đặc tính và trong từng trường hợp cụ thể

- Bất định hoặc/và phức tạp: Tính bất định và phức tạp tồn tại trong hầu hết các giao dịch

kinh doanh, phạm vi và quy mô các yếu tố này tồn tại có thể khác nhau tùy vào từng giao dịch cũng như hậu quả của nó Chúng ta khó có thể biết chính xác kết quả cũng như khả năng xảy ra của các biến cố Đôi khi kết quả lại liên quan đến nhiều khía cạnh, con người

và sự kiện khác nhau và rất khó đánh giá

- Tần suất xuất hiện giao dịch: Một số giao dịch lặp đi lặp lại, một số khác lại chỉ xuất

hiện có một lần Đặc tính này ảnh hưởng đến hành vi của đối tác trong những cam kết lâu dài Điều này liên quan đến nhu cầu giữ chữ tín trong kinh doanh Cơm tù, các cửa hàng chặt chém trong các khu du lịch là những biểu hiện cụ thể của đặc điểm này

- Số lượng giao dịch: Số thành viên tham gia trong thị trường có thể khác nhau đáng kể

Số đông sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh Nhưng nếu số thành viên ít, tình huốngđộc quyền cho phép những hành vi cơ hội xảy ra dẫn đến chi phí giao dịch lớn Có những giao dịch chúng ta chỉ mua 1 lần và phải gắn bó với người bán trong một thời gian dài Có những nhà kinh doanh tận dụng đặc tính này để gây ra nhiều áp lực khó khăn cho người mua

- Tính chuyên dụng của tài sản: Khi giao dịch được hỗ trợ bởi những đầu tư chuyên biệt

hay đóng góp cho phát triển những kiến thức hay đào tạo chuyên biệt, tính chuyên dụng của tài sản hình thành Đầu tư chuyên biệt có nghĩa là đầu tư có phương án thay thế có giá trị thấp, hay chi phí cơ hội thấp Tương tự, bí quyết chuyên biệt hay đào tạo chuyên biệt rất cụ thể và khó có thể truyền cho người khác dễ dàng Có ba loại tài sản chuyên dụng: tài sản con người chuyên dụng, tài sản vật chất chuyên dụng và tài sản vị trí chuyên dụng Những tài sản chuyên dụng này gây ra các tình huống buộc (log in) và làm khó (hold up) cho các giao dịch Trong thực tế, có một số tài sản có khả năng chuyên biệt trong từng giao

dịch cụ thể Ví dụ, để in sách cần tới nhà máy in, chế tạo nữ trang cần thợ lành nghề, vv

Các tài sản này buộc người sử dụng tài sản cần có những thỏa hiệp phù hợp cho việc sử dụng tài nguyên Đối khi người sử dụng tài sản có thể bị buộc vào tài sản chuyên biệt, có lúc chính tài sản riêng biệt này làm khó người sử dụng tài sản Tất cả các hành vi này gây

ra chi phí giao dịch

1.1.2 Chi phí giao dịch

Chi phí giao dịch theo Wolfgang Kasper & Mảned E.Streit trong Kinh tế học thể chế Trật

tự xã hội và chính sách công thì: “Chi phí giao dịch: Là những chi phí mà người ta phải

bỏ ra khi trao đổi các quyền tài sản qua các giao dịch thị trường (dựa trên hợp đồng)

Đầu tiên, chi phí giao dịch bao gồm các chi phí tìm kiếm thông tin (tìm kiếm đủ số đối tác trao đổi, địa chỉ, mẫu mã sản phẩm, chất lượng, độ tin cậy cùng vô số khía cạnh liên quan khác trước khi đưa ra quyết định), cũng như các chi phí để đàm phán, ký kết và giám sát hợp đồng, và chi phí xử lý những hành vi vi phạm hợp đồng khả dĩ Chi phí tìm kiếm thông

Trang 3

tin và chuẩn bị hợp đồng là “chi phí chìm” (sunk cost) trước khi đi đến các quyết định giao dịch”

Từ những đặc điểm trên ta có thể tóm lại như sau:

“Chi phí giao dịch bao gồm thời gian và chi phí đàm phán, soạn thảo, và thực thi các giao dịch hay hợp đồng Chi phí này gia tăng khi đối tác trong giao dịch hành động cơ hội, nghĩa

là thu lợi cá nhân từ chi phí của người khác Vì vậy chi phí giao dịch sẽ bao gồm hậu quả của những hành vi cơ hội, sự yếu kém của người ra quyết định cũng như là chi phí ngăn ngừa hành vi này”

Theo Oliver E Williamson thì chi phí giao dịch được chia ra làm 2 loại là: chi phí giao dịch tiền suy xảy ra trước khi kí kết hợp đồng và chi phí giao dịch hậu suy xảy ra sau khi kí kết hợp đồng

Chi phí giao dịch tiền suy là là các chi phí soạn thảo, thương lượng, và bảo vệ hợp đồng Chi phí giao dịch hậu suy gồm một vài hình thức

- Các chi phí về sự thích nghi sai lầm phát sinh khi các giao dịch dịch chuyển dần khỏi tình trạng phù hợp

- Các chi phí mặc cả phát sinh khi thực hiện các nỗ lực chỉnh sửa các sai lầm phát sinh

- Các chi phí thành lập và điều hành gắn liền với các cấu trúc quản trị mà các vụ tranh chấp được đưa ra để giải quyết (thường không phải một tòa án, mà như một Ban một Nhóm đặc nhiệm được thành lập để giải quyết vấn đề)

- Các chi phí về cam kết (bonding costs) là chi phí thực hiện cam kết chắc chắn

1.2 Đối tượng nghiên cứu của Kinh tế học về chi phí giao dịch (TCE)

1.1.3 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp tiếp cận

Đối tượng nghiên cứu của Kinh tế học về chi phí giao dịch là các chi phi thực hiện Hợp đồng kinh tế, Nguồn gốc và bản chất các chi phí giao dịch trong thỏa ước kinh tế, cấu trúc hành vi của các chủ thể giao dịch là các hãng và vai trò của nhà nước

1.1.4 Các câu hỏi nghiên cứu then chốt của TCE

1.2 Các phương pháp tiếp cận môn học TCE

So sánh với các phương pháp khác về nghiên cứu tổ chức kinh tế, kinh tế học về chi phí giao dịch

- Có tính phân tích vi mô hơn

- Tự ý thức hơn về các giả định về hành vi của mình

- Giới thiệu và phát triển tầm quan trọng về kinh tế của tính chuyên dụng hay đặc thù của tài sản (asset specificity)

- Dựa nhiều hơn vào phân tích so sánh về thể chế

- Xem hãng (công ty) kinh doanh như là một cấu trúc quản trị chứ không phải là một hàm sản xuất đơn thuần

- Gắn tầm quan trọng lớn hơn cho các thể chế hậu suy (expost) của hợp đồng, nhấn

mạnh đặc biệt đến các trật tự (so với trật tự theo tòa án)

1.1.5 Kinh tế học hành vi

TCE tự ý thức hơn về các giả định về hành vi của mình

1.1.6 Tiếp cận vi mô

Trang 4

TCE có tính phân tích vi mô hơn Kinh tế học về chi phí giao dịch đặt vấn đề về tổ chức kinh tế thành vấn đề thiết lập các hợp đồng, một nhiệm vụ cụ thể cần được hoàn thành 1.1.7 Kinh tế học so sánh

TCE dựa nhiều hơn vào phân tích so sánh về thể chế

1.1.8 Cấu trúc tổ chức

Xem hãng (công ty) kinh doanh như là một cấu trúc quản trị chứ không phải là một hàm sản xuất đơn thuần

1.1.9 Tiếp cận phi thị trường

Gắn tầm quan trọng lớn hơn cho các thể chế hậu suy (expost) của hợp đồng, nhấn mạnh

đặc biệt đến các trật tự (so với trật tự theo tòa án)

Chương 2: GIAO DỊCH KINH TẾ

2.1 Bản chất của giao dịch kinh tế

2.1.1 Di chuyển nguồn lực

Sự di chuyển nguồn lực là tất yếu để giải quyết các vấn đề khan hiếm nguồn lực, sự chênh lệch về mức độ dồi dào và sẵn có của các nguồn lực giữa các địa phương, các thành phần kinh tế khác nhau.Để quá trình di chuyển nguồn lực được thực hiện phải hình thành nên các giao dịch kinh tế - một sự trao đổi qua lại nhằm thỏa mãn được nguồn lực và các lợi ích kinh tế của đôi bên

2.1.2 Phân bổ nguồn lực

Trong nền kinh tế tự nhiên, nhìn chung người sở hữu các nguồn lực thường cũng là người

sử dụng các nguồn lực đó Như nông dân sử dụng trâu bò, ruộng đất…nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong gia đình mình.Như thế việc phân bổ lại các nguồn lực rất ít khi được thực hiện và việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực diễn ra rất chậm chạp

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thì việc phân bổ nguồn lực được thực hiện theo

cơ chế hành chính, mệnh lệnh, nhằm đạt được các mục tiêu mà nhà nước đề ra

Trong nền kinh tế thị trường, việc phân bổ nguồn lực được thực hiện theo cơ chế thị trường, các quy luật thị trường như cạnh tranh, cung-cầu sẽ phân bổ nguồn lực Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế thị trường Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực và địa điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và thu được hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận cao hơn

2.1.3 Tối ưu hóa nguồn lực

Tối ưu hóa nguồn lực là điều doanh nghiệp nào cũng mong muốn, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tiết kiệm chi phí Điều này thực hiện thông qua việc trao đổi, phân bổ lại các nguồn lực, thêm mới hoặc loại bỏ nguồn lực không hiệu quả

2.2 Quá trình thiết lập, kiểm soát và thực thi các giao dịch

2.2.1 Trước giao dịch kinh tế

Các chi phí giao dịch phát sinh trước khi xảy ra kí kết hợp đồng gọi là các chi phí giao dịch

tiền suy (ex ante) Đây là các chi phí soạn thảo, thương lượng, và bảo vệ một hợp đồng

Công việc này được thực hiện hết sức cẩn thận, một văn kiện phức tạp sẽ được soạn thảo, trong đó, dự kiến nhiều tình huống bất ngờ (tình huống bất trắc) được công nhận và gồm

cả những sự điều chỉnh nếu các tình huống đó xảy ra sẽ được quy định rõ và được thỏa thuận trước Nếu văn bản này không hoàn chỉnh, những khoảng trống tồn tại sẽ được các

Trang 5

bên lấp đầy khi các tình huống bất ngờ phát sinh Thay vì phải dự liệu hết các tình huống

có thể xảy ra, việc này hết sức khó khăn, người ta có thể chỉ nói tới những tình huống thực

sự khó khăn và những cách dàn xếp khi nó xảy ra

Các biện pháp bảo vệ có thể dưới vài hình thức, hiển nhiên nhất là quyền sở hữu chung Thay vì những người mua bán độc lập sẽ trải qua những tình huống khó khăn về thiết lập thì các bên có thể thay thế thị trường bằng tổ chức nội bộ Cách này vẫn có những khó khăn riêng Các biện pháp bảo vệ giữa các hãng thuộc loại tiền suy có thể được xem như các báo hiệu về những cam kết đáng tin cậy, và phục hồi được tính toàn vẹn cho các giao dịch 2.2.2 Trong và hậu giao dịch kinh tế

Các chi phí hậu suy (ex post) của việc thiết lập hợp đồng có vài hình thức Các hình thức

này bao gồm:

(1) Các chi phí về sự thích nghi sai lầm phát sinh khi các giao dịch chuyển dịch dần dần

ra khỏi tình trạng lien kết phù hợp so với các đường biểu diễn mà Masahiko Aoki gọi

là “đường hợp đồng dịch chuyển”

(2) Các chi phí mặc cả phát sinh khi thực hiện các nỗ lực song phương để chỉnh sửa những tình trạng liên kết sai lầm xảy ra sau khi ký kết hợp đồng

(3) Các chi phí thành lập và điều hành gắn liền với các cấu trúc quản trị (thường không phải là các tòa án) mà các vụ tranh chấp đưa ra để giải quyết VD: thành lập ban giải quyết một tranh chấp, xử lí một khủng hoảng cụ thể

(4) Chi phí về cam kết (bonding costs) là chi phí thực hiện các cam kết chắc chắn

Yếu tố gây phức tạp trong tất cả quá trình này là các chi phí tiền suy và chi phí hậu suy của

hợp đồng phụ thuộc lẫn nhau, chúng phải được giải quyết đồng thời chứ không phải theo trình tự Ngoài ra, cả 2 loại chi phí này đều khó định lượng Khó khăn trong xác định chi phí này được giảm nhẹ khi các chi phí giao dịch luôn được đánh giá theo cách thức so sánh

về thể chế, trong đó một phương thức thiết lập hợp đồng được so sánh với một phương thức thiết lập hợp đồng khác

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giao dịch kinh tế

2.3.1 Các nhân tố thị trường

Thị trường càng phát triển thì số lượng các giao dịch kinh tế thực hiện càng lớn, và các giao dịch này cũng được thực hiện nhanh chóng và dễ dàng hơn

Các nhân tố thị trường chính

- Cung hàng hóa; Cầu hàng hóa; Giá cả; Cạnh tranh

2.3.2 Các nhân tố từ phía Nhà nước

- Tạo môi trường

- Điều chỉnh, khắc phục các khuyết tật của thị trường

Kết luận

Trong quá trình cạnh tranh nhằm phân bổ các nguồn lực sẽ hình thành nên các giao dịch kinh tế Chi phí giao dịch phát sinh từ trước, trong và sau các giao dịch kinh tế, đây là một lực ma sát, tuy nhiên lại tồn tại tất yếu, có tác dụng đảm bảo cho các giao dịch được thực hiện theo thỏa thuận

Trang 6

Chương 3: NGUỒN GỐC CỦA CÁC CHI PHÍ GIAO DỊCH

3.1 Thất bại của thị trường

3.1.1 Độc quyền

Do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của một số ngành độc quyền sẽ xuất hiện ngay cả khi kinh tế thị trường còn ở trình độ thấp Đây gọi là độc quyền tự nhiên VD: ngành điện lực, đường sắt…mang tính độc quyền tự nhiên Các ngành có rào cản gia nhập ngành càng lớn nguy

cơ xuất hiện độc quyền càng lớn.Sau đó, chính việc mở rộng quyền lực độc quyền của những hãng lớn đã tồn tại lâu dài và có tiếng tăm so với những đối thủ cạnh tranh thực sự hay tiềm năng

Nguồn gốc độc quyền:

Kinh tế:

- Lợi thế nhờ quy mô (độc quyền tự nhiên)

- Lợi thế nhờ phạm vi

- Không có sản phẩm thay thế

Pháp lý

- Quyền sở hữu trí tuệ

- Nhà nước cho phép (hợp thức hóa độc quyền tự nhiên hay phục vụ mục tiêu của nhà nước)

Kỹ thuật

- Ngoại tác mạng lưới

Chính trị

Độc quyền mang thiệt hại cho cả lợi ích người tiêu dung và xã hội Khi có độc quyền, người tiêu dùng buộc phải mua hàng hóa, dịch vụ với mức giá cao hơn mức cân bằng trên thị trường.Các nhà độc quyền không cung ứng hàng hóa, dịch vụ ở sản lượng tối ưu gây mất không lợi ích xã hội

3.1.2 Ngoại ứng tiêu cực

Hiện tượng ngoại ứng thường xuất hiện trong quá trình cung ứng hàng hóa, dịch vụ Một ngoại ứng tồn tại khi việc sản xuất hoặc tiêu dùng một mặt hàng ảnh hưởng đến các doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng không liên quan gì đến việc sản xuất hoặc tiêu dùng mặt hàng

đó, khi những ảnh hưởng tràn lan ra ngoài đó không được phản ánh đầy đủ trong giá cả thị trường Hiện tượng ngoại ứng không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng, mà còn gây mất không lợi ích xã hội vì các doanh nghiệp không cung ứng hàng hóa, dịch vụ ở sản lượng tối ưu vì nhà sản xuất hay người tiêu dùng chỉ quan tâm tới chi phí hay lợi ích cá nhân mà không quan tâm lợi ích hay chi phí xã hội Ngoại ứng dù là tích cực hay tiêu cực đều dẫn đến tổn thất xã hội vô ích Hệ quả của ngoại ứng tiêu cực là sản xuất hoặc tiêu dùng quá mức Hệ quả của ngoại ứng tích cực là sản xuất hoặc tiêu dùng bất cập

3.1.3 Hàng hóa công cộng

Là những gì mà khi người này đã tiêu dùng thì người khác vẫn tiêu dùng được Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp rất cần các hàng hóa công cộng nhưng doanh nghiệp lại không đầu tư để cung ứng những hàng hóa đó Để khắc phục khuyết tật này đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước, nhà nước phải đầu tư để cung ứng những hàng hóa đó

Trang 7

Hàng hóa công là thất bại của thị trường: Hàng hóa công thường có lợi ích lớn hơn chi phí

tạo ra Do vậy, về mặt xã hội đó là hàng hóa cần thiết được cung cấp Nhưng với 2 thuộc tính của hàng hóa công đã dẫn đến tình trạng người ăn theo Kết quả là tư nhân không chịu đầu tư, hàng hóa công không tồn tại

3.1.4 Chu kỳ kinh tế

Chu kì kinh tế và chu kì của các cuộc khủng hoảng hiện nay ngày càng ngắn lại, đồng nghĩa với việc con người sẽ ngày càng phải thường xuyên đối mặt với các giai đoạn thay đổi của nền kinh tế mà trầm trọng nhất là các cuộc khủng hoảng kinh tế Do những mất cân đối trong cung-cầu, mâu thuẫn xã hội tích tụ mà dần không được giải quyết dẫn đến nguy cơ bùng phát khủng hoảng Mỗi cuộc khủng hoảng đều để lại những thiệt hại nặng cho nền kinh tế và cần thời gian dài để phục hồi, làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế và gây nhiều thiệt hại to lớn

3.1.5 Công bằng xã hội, tính bền vững và mục tiêu phát triển con người

Tình trạng phân hóa giàu nghèo, sự nảy sinh của các tệ nạn xã hội, tình trạng khai thác và

sử dụng nguồn tài nguyên quá mức dẫn đến cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực đến các hoạt động kinh tế và đời sống dân cư

3.2 Thất bại của nhà nước

Thất bại (kinh tế) của nhà nước xảy ra khi sự can thiệp hay không can thiệp của nhà nước dẫn tới điểm cân bằng kém hiệu quả hơn so với hiện trạng) Thất bại này có thể dẫn tới phân bổ nguồn lực và hang hóa kém hiệu quả hơn và làm thất bại thị trường càng trở nên nghiêm trọng hơn hoặc sự không can thiệp của nhà nước khiến thất bại thị trường hay tình trạng mất công bằng không được sửa chữa

3.2.1 Lợi ích nhóm

- Phân bổ nguồn lực một cách vụ lợi do: củng cố sự ủng hộ chính trị và “chu kì chính trị”

- Nhóm đặc quyền đặc lợi ảnh hưởng đến các chính sách tái phân phối Thay vì tái phân phối bắt nguồn từ người giàu rồi chảy sang những người nghèo xứng đáng, nhưng thực tế những người năm quyền lực chính trị hay có tổ chức đủ tốt vẫn sử dụng quyền lực của mình khiến cho chính phủ tái phân bổ tài sản từ các cá nhân và các nhóm có ít hay không

có quyền lực sang cho mình

3.2.2 Tăng trưởng và ổn định

3.2.3 Phản ứng chính sách

Trong tình trạng thiếu thông tin thường khiến cho việc ra một chính sách hoàn hảo là bất khả thi, nhà nước thường điều chỉnh bẳng cách quan sát các phản ứng từ đối tượng chính sách sau khi chính sách ban hành Tuy nhiên, các thí nghiệm sửa sai này có những khuyết điểm là bấp bênh, hành vi cơ hội của nhà sản xuất ngoại ứng và chi phí chính trị, phát sinh các chi phí theo dõi và chi phí quản trị rất lớn

3.2.4 Độ trễ và tính bất định của chính sách can thiệp

- Độ trễ về dữ liệu (Data lags): Là độ trễ thường xảy ra trong việc thu thập dữ liệu liên quan đến tình hình kinh tế

- Độ trễ về đánh giá (Evaluation lags): Là độ trễ từ khi có thông tin đến khi thông tin được đánh giá và toàn cảnh về nền kinh tế được mô tả một cách rõ ràng

- Độ trễ về sự đồng thuận (Consensus lags): Là độ trễ từ khi chính sách được xây dựng cho đến khi nó được các cơ quan quyền lực cao nhất đồng thuận

Trang 8

- Độ trễ về thực hiện (Implementation lags): Là độ trễ từ khi chính sách được thông qua đến khi nó được thực hiện.Độ trễ này phụ thuộc nhiều vào tính chất của chính sách

- Độ trễ về sự phụ thuộc (Dependence lags): Là độ trễ mô tả những yếu tố ban đầu tập làm quen với những nguyên tắc mới của chính sách Nói chung ở giai đoạn này các chính sách này đang dè dặt phụ thuộc vào yếu tố nhanh hay chậm của ý thức cộng đồng trong việc thực hiện, vì đã quen với những ràng

buộc trước đây Đây chính là bước đệm để tiến đến sự nhất trí cao trong thực hiện chính sách mới

- Độ trễ về sự ảnh hưởng (Effectiveness lags): Là độ trễ từ khi chính sách được chuyển qua thực hiện một cách tích cực và đồng bộ đến khi nó có ảnh hưởng vào nền kinh tế.Độ trễ này cũng phụ thuộc vào tính chất của chính sách, chính sách tiền tệ có độ trễ lâu hơn chính sách tài khóa

3.3 Quyền sở hữu và sự hình thành chi phí giao dịch

3.3.1 Quyền sở hữu và những vấn đề bất cập trong giao dịch

Theo Bộ Luật Dân sư, Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định hoạt đối với tài sản.Kinh tế học thể chế phân biệt quyền sở hữu và quyền tài sản, ở đây quyền tài sản chính là quyền sử dụng và định đoạt tài sản đó.Cụ thể quyền sở hữu gồm ba phần: quyền sử dụng tài sản đó, quyền chiếm giữ làm của riêng thu nhập từ tài sản đó và quyền thay đổi hình thức và/hoặc nội dung của một tài sản

Đặt ra câu hỏi: liệu sự xác định sai lầm quyền sở hữu tài sản có phải là nguyên nhân của

sự phân bổ sai lầm nguồn lực hay không

Quyền sở hữu chung tồn tại trong các công ty, theo Ronald Coase, sự đóng góp tài sản của các cá nhân có xu hướng được phân bổ lại thông qua hợp đồng nếu nó là lợi thế chung của các bên, và không bị hạn chế bởi chi phí giao dịch Các thể chế được hình thành nhằm tận dụng các quyền sở hữu chung này và hạn chế các chi phí giao dịch của hợp đồng

3.3.2 Chi phí xác lập, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu

Chi phí loại trừ: (exclusion cost) phát sinh khi người ta muốn đảm bảo không một ai khác

sử dụng trái phép tài sản của mình Việc giữ tài sản thuần túy thụ động gây ra chi phí, chẳng hạn chi phí làm hàng rào, chi phí cho một cái khóa, hay password trước khi truy cập file máy tính, gác đêm, thuê cảnh sát, đăng kí bản quyền…

Nếu không tôn trọng bảo vệ quyền sở hữu tài sản – vốn cũng kéo theo quyền loại trừ người khác khỏi hành vi sử dụng tài sản đó và định đoạt nó theo ý mình – thì sẽ không tạo ra đủ động cơ để thúc đẩy vô số “nhà chuyên môn” trong xã hội đại chúng hiệu đại sản xuất ra những hàng hóa và dịch vụ mà người khác mong muốn

Chi phí phối hợp: (coordination cost) phát sinh khi các cá nhân tương tác với người khác

nhằm kết hợp các quyền tài sản mà mình sở hữu

Chi phí tổ chức: (organization cost) phát sinh khi người ta tìm cách kết hợp nguồn lực của

mình với nguồn lực của người khác trong phạm vi một tổ chức, nhằm theo đuổi mục đích chung Bao gồm các chi phí để thành lập tổ chức, thông tin liên lạc, lập kế hoạch, đàm phán

và giám sát việc thực thi nhiệm vụ trong phạm vi tổ chức

Khi các quyền tài sản được sử dụng chủ động, tức là, khi chúng được trao đổi hay kết hợp với các quyền tài sản trong yếu tố sản xuất do người khác nắm giữ, chi phí phối hợp sẽ tăng lên cùng với chi phí loại trừ Khi mọi người sử dụng các quyền tài sản của mình bằng

Trang 9

các hợp đồng trên thị trường, các chi phí này gọi là chi phí giao dịch Trước khi người ta hiểu được điều mình mong muốn và cách thức có thể trao đổi các quyền tài sản của mình với người khác, họ phải thu thập thông tin, đây thường là quá trình tốn kém và rủi ro Tiếp theo, họ phải thương lượng và đạt được hợp đồng Điều này gây thêm chi phí nguồn lực.Cuối cùng, việc thực thi hợp đồng phải được giám sát, lượng định và nếu cần thì phân

xử và chế tài.Những chi phí giao dịch này có thể tiết giảm được nhờ các thể chế, chẳng hạn như áp đặt chuẩn hóa các trọng lượng và kích thước

3.4 Thông tin bất cân xứng và sự hình thành chi phí giao dịch

3.4.1 Thông tin bất cân xứng và những vấn đề bất cập trong giao dịch

Thông tin bất cân xứng là tình trạng người mua và bán có các thông tin khác nhau

Lựa chọn ngược xảy ra khi trong một giao dịch, người bán hoặc người mua biết rõ hơn về một vài tính chất của sản phẩm mà đối tượng kia không biết Kết quả là thị trường chỉ còn tồn tại những sản phẩm có chất lượng xấu (lựa chọn “ngược”, hay “bất lợi”

Khi thông tin là bất cân xứng sẽ có nguy cơ xảy ra các rủi ro đạo đức Rủi ro đạo đức xảy

ra khi một cá nhân hay tập thể không chịu toàn bộ trách nhiệm hay hậu quả cho việc làm của mình, và vì vậy có biểu hiện ít cẩn thận hơn, và làm cho người khác phải chịu một phần trách nhiệm hay hậu quả việc làm của mình

Khi có tình trạng thông tin là bất cân xứng giữa các bên giao dịch sẽ dẫn đến hiện tượng các bên không tuân thủ theo đúng hợp đồng, không cung cấp những hàng hóa đúng quy cách chuẩn mực, hoặc bên mua không tìm được đúng hàng hóa, dịch vụ mà họ cần thiết Tất cả điều này gây chi phí giao dịch tăng cao và gây ra những thất bại thị trường như thị trường chỉ còn hàng xấu hoặc không tồn tại, tổn thất phúc lợi xã hội

3.4.2 Chi phí thông tin

Chi phí thông tin là một loại chi phí tốn kém.Ngay khi mới trù tính về một giao dịch kinh doanh người ta đã phải nắm bắt một khối lượng tri thức lớn.Những loại hàng hóa dịch vụ nào đang hiện hữu, ai đang sở hữu chúng? Chúng sẽ được chào bán hay chào vay mượn theo điều kiện nào? Những biến đổi đối với hàng hóa và dịch vụ hiện hành liệu có khả thi không? Ai sẽ tạo nên những biến đổi cần thiết… Một khi thu thập xong tất cả thông tin này

ta cần đánh giá Sau đó, toàn bộ nỗ lực có thể đi đến kết luận là giao dịch dự tính không có lợi ích đầy đủ và không thực hiện được.Đây là trường hợp nghịch lí thông tin Chúng ta không thể tối ưu hóa việc tìm kiếm thông tin vì không thể xác định giá trị của một thông tin trước khi nắm được nó Thường họ thu thập thông tin dựa trên kinh nghiệm, và ra quyết định một cách mạo hiểm

Chi phí thông tin có xu hướng tương đối thấp khi tận dụng được kinh nghiệm từ quá khứ, chi phí này cao hơn đối với những yếu tố mới, sẽ phải được thử nghiệm.Ở đâu mà chi phí tìm kiếm thông tin cao, ở đó hoạt động trao đổi song phương của cá nhân trở nên phức tạp Khi các chủ thể kinh tế thu thập xong thông tin đủ để quyết định một giao dịch nào đó, sẽ đến chuỗi các chi phí như chi phí đàm phán, ký kết,, giám sát, và chế tài hợp đồng Đây là loại chi phí lắm đi lắm lại mà Ronald Coase cho rằng, chi phí này có thể được tiết kiệm thông qua các thể chế

Các thể chế phù hợp có thể giúp tiết kiệm chi phí tìm kiếm thông tin thích hợp và chi phí giao dịch kinh doanh Hoạt động thông tin liên lạc trở nên rẻ hơn không chỉ nhờ tiến bộ kỹ thuật mà còn nhờ quá trình phát triển thể chế

Trang 10

Ví dụ: Bà A đang có một số tiền 5000USD rảnh rỗi cần cho vay trong 2 năm, những người

mà bà biết chắc chắn về khả năng trả nợ thì lại không có nhu cầu vay, mà những người bà

có thể cho vay bà lại chưa biết rõ về họ Để đi đến quyết định có cho vay hay không bà cần một thời gian, công sức và chi phí để tìm hiểu về những người này Đây chính là một loại chi phí thông tin cần phải bỏ ra để đi đến quyết định kinh tế

Tuy nhiên, cùng là số tiền 5000USD nhưng với mức độ chuyên môn của một ngân hàng,

họ có thể nhanh chóng thẩm định và ít tốn kém hơn khi ra quyết định là có thể cho vay hay không số tiền này cho một người có nhu cầu.Chi phí để người có nhu cầu cho vay và người

có nhu cầu vay cũng trở nên ít hơn, họ gặp nhau một cách dễ dàng hơn

Các thể chế góp phần biến những khía cạnh cụ thể của hợp đồng thành những thủ tục chuẩn hóa, qua đó giúp tiết kiệm chi phí thông tin và chi phí tái đàm phán Điều này đem lại nhiều

cơ hội khai thác tài sản khác dễ dàng hơn đối với chủ tài sản

3.5 Chất lượng “hàng hóa” giao dịch

3.5.1 Hiện tượng ẩn chi phí

Hiện tượng ẩn chi phí là những chi phí phát sinh mà quá trình trước khi hình thành “hợp đồng” các bên giao dịch do thiếu thông tin đã không thể lường trước được sự phát sinh này 3.5.2 Cam kết chất lượng

Chi phí này để đảm bảo chất lượng của hàng hóa, những hàng hóa có cam kết chất lượng thường có chi phí cao hơn, cũng mang lại sự chắc chắn về chất lượng hàng hóa tuân thủ hợp đồng hơn

Hợp đồng tự chế tài: quy định những cam kết đáng tin cậy Chúng dựa vào những công cụ

đảm bảo cho việc hoàn thành hợp đồng mà không cần tới sự chế tài chính thức (tốn kém), bất chấp những cám dỗ lẩn tránh nghĩa vụ hợp đồng luôn hiện hữu Ví dụ là hình thức “ăn miếng trả miếng”, sự tạo dựng danh tiếng, và việc quy định một hình thức đảm bảo (đưa

ra “con tin”) hay dựa vào một trung gian khiến cho các cam kết trở nên đáng tin cậy hơn Trên thực tế là các tài sản đảm bảo, tài sản cầm cố, các đại diện bảo lãnh là các dạng cam kết hợp đồng phổ biến

3.5.3 Chi phí phát sinh từ chất lượng “hàng hóa” giao dịch

Chất lượng hàng hóa sẽ gây phát sinh chi phí khi hàng hóa không đảm bảo như theo thỏa thuận hợp đồng

- Hàng bán bị trả lại do chất lượng không đảm bảo phát sinh các chi phí lưu giữ, tiêu hủy, chi phí vận chuyển, liên lạc, chi phí hành chính, quản lí, và một số chi phí vô hình liên quan uy tín công ty

Chương 4: TÁC ĐỘNG CỦA CHI PHÍ GIAO DỊCH ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÂN

BỔ CÁC NGUỒN LỰC

4.1 Cung cầu và giá cả hàng hóa trong trường hợp không có chi phí giao dịch

4.1.1 Quá trình định vị giá cả trên thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, theo những giả định của kinh tế học vi mô thị trường là hiệu quả, không có chi phí giao dịch thì giá cả do cung cầu quyết định Nếu có sự thay đổi nào

đó về phía cầu và phía cung sẽ tạo nên sức ép tăng giá hoặc giảm giá, thị trường sẽ ổn định

ở vị tri mới với giá bán và sản lượng mới

Ngày đăng: 26/01/2023, 04:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w